Xu Hướng 3/2024 # 14 Bài Dàn Ý Thuyết Minh Chiếc Nón Lá Việt Nam Mới Nhất # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 14 Bài Dàn Ý Thuyết Minh Chiếc Nón Lá Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào hình ảnh chiếc nón lá Việt Nam.

2. Thân bài

a. Khái quát chung

Nón được dùng để che nắng mưa cho người nông dân.

Chiếc nón có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 – 3000 năm.

Nón lá gần với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi.

b. Phân loại

Có rất nhiều loại nón: Nón dấu, nón gò găng hay nón ngựa, nón rơm, nón quai thao, nón cời, nón Gõ, nón lá Sen, nón thúng, nón khua, nón chảo, nón cạp, nón bài thơ,…

c. Quy trình đan nón

Với cây mác sắc, người thợ nghề chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy.

Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng.

Người ta chặt những bé lá còn búp, cành bé lá có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón.

Bé lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng, dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của nón.

Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, người ta phết phía ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong.

d. Vai trò của nón lá

Họ hàng nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt Nam.

Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề.

Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, gần đây nón Gò Găng còn được xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người.

3. Kết bài

Khái quát lại vai trò, tầm quan trọng của cây lúa đối với đời sống con người.

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào hình ảnh chiếc nón lá Việt Nam.

Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của mình.

2. Thân bài

a. Lịch sử hình thành nón lá

Hình ảnh chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịch từ những năm 2000-3000 trước công nguyên.

Ngày nay, nón lá vẫn là một sản phẩm thủ công được duy trì tại những làng nghề nổi tiếng.

b. Cách làm nón lá

Nón lá được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Lá phải là lá khô, được xử lí đặc biệt. Lá được chọn phải là non vừa với gân lá xanh và màu lá trắng. Sau khi được hơ trên bếp than và phơi sương khoảng 4 tiếng, nón lá sẽ có màu trắng xanh và hiện rõ vân lá màu xanh nhẹ.

Khâu làm vành nón người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm, dẻo dai và chuốt tỉ mỉ để đến khi nào có thể uốn cong mà không sợ gãy. Sau đó sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn.

Người thợ phải chằm nón bằng sợi cước dẻo thật đều tay, sau đó cố định nón bằng nan tre đã uốn khéo thành vòng tròn, cuối cùng cố định chóp nón.

Cuối cùng là quét vài lớp dầu bên ngoài lớp lá để nón thêm bóng đẹp và cài thêm dải lụa làm quai đeo để nón thêm duyên dáng.

c. Công dụng của nón lá

Nón lá vừa có tác dụng che mưa che nắng giúp cho người nông dân bảo vệ được phần nào sức khỏe của mình khi đi làm ở đồng ruộng.

Nón lá còn tô điểm cho vẻ yêu kiều, trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam ta bên cạnh tà áo dài và trở thành quà tặng mang đậm truyền thống văn hóa dành cho khách du lịch nước ngoài, trở thành món đồ lưu niệm lưu giữ những nét đẹp của đất nước và con người Việt Nam.

3. Kết bài

Khái quát lại vẻ đẹp, hình ảnh của chiếc nón lá Việt Nam.

1. Mở bài:

– Giới thiệu về chiếc nón lá.- Chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng cho văn hóa Việt Nam.

2. Thân bài:

– Nón lá có nguồn gốc từ đâu, khi nào?

+ Ước chừng thời gian xuất hiện khoảng 2500 – 3000 TCN.

+ Có rất nhiều làng nghề truyền thống khâu nón lá đã hình thành và phát triển lâu đời như làng nghề Đồng Vy, Dạ Lê,…

– Nguyên liệu để tạo nên nón lá: Tre, lá cọ hoặc lá dừa

– Cách tạo nên chiếc nón lá

+ Chiếc nón lá được tạo nên từ hai phần bao gồm khung tre và lá nón. Khung tre được tạo thành từ những chiếc nan tre vót tròn đều, nhẵn mịn. Sau đó được uốn thành vòng tròn nhỏ dần để tạo nên khung nón.

+ Bước tiếp theo, ghép lá nón lên khung tre đã được đan sẵn thành hình chóp nhọn và tiến hành khâu nón. Sợi chỉ khâu nón phải là loại dây trong suốt nhưng cực kì chắc chắn để tạo được nét thẩm mỹ duyên dáng cũng như sự bền đẹp cho chiếc nón lá.

– Có mấy loại nón lá?

+ Có thể chia nón thành hai loại khác nhau bao gồm nón lá hình chóp và nón quai thao.

+ Ngoài ra người ta cũng chia ra làm nón lá Huế và nón lá truyền thống.

– Công dụng và cách bảo quản nón

+ Che nắng mưa cho con người khi đi làm đồng trong những ngày hè oi ả hay trong những ngày mưa dầm.

+ Làm duyên hơn cho những cô gái bên cạnh tà áo dài thướt tha, duyên dáng Việt Nam.

+ Sử dụng trong những dịp lễ hát đối đáp giao duyên của miền quan họ Bắc Ninh.

+ Cách bảo quản nón: Phết lên trên lớp lá nón ngoài cùng một lớp dầu bóng, vừa làm tăng độ bóng đẹp cho chiếc nón vừa giữ cho chiếc nón không bị mối mọt bởi côn trùng.

– Khẳng định vai trò, ý nghĩa của chiếc nón trong văn hóa của người Việt Nam.

– Hình ảnh chiếc nón lá là hình ảnh ghi lại dấu ấn đẹp đẽ không chỉ của người dân Việt Nam mà còn trong mắt du khách và bạn bè quốc tế.

1. Mở bài:

Giới thiệu khái quát về đối tượng cần thuyết minh – chiếc nón lá Việt Nam

2. Thân bài

a. Nguồn gốc và lịch sử ra đời của nón lá

– Hình ảnh của chiếc nón lá đã xuất hiện từ rất sớm, vào khoảng 2500 – 3000 năm trước công nguyên, trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và trên những thạp đồng Đào Thịnh.

– Ngày nay, trên khắp cả nước ta, vẫn còn lại nhiều làng nghề làm nón truyền thống.

b. Những đặc điểm chủ yếu của nón lá

– Nón lá được làm từ nhiều loại lá khác nhau như lá cọ, rơm, lá tre, lá buông,… và nhiều nhất lá lá nón

– Thường có hình chóp nhọn, có chiều cao khoảng 25-35 xăng-ti-mét song có một số loại nón – nhất là nón quai thao thường rộng bản hơn và đỉnh phẳng hơn.

– Nón lá thường được có quai nón – làm bằng nhung hoặc lụa đi kèm để giữ nón thăng bằng, không bị bay đi.

c. Cách làm nón lá

– Làm khung nón: Khung nón thường có hình chóp và được làm bằng gỗ, tùy theo mỗi vùng miền, mỗi loại nón mà có những khung nón khác nhau

– Chuốt tre và làm vành nón: tre để làm vành nón phải là tre tươi, chúng được chuốt nhẵn bóng, uốn thành hình vòng tròn, có đường kính lớn bé khác nhau, để khi ghép chúng lại với nhau có thể tạo thành hình chóp của nón

– Xếp vành nón vào khung nón, sau đó phủ lá nón lên bên ngoài và bắt đầu khâu chúng lại với nhau.

– Sau khi đã khâu xong các lớp lá người ta thường dùng một lớp dầu quét lên trên bề mặt của nón.

– Ngày nay, bên trong của nón lá người ta còn khâu thêm vào đây những bức tranh thiếu nữ hay danh lam, thắng cảnh của Việt Nam.

d. Vai trò, vị trí của nón lá trong đời sống sinh hoạt, tinh thần của người dân Việt Nam

– Che mưa, che nắng hằng ngày

– Xuất hiện trong đám cưới – là vật dụng không thể thiếu của cô dâu khi về nhà chồng

– Góp phần điểm tô vẻ đẹp duyên dáng, dịu dàng của người phụ nữ Việt

– Nón lá như trở thành một món quà, một vật kỉ niệm mà những du khách nước ngoài khi tới thăm Việt Nam muốn mang về đất nước mình.

– Nguồn cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa,…

3. Kết bài

Khái quát lại đặc điểm, ý nghĩa của chiếc nón lá và nêu cảm nghĩ của bản thân về chiếc nón lá Việt Nam.

1. Mở bài:

– Giới thiệu về chiếc nón lá.

– Chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng cho văn hóa Việt Nam.

2. Thân bài:

– Nón lá có nguồn gốc từ đâu, khi nào?

+ Ước chừng thời gian xuất hiện khoảng 2500 – 3000 TCN.

+ Có rất nhiều làng nghề truyền thống khâu nón lá đã hình thành và phát triển lâu đời như làng nghề Đồng Vy, Dạ Lê,…

– Nguyên liệu để tạo nên nón lá: Tre, lá cọ hoặc lá dừa

– Cách tạo nên chiếc nón lá

+ Chiếc nón lá được tạo nên từ hai phần bao gồm khung tre và lá nón. Khung tre được tạo thành từ những chiếc nan tre vót tròn đều, nhẵn mịn. Sau đó được uốn thành vòng tròn nhỏ dần để tạo nên khung nón.

+ Sau đó, bộ khung này được xếp lên từng lớp lá nón. Những chiếc lá này đều phải trải qua những giai đoạn chọn lọc khắt khe để lựa ra những chiếc lá tốt nhất. Sau đó, lá nón được đem đi phơi khô, sấy và ủi kĩ.

+ Bước tiếp theo, ghép lá nón lên khung tre đã được đan sẵn thành hình chóp nhọn và tiến hành khâu nón. Sợi chỉ khâu nón phải là loại dây trong suốt nhưng cực kì chắc chắn để tạo được nét thẩm mỹ duyên dáng cũng như sự bền đẹp cho chiếc nón lá.

– Có mấy loại nón lá?

+ Có thể chia nón thành hai loại khác nhau bao gồm nón lá hình chóp và nón quai thao.

+ Ngoài ra người ta cũng chia ra làm nón lá Huế và nón lá truyền thống.

– Công dụng và cách bảo quản nón

+ Che nắng mưa cho con người khi đi làm đồng trong những ngày hè oi ả hay trong những ngày mưa dầm.

+ Làm duyên hơn cho những cô gái bên cạnh tà áo dài thướt tha, duyên dáng Việt Nam.

+ Sử dụng trong những dịp lễ hát đối đáp giao duyên của miền quan họ Bắc Ninh.

+ Cách bảo quản nón: Phết lên trên lớp lá nón ngoài cùng một lớp dầu bóng, vừa làm tăng độ bóng đẹp cho chiếc nón vừa giữ cho chiếc nón không bị mối mọt bởi côn trùng.

3. Kết bài:

– Khẳng định vai trò, ý nghĩa của chiếc nón trong văn hóa của người Việt Nam.

– Hình ảnh chiếc nón lá là hình ảnh ghi lại dấu ấn đẹp đẽ không chỉ của người dân Việt Nam mà còn trong mắt du khách và bạn bè quốc tế.

I. Mở bài: Khái quát về chiếc nón lá Việt Nam.

Khi nhắc đến người phụ nữ Việt Nam thường xuất hiện những chiếc nón lá, hình ảnh những chiếc nón lá và tà áo dài duyên dáng gần gũi quen thuộc để lại những ấn tượng sâu đậm cho bất kì ai ngắm nhìn. Chiếc nón lá cũng là một trong những biểu tượng cho con người Việt Nam.

II. Thân bài:

1. Nguồn gốc

– Nón lá ra đời từ rất lâu, hình ảnh nón lá đã từng xuất hiện trên trống đồng Ngọc Lũ từ hàng ngàn năm trước khi người xưa biết dùng lá từ thiên nhiên làm vật che nắng che mưa.

– Theo thời gian chiếc nón là duy trì đến ngày nay với nhiều làng nghề trên cả nước.

2. Cấu tạo nón lá

– Hình dạng nón lá hình chóp hay tù, khung nón lá cấu tạo từ nhiều nan tre nhỏ được uốn hình vòng cung được ghim lại bằng sợi chỉ, sợi cước,… giúp nón lá có khung bền chắc chắn.

– Nón lá được đan bằng các loại lá chuyên dùng như lá cọ, lá nón, lá buông, lá dừa…

– Trên nón lá còn có dây đeo thường làm bằng vải mềm hoặc nhung, lụa.

3. Hướng dẫn cách làm nón lá

– Chọn lá, ủi lá: chủ yếu sử dụng lá dừa và lá cọ làm nguyên liệu để làm nón lá.

– Chuốc vành, lên khung lá, xếp nón:công đoạn này do những người thợ làm nón chuyên nghiệp thực hiện.

– Chằm nón: sau khi xếp lá lên bắt đầu chằm nón. Nón được chằm bằng sợi nilông chắc chắn, không màu vừa bền vừa tạo tính thẩm mỹ.

4. Công dụng nón lá

– Chiếc nón lá giúp che nắng che mưa, hoặc dùng để người nông dân quạt mát khi làm đồng.

– Sử dụng trong nhiều tiết mục nghệ thuật, trình diễn.

5. Các làng nghề làm nón có tiếng

– Chủ yếu các làng nghề có thương hiệu tập trung tại Huế.

– Làng nón Đồng Di (Phú Vang, Huế).

– Làng nón Dạ Lê (Hương Thủy, Huế ).

– Làng Chuông (Hà Nội).

6. Cách bảo quản

– Sau khi sử dụng treo chỗ khô thoáng để tránh bị ẩm mốc.

– Tránh va đập mạnh có thể gây hỏng nón lá.

– Không phơi ngoài nắng, mưa thời gian dài gây hỏng nón lá.

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về hình ảnh chiếc nón lá.

– Chiếc nón lá là vật dụng quen thuộc gắn bó với nhiều người dân Việt Nam.

– Nón lá còn là biểu tượng không thể thay thế trong văn hóa người Việt.

1. Mở bài

Giới thiệu vài nét về chiếc nón lá Việt Nam.

2. Thân bài

a. Cấu tạo

Các cấu tạo chung như hình dáng, màu sắc, vật liệu làm nón lá,…

Làm (chằm) nón:

+ Sườn nón sẽ được làm bằng các nan tre. Các nan tre sẽ được uốn thành vòng tròn. Đường kính vòng tròn lớn nhất khoảng 40 – 50 cm. Các vòng tròn sẽ nhỏ dần, từ ngoài vào trong đến trung tâm chiếc nón.

+ Chằm nón: đặt lá lên sườn nón rồi dùng dây cước và kim khâu để chằm nón tạo thành hình chóp.

+ Xử lý lá: lá cắt về phơi khô, xén tỉa theo kích thước phù hợp.

+ Trang trí: sau cùng là công đoạn trang trí, người làm sẽ quét một lớp dầu bóng để chống nắng, mưa cũng như làm đẹp.

Các địa điểm làm nón lá nổi tiếng: các địa điểm làm nón lá nổi tiếng tại nước ta: Huế, Quảng Bình, Hà Tây (làng Chuông),…

b. Công dụng

– Chiếc nón lá có ý nghĩa giá trị vật chất và giá trị tinh thần đối với con người.

Trong cuộc sống nông thôn: Người ta dùng nón khi nào? công dụng gì? Những hình ảnh đẹp gắn liền với chiếc nón lá.

Sự gắn bó giữa chiếc nón lá và người dân ngày xưa: Trong câu thơ, ca dao: nêu các ví dụ. Câu hát giao duyên: nêu các ví dụ

– Trong cuộc sống hiện đại: Trong sinh hoạt hàng ngày và trong các lĩnh vực khác (Nghệ thuật, du lịch).

c. Bảo quản

Chiếc nón lá phủ lên 2 mặt 1 lớp nhựa thông pha với dầu hỏa. Cóp nón khâu thêm 1 mảnh vải nhỏ để bảo vệ khỏi va quệt trầy xước khi sử dụng.

3. Kết bài

Đưa ra nhận định về vai trò, cũng như cảm nghĩ về chiếc nón lá trong đời sống con người Việt Nam.

I. Mở bài

– Giới thiệu vật cần thuyết minh: Chiếc nón lá Việt Nam

II. Thân bài

1. Lịch sử, nguồn gốc

– Nguồn gốc: xuất hiện trên mặt trống đồng 2500-3500 TCN

2. Cấu tạo chiếc nón lá

– Hình dáng chiếc nón: Hình chóp

– Các nguyên liệu làm nón:

+ Mo nang làm cốt nón

+ Lá cọ để lợp nón

+ Nứa rừng làm vòng nón

+ Dây cước, sợi guột để khâu nón

+ Ni lông, sợi len, tranh ảnh trang trí.

– Quy trình làm nón:

+ Phơi lá nón rồi trải trên mặt đất cho mềm, sau đó là phẳng

+ Làm 16 vòng nón bằng cật nứa, chuốt tròn đều

+ Khâu nón: Đặt lá lên khuôn, dùng sợi cước khâu theo 16 vòng để hoàn thành sản phẩm. Khâu xong phải hơ nón bằng hơi diêm sinh.

3. Phân loại:

– Nón lá có nhiều loại như nón Huế, nón Nghệ An, nón quai thao,…

– Các nơi làm nón ở Việt Nam: Huế, Quảng Bình. Nổi tiếng là nón làng Chuông – Hà Tây

4. Tác dụng, ý nghĩa:

– Tác dụng: Che nắng, che mưa làm duyên cho các thiếu nữ, có thể dùng để múa, làm quà tặng.

– Ý nghĩa: Hình ảnh chiếc nón đã đi vào thơ ca và là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam

Cách bảo quản: không dùng để quạt

III. Kết bài

– Nêu tình cảm, cảm xúc và khẳng định vai trò của chiếc nón

I. Mở bài

– Trong lao động sản xuất cũng như trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, chiếc nón lá luôn gắn bó với người Việt Nam.

– Nón có rất nhiều tác dụng đối với cuộc sống của con người.

II. Thân bài

1. Lịch sử về chiếc nón lá

– Nón lá xuất hiện đã rất lâu. Nó đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ và trống đồng Đông Sơn từ mấy ngàn năm về trước.

– Tuy đã có sự thay đổi ít nhiều nhưng nón lá vẫn giữ được hình dáng và công dụng của nó.

2. Cấu tạo

– Nón lá được làm bằng nhiều loại lá khác nhau nhưng chủ yêu là lá cọ, lá nón, lá kò, lá dừa,…

– Nón gồm phần nón và phần quai.

– Nón có nhiều hình dáng nhưng ở việt Nam thì nón lá thường có hình chóp nhọn hay hơi tù.

– Người ta làm một cái khung hình chóp nhọn hay hình chóp hơi tù. Sau đó chuốt từng thanh tre tròn nhỏ rồi uốn thành các vòng tròn có đường kính to nhỏ khác nhau.

– Một cái nón để người lớn đội đầu có 16 vòng tròn xếp cách đều nhau trên khung. Vòng tròn to nhất có đường kính là 50cm. Vòng tròn nhỏ nhất có đường kính khoảng 1cm.

– Lá nón được phơi khô, là (ủi) phẳng bằng khăn nhúng nước nóng hoặc bằng cách đặt một miếng sắt trôn lò than. Khi là lá, một tay người là cầm từng lá nón đặt lên thanh sắt. Một tay cầm một bọc vải nhỏ vuốt, cho lá thẳng. Điều quan trọng là độ nóng của miếng sắt phải đủ độ để lá nón không bị cháy và cũng không bị quăn.

– Người làm nón cắt chéo góc những lá nón đã được chọn. Dùng chỉ thắt thật chặt đầu lá vừa cắt chéo.

– Đặt lá lên khung rồi dàn đều sao cho khít khung nón.

– Dùng chỉ (hoặc sợi nilông, sợi móc) may lá chặt vào khung.

– Người ta thường dùng hai lớp lá để nước không thấm vào đầu.

– Có khi người ta dùng bẹ tre khô để lót vào giữa hai lớp lá. Nón tuy không thanh thoát nhưng bù lại nó vừa cứng vừa bền.

– Vành nón được làm bằng những thanh tre khô vót tròn.

– Quai nón thường được làm bằng dây hoặc các loại vải mềm. Quai nón buộc vào nón đủ vòng vào cổ đồ giữ nón khỏi bị bay khi trời gió và không bị rơi xuống khi cúi người.

3. Các loại nón

Nón lá có nhiều loại, nhưng chủ yếu người Việt Nam thường dùng các loại nón có tôn như sau:

– Nón Ngựa (còn có tôn là Gò Găng). Loại nón này được sản xuất ở Bình Định. Nón được làm bằng lá dứa và thường được đội đầu khi cưỡi ngựa.

– Nón Bài thơ. Nón bài thơ được sản xuất ở Huế. Nón có lá trắng và mỏng. Giữa hai lớp lá được lồng tranh phong cảnh hoặc mấy câu thơ.

– Nón Chuông (nón làng Chuông – huyện Thanh Oai, Hà Tây – nay là Hà Nội). Nón Chuông thanh, nhẹ, đọp bền nổi tiếng.

– Nón Quai thao. Loại nón này không có hình chóp mà bằng. Phía vòng ngoài được lượn cụp xuống. Phía trong lòng nón có khâu một vòng tròn đan bằng nan của cây giang, vừa đầu người đội. Người ta còn gọi là “nón thúng quai thao vì trông hơi giông hình cái thúng. Ca dao có câu:

Ai làm nón thúng quai, thao

Để cho anh thấy cô nào cũng xinh.

– Hiện nay, nón quai thao chỉ được sử dụng trong các ngày hội. Người đã có công lưu giữ loại nón này chính là nghệ nhân Trần Canh.

4. Công dụng của nón

– Nón dùng để đội đầu che mưa, che nắng.

– Nón được dùng làm quạt khi trời nóng.

– Nón được dùng làm đạo cụ khi biểu diễn nghệ thuật như múa nón.

– Nón được dùng làm quà lưu niệm cho du khách đến Việt Nam…

III. Kết bài

– Chiếc nón lá không chỉ là đồ vật có nhiều công dụng mà còn góp phần thể hiện vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam.

– Chiếc nón lá còn là nguồn đề tài phong phú cho các văn nghệ sĩ. Một trong những bài hát nói về chiếc nón được mọi người yêu thích là Chiếc nón bài thơ.

– Chiếc nón lá sẽ mãi mãi tồn tại trong đời sống, trong nền văn hóa của người Việt Nam.

1- Mở bài: Giới thiệu khái quát về chiếc nón lá Việt Nam.

2 – Thân bài:

– Hình dáng chiếc nón: Hình chóp

– Các nguyên liệu làm nón:

+ Mo nang làm cốt nón

+ Lá cọ để lợp nón

+ Nứa rừng làm vòng nón

+ Dây cước, sợi guột để khâu nón

+ Ni lông, sợi len, tranh ảnh trang trí.

– Quy trình làm nón:

+ Phơi lá nón rồi trải trên mặt đất cho mềm, sau đó là phẳng

+ Làm 16 vòng nón bằng cật nứa, chuốt tròn đều

+ Khâu nón: Đặt lá lên khuôn, dùng sợi cước khâu theo 16 vòng để hoàn thành sản phẩm. Khâu xong phải hơ nón bằng hơi diêm sinh.

– Các nơi làm nón ở Việt Nam: Huế, Quảng Bình. Nổi tiếng là nón làng Chuông – Hà Tây

– Tác dụng: Che nắng, che mưa làm duyên cho các thiếu nữ. Có thể dùng để múa, làm quà tặng. Chiếc nón là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam

3 – Kết bài: Cảm nghĩ về chiếc nón lá Việt Nam

I/ MB: Giới thiệu khái quát về chiếc nón lá Việt Nam.

II/ TB:

1. Cấu tạo:

– Hình dáng? Màu sắc? Kích thước? Vật liệu làm nón?…

– Cách làm (chằm) nón:

+ Sườn nón là các nan tre. Một chiếc nón cần khoảng 14 – 15 nan. Các nan được uốn thành vòng tròn. Đường kính vòng tròn lớn nhất khoảng 40cm. Các vòng tròn có đường kính nhỏ dần, khoảng cách nhỏ dần đều là 2cm.

+ Xử lý lá: Lá cắt về phơi khô, sau đó xén tỉa theo kích thước phù hợp.

+ Chằm nón: Người thợ đặt lá lên sườn nón rồi dùng dây cước và kim khâu để chằm nón thành hình chóp.

+ Trang trí: Nón sau khi thành hình được quét một lớp dầu bóng để tăng độ bền và tính thẩm mỹ (có thể kể thêm trang trí mỹ thuật cho nón nghệ thuật).

– Một số địa điểm làm nón lá nổi tiếng: Nón lá có ở khắp các nơi, khắp các vùng quê Việt Nam. Tuy nhiên một số địa điểm làm nón lá nổi tiếng như: Huế, Quảng Bình, Hà Tây (làng Chuông)…

2. Công dụng: Giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

a) Trong cuộc sống nông thôn ngày xưa:

– Người ta dùng nón khi nào? Để làm gì?

– Những hình ảnh đẹp gắn liền với chiếc nón lá. (nêu VD)

– Sự gắn bó giữa chiếc nón lá và người bình dân ngày xưa:

+ Ca dao (nêu VD)

+ Câu hát giao duyên (nêu VD)

b) Trong cuộc sống công nghiệp hoá – hiện đại hoá ngày nay:

Kể từ tháng 12/2007 người dân đã chấp hành qui định nội nón bảo hiểm của Chính phủ. Các loại nón thời trang như nón kết, nón rộng vành… và nón cổ điển như nón lá… đều không còn thứ tự ưu tiên khi sử dụng nữa. Tuy nhiên nón lá vẫn còn giá trị của nó:

– Trong sinh hoạt hàng ngày (nêu VD)

– Trong các lĩnh vực khác:

+ Nghệ thuật: Chiếc nón lá đã đi vào thơ ca nhạc hoạ (nêu VD).

+ Người VN có một điệu múa lá “Múa nón” rất duyên dáng.

+ Du lịch

III/ KB: Khẳng định giá trị tinh thần của chiếc nón lá.

I. Mở bài: Giới thiệu về nón lá

“Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Không biết tự bao giờ, nón lá đã đi vào thơ ca một cách dịu dàng như thế. Nón đã trở thành biểu tượng của con người Việt Nam. Trong mỗi con người Việt Nam luôn biết đến nón, nhưng chưa hiểu rõ về chiếc nón. Chính vì thế mà chúng ta cùng đi tìm hiểu về chiếc nón lá Việt Nam.

II. Thân bài

1. Khái quát

– Nón lá có hình chóp

– Là vật dụng gắn liền với các mẹ, các chị

– Là một vật dụng hữu ích trong cuộc sống

2. Chi tiết

a. Nguồn gốc

Từ 2500 – 3000 năm về trước công nguyên, hình ảnh chiếc nón lá được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, Trống Đồng Đông Sơn, trên thạp đồng Đào Thịnh. Nón lá có từ rất lâu đời ở Việt Nam.

b. Cấu tạo nón lá:

Nón lá thường có hình chóp hay tù, tùy vào công dung mà nón còn có một số loại nón rộng bản hay một số loại khác. Lá nón được xếp trên một cái khung gồm các nan tre nhỏ uốn thành hình vòng cung, được ghim lại bằng sợi chỉ, hoặc các loại sợi tơ tằm,… giữ cho lá với khung bền chắc…

Nón lá thường được đan bằng các loại lá khác nhau như lá cọ, lá nón, lá buông, rơm, tre, lá cối, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón v.v…

Nón lá thường có dây đeo làm bằng vải mềm hoặc nhung, lụa để giữ trên cổ.

c. Cách làm nón

– Xử lí lá nón

– Làm khung nón

– Làm nón

d. Phân loại nón

– Nón ngựa hay nón Gò Găng: Nón này được sản xuất ở Bình Định, nón được làm từng lá dứa, thường dùng khi đội đầu cưỡi ngựa.

– Nón quai thao: Được người Bắc sử dụng khi di lễ hội.

– Nón bài thơ: Được sản xuất từ Huế

– Nón dấu

– Nón rơm

– Nón cời

e. Các thương hiệu nón nổi tiếng:

– Làng nón Đồng Di (Phú Vang)

– Làng nón Dạ Lê (Hương Thủy)

– Làng nón Phủ Cam (Huế)

– Làng Chuông

f. Công dụng

– Trong cuộc sống thường ngày: Che nắng, mưa, làm quạt mát, ….

– Trong nghệ thuật: Dùng để múa, vẽ,….

– Trong giá trị tinh thần: Nón là một vật dùng để làm quà, hay quản bá về nét văn hóa Việt Nam với các du khách.

III. Kết bài: Nêu ý nghĩ và cảm nghĩ về nón lá

Dù bây giờ đã có các loại mũ thời trang hàng hiệu nhưng nón lá vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong lòng người dân Việt Nam. Nón lá là biểu tượng văn hóa của Việt Nam, là một giá trị tinh thần của con người Việt Nam.

1/ Mở bài:

– Giới thiệu về chiếc nón lá.

– Chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng cho văn hóa Việt Nam

2/ Thân bài:

– Nón lá có nguồn gốc từ đâu, khi nào?

+ Ước chừng thời gian xuất hiện khoảng 2500 – 3000 TCN.

+ Có rất nhiều làng nghề truyền thống khâu nón lá đã hình thành và phát triển lâu đời như làng nghề Đồng Vy, Dạ Lê,…

– Nguyên liệu để tạo nên nón lá: Tre, lá cọ hoặc lá dừa

– Cách tạo nên chiếc nón lá

+ Chiếc nón lá được tạo nên từ hai phần bao gồm khung tre và lá nón. Khung tre được tạo thành từ những chiếc nan tre vót tròn đều, nhẵn mịn. Sau đó được uốn thành vòng tròn nhỏ dần để tạo nên khung nón.

+ Sau đó, bộ khung này được xếp lên từng lớp lá nón. Những chiếc lá này đều phải trải qua những giai đoạn chọn lọc khắt khe để lựa ra những chiếc lá tốt nhất. Sau đó, lá nón được đem đi phơi khô, sấy và ủi kĩ.

+ Bước tiếp theo, ghép lá nón lên khung tre đã được đan sẵn thành hình chóp nhọn và tiến hành khâu nón. Sợi chỉ khâu nón phải là loại dây trong suốt nhưng cực kì chắc chắn để tạo được nét thẩm mỹ duyên dáng cũng như sự bền đẹp cho chiếc nón lá.

– Có mấy loại nón lá?

+ Có thể chia nón thành hai loại khác nhau bao gồm nón lá hình chóp và nón quai thao.

+ Ngoài ra người ta cũng chia ra làm nón lá Huế và nón lá truyền thống.

– Công dụng và cách bảo quản nón

+ Che nắng mưa cho con người khi đi làm đồng trong những ngày hè oi ả hay trong những ngày mưa dầm.

+ Làm duyên hơn cho những cô gái bên cạnh tà áo dài thướt tha, duyên dáng Việt Nam.

+ Sử dụng trong những dịp lễ hát đối đáp giao duyên của miền quan họ Bắc Ninh.

+ Cách bảo quản nón: Phết lên trên lớp lá nón ngoài cùng một lớp dầu bóng, vừa làm tăng độ bóng đẹp cho chiếc nón vừa giữ cho chiếc nón không bị mối mọt bởi côn trùng.

3/ Kết bài:

– Khẳng định vai trò, ý nghĩa của chiếc nón trong văn hóa của người Việt Nam.

– Hình ảnh chiếc nón lá là hình ảnh ghi lại dấu ấn đẹp đẽ không chỉ của người dân Việt Nam mà còn trong mắt du khách và bạn bè quốc tế.

I/ Mở bài

Dẫn dắt, giới thiệu chung về chiếc nón lá Việt Nam (vật dụng quen thuộc trong đời sống, gắn bó với người dân, gợi lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam,…).

II/ Thân bài:

1/ Hình dáng: hình chóp

2/ Cấu tạo của nón lá:

– Thân nón: gồm khung có 16 nang vành và phần lá bên ngoài.

– Quai nón: dây mảnh buộc qua nón để cố định.

3/ Nguyên vật liệu làm nón Việt Nam:

– Lá lợp: lá non (lá cọ, lá nón, lá buông, lá cối,…).

– Nang nón, vành nón: tre, nứa,…

– Vật liệu khâu nón: sợi guộc, dây cước,…

– Vật liệu trang trí: nilon, sợi len, tranh ảnh,…

– Quai nón: vải lụa, vải nhung, các loại vải khác,…

4/ Quy trình làm nón lá:

– Xử lí lá: ủi phẳng nhiều lần, phơi khô, làm mềm, cắt tỉa lá…

– Làm khuôn: vót tre nứa, uốn cong , tạo dáng, cố định nang,…

– Lợp và khâu nón: lắp lá lên khuôn, dùng cước hoặc guộc khâu theo 16 nang vành, …

5/ Công dụng của nón lá:

– Che nắng, che mưa.

– Trang trí, làm đẹp.

– Làm đạo cụ trong văn nghệ, ca múa,…

– Thể hiện nét độc đáo riêng trong văn hóa.

6/ Ý nghĩa của chiếc nón lá Việt Nam:

– Nón lá là vật quen thuộc và có ích cho con người.

– Gắn bó với đời sống lao động và đời sống tinh thần của người dân Việt.

– Biểu trưng cho nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc.

III/ Kết bài:

Khái quát lại suy nghĩ, nhận định của bản thân về chiếc nón lá Việt Nam (vai trò, giá trị,…). Lời khuyên, lời kêu gọi (gìn giữ nón lá, gìn giữ nét đẹp…)

Thuyết Minh Chiếc Nón Lá Lớp 9 ❤️️15 Bài Mẫu Về Cái Nón Hay

Thuyết Minh Chiếc Nón Lá Lớp 9 ❤️️ 15 Bài Mẫu Về Cái Nón Hay ✅Chia Sẻ Các Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Lớp 9.

I. Mở bài:

Giới thiệu về chiếc nón lá.

Chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng cho văn hóa Việt Nam.

II. Thân bài:

– Nón lá có nguồn gốc từ đâu, khi nào?

Ước chừng thời gian xuất hiện khoảng 2500 – 3000 TCN.

Có rất nhiều làng nghề truyền thống khâu nón lá đã hình thành và phát triển lâu đời như làng nghề Đồng Vy, Dạ Lê,…

– Nguyên liệu để tạo nên nón lá: Tre, lá cọ hoặc lá dừa

– Cách tạo nên chiếc nón lá

Chiếc nón lá được tạo nên từ hai phần bao gồm khung tre và lá nón. Khung tre được tạo thành từ những chiếc nan tre vót tròn đều, nhẵn mịn. Sau đó được uốn thành vòng tròn nhỏ dần để tạo nên khung nón.

Sau đó, bộ khung này được xếp lên từng lớp lá nón. Những chiếc lá này đều phải trải qua những giai đoạn chọn lọc khắt khe để lựa ra những chiếc lá tốt nhất. Sau đó, lá nón được đem đi phơi khô, sấy và ủi kĩ.

Bước tiếp theo, ghép lá nón lên khung tre đã được đan sẵn thành hình chóp nhọn và tiến hành khâu nón. Sợi chỉ khâu nón phải là loại dây trong suốt nhưng cực kì chắc chắn để tạo được nét thẩm mỹ duyên dáng cũng như sự bền đẹp cho chiếc nón lá.

– Có mấy loại nón lá?

Có thể chia nón thành hai loại khác nhau bao gồm nón lá hình chóp và nón quai thao.

Ngoài ra người ta cũng chia ra làm nón lá Huế và nón lá truyền thống.

– Công dụng và cách bảo quản nón

Che nắng mưa cho con người khi đi làm đồng trong những ngày hè oi ả hay trong những ngày mưa dầm.

Làm duyên hơn cho những cô gái bên cạnh tà áo dài thướt tha, duyên dáng Việt Nam.

Sử dụng trong những dịp lễ hát đối đáp giao duyên của miền quan họ Bắc Ninh.

Cách bảo quản nón: Phết lên trên lớp lá nón ngoài cùng một lớp dầu bóng, vừa làm tăng độ bóng đẹp cho chiếc nón vừa giữ cho chiếc nón không bị mối mọt bởi côn trùng.

III. Kết bài:

Khẳng định vai trò, ý nghĩa của chiếc nón trong văn hóa của người Việt Nam.

Hình ảnh chiếc nón lá là hình ảnh ghi lại dấu ấn đẹp đẽ không chỉ của người dân Việt Nam mà còn trong mắt du khách và bạn bè quốc tế.

I. Mở bài: Giới thiệu vài nét về chiếc nón lá Việt Nam.

II. Thân bài:

a. Cấu tạo: Các cấu tạo chung như hình dáng, màu sắc, vật liệu làm nón lá,…

Sườn nón sẽ được làm bằng các nan tre. Các nan tre sẽ được uốn thành vòng tròn. Đường kính vòng tròn lớn nhất khoảng 40 – 50 cm. Các vòng tròn sẽ nhỏ dần, từ ngoài vào trong đến trung tâm chiếc nón.

Chằm nón: đặt lá lên sườn nón rồi dùng dây cước và kim khâu để chằm nón tạo thành hình chóp.

Xử lý lá: lá cắt về phơi khô, xén tỉa theo kích thước phù hợp.

Trang trí: sau cùng là công đoạn trang trí, người làm sẽ quét một lớp dầu bóng để chống nắng, mưa cũng như làm đẹp.

b. Công dụng: Chiếc nón lá có ý nghĩa giá trị vật chất và giá trị tinh thần đối với con người.

Trong cuộc sống nông thôn: Người ta dùng nón khi nào? công dụng gì? Những hình ảnh đẹp gắn liền với chiếc nón lá.

Sự gắn bó giữa chiếc nón lá và người dân ngày xưa: Trong câu thơ, ca dao: nêu các ví dụ. Câu hát giao duyên: nêu các ví dụ

Trong cuộc sống hiện đại: Trong sinh hoạt hàng ngày và trong các lĩnh vực khác (Nghệ thuật, du lịch).

c. Bảo quản: Chiếc nón lá phủ lên 2 mặt 1 lớp nhựa thông pha với dầu hỏa. Cóp nón khâu thêm 1 mảnh vải nhỏ để bảo vệ khỏi va quệt trầy xước khi sử dụng.

III. Kết bài: Đưa ra nhận định về vai trò, cũng như cảm nghĩ về chiếc nón lá trong đời sống con người Việt Nam.

Đón đọc văn mẫu🌺 Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá🌺 Việt Nam

Từ lâu, chiếc nón lá đã trở thành vật dụng quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh thiếu nữ mặc tà áo dài thướt tha bên chiếc nón bài thơ đã làm nên bản sắc của đất nước. Có thể nói, chiếc nón lá là một phần hồn, một phần người, một phần trầm tích của nền văn hóa xứ sở.

Chiếc nón xuất hiện vào thế kỉ XIII, thời nhà Trần. Khi ấy, nón có bốn loại: nón tam giang cho các ông già bà cả, nón lá cho nhà giàu, quyền quý, nón tu lờ cho nhà sư, nón chéo vành cho lính. Thời xưa, nón thúng rộng vành nặng, đến đầu thế kỉ XX được cải tiến như bây giờ, nhẹ nhàng và thanh thoát. Đó là nón chóp nhọn đầu, loại nón được dùng phổ biến nhất. 

 Nón làm từ ba loại vật liệu: tre để làm vành, lá để lợp, sợi móc để khâu. Lá làm nón là lá gồi, lá cọ được lấy từ vùng trung du hoặc núi cao. Để lá có độ bền phải qua một quá trình sơ chế: phơi khô trong nắng nhẹ, sấy bằng hơi đốt diêm sinh sao cho lá có màu trắng, chọn những lá bánh tẻ có độ bền cao rồi dùng bàn là là cho phẳng. Thân tre chẻ nhỏ, chuốt tròn rồi uốn thành 16 vành với kích thước khác nhau.

Sợi móc bằng nilong bán nhiều trong các cửa hàng tạp hóa. Khung nón gồm 5 thanh tre dẹt, mỗi thanh dài khoảng 25cm có từ 15 đến 16 khấc với khoảng cách đều nhau. Để khớp các vành, một đầu các thanh tre chụm vào nhau để tạo chóp nhọn còn đầu kia gắn vào vành to nhất. 

Sau khi chuẩn bị đầy đủ vật liệu và công cụ như kim, dao, kéo… người thợ bắt đầu dựng khung, khớp vàng vào khung và lợp lá nón. Là được lợp hai lớp, ở giữa có thể thêm một lớp mo tre. Khi lợp phải chú ý lợp sao cho đều, cho kín. Lợp xong bắt đầu khâu để khớp vàng nón với lá nón. Đường khâu bắt đầy từ vàng nhỏ nhất dần đến các vành to hơn. Khâu nón là việc đòi hỏi phải cẩn thận và tỉ mỉ nhất, mũi kim phải nhỏ, đường chỉ phải đều. 

Trong các vật dụng đội đầu thì chiếc nón là có giá cả vừa phải và dùng để che mưa che nắng là tốt hơn cả. Với hình chóp nhọn, trời mưa nhanh róc nước còn trời nắng thì thoáng mát. Nón gắn bó với người nông dân hết cả cuộc đời. Nghề làm nón còn tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân lúc nông nhàn. Những làng nghề nổi tiếng đã có sản phẩm xuất khẩu sang một số nước châu Âu, châu Á đem lại lợi nhuận không nhỏ.

Người phụ nữ Việt Nam mặc áo dài, đội trên đầu chiếc nón lá toát lên vẻ đẹp đằm thắm, duyên dáng, dịu dàng. Chiếc nón còn sử dụng làm đạo cụ trong các điệu múa truyền thống như múa nón. 

Cuộc sống hiện đại ngày nay có nhiều vật dụng có thể thay thế chiếc nón như mũ, ô song không thể phủ nhận vai trò của chiếc nón trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt. Người Việt Nam có quyền tự hào về chiếc nón lá bởi nó là bản sắc dân tộc, là nét đẹp riêng của nền văn hóa Việt. Mỗi công dân chúng ta phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ bản sắc dân tộc đêt những vật dụng như nón lá không bị lãng quên theo thời gian.

Bạn có thể xme thêm văn mẫu 😍Thuyết Minh Về Cây Bút Chì 😍hay nhất

Tiếp tục gợi ý thêm cho các em học sinh cách TM nón lá ngắn gọn nhưng vẫn bao hàm được những ý diễn đạt chính.

Từ bao đời nay, chiếc nón lá là đồ vật quen thuộc của các bà, các mẹ, các chỉ không chỉ có công dụng như một thứ để che chắn nắng hàng ngày mà còn là một món phụ kiện làm tăng thêm nét duyên dáng, nữ tính cho người phụ nữ.

Nói về nón lá, chúng ta đều biết nón lá đã xuất hiện từ rất sớm trong dòng lịch sử của dân tộc, bằng chứng là hình ảnh chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịch từ những năm 2000-3000 trước công nguyên. Và đến ngày nay, nón lá vẫn là một sản phẩm thủ công được duy trì tại những làng nghề nổi tiếng như Dạ Lê (Hương Thủy), Đồng Di (Phú Vang), Phủ Cam (Huế). Những nơi này đã trở thành điểm du lịch hút khách cũng chính bởi sản phẩm thủ công tinh tế mà chúng sản sinh ra – nón lá.

Nón lá được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Lá dừa phải là lá khô, được xử lí đặc biệt tuy thế người ta vẫn chuộng lá có hơn vì chỉ lá cọ mới tạo nên chiếc nón lá hoàn mĩ nhất. Lá cọ được chọn phải là non vừa với gân lá xanh và màu lá trắng. Sau khi được hơ trên bếp than và phơi sương khoảng 4 tiếng, nón lá sẽ có màu trắng xanh và hiện rõ vân lá màu xanh nhẹ.

Tiếp đến công đoạn chằm nón, người thợ phải chằm bằng sợi cước dẻo thật đều tay, sau đó cố định nón bằng nan tre đã uốn khéo thành vòng tròn, cuối cùng cố định chóp nón. Việc còn lại, chỉ cần quét vài lớp dầu bên ngoài lớp lá để nón thêm bóng đẹp và cài thêm dải lụa làm quai đeo để nón thêm duyên dáng là ta đã có một chiếc nón lá thành phẩm hoàn mĩ. Và để giữ gìn sự hoàn mĩ ấy, ta chỉ nên dùng nón khi trời nắng, tránh nước và khi không dùng đến thì để ở những nơi râm mát.

Như đã nói, nón lá vừa có tác dụng che mưa che nắng vừa có tác dụng thẩm mỹ, tô điểm cho vẻ yêu kiều của người phụ nữ. Hình ảnh người nông dân cày sâu cuốc bẫm trên những cánh đồng rộng lớn với chiếc nón lá che ở trên đầu từ lâu đã không còn xa lạ. Hay hình ảnh những người lao động, những dì bán nước cùng ngồi tại gốc đa đầu làng, tay phe phẩy chiếc nón để làm dịu mát những ngày hè oi ả cũng đã vô cùng quen thuộc ở nông thôn xưa. 

Bởi những công dụng thiết thực cùng những ý nghĩa vô vùng sâu sắc của chiếc nón lá, ta cần duy trì nghề làm nón và những làng nghề làm nón lâu đời. Bằng cách ấy, ta không chỉ bảo tồn được một vật dụng đẹp đẽ hữu ích mà còn lưu giữ được nét đẹp văn hóa nước nhà.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Văn mẫu thuyết trình về chiếc nón lá ấn tượng sau đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các em học sinh trong quá trình làm bài.

Nhắc đến Việt Nam, có lẽ mỗi người sẽ có những điều ấn tượng khác nhau nhưng khi nhắc đến chiếc nón lá thì chắc chắn tất cả đều nghĩ ngay đến hình ảnh người con gái Việt Nam hiền hậu. Nón lá chính là một nét đẹp cổ truyền, là vật dụng không thể thiếu đối với người phụ nữ Việt.

Không thể khẳng định được chính xác chiếc nón lá được ra đời từ khi nào. Chỉ biết rằng từ thời xa xưa, hình ảnh nón lá đã đi vào trong thơ ca cổ với những câu thơ như:

Thông qua một số tài liệu cho thấy nón lá có mặt ở nước ta vào thế kỉ thứ XIII đời nhà Trần, cách đây khoảng 3000 năm. Tuy nhiên, thông tin này không có căn cứ chính xác bởi mỗi tài liệu lại có một ghi chép khác nhau. Nhưng nhìn chung, tổng hợp lại từ nhiều tài liệu thì chúng ta có thể khẳng định một điều rằng nón lá đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời.

Việt Nam ta có rất nhiều loại nón khác nhau vậy nên người Việt dùng chính tên nguyên liệu làm ra nón để đặt tên cho nón chẳng hạn như nón lá, nón rơm, nón dừa, nón đệm,… Như vậy là với tên gọi nón lá, chúng ta có thể hiểu rằng lá chính là nguyên liệu chính làm nên những chiếc nón này. Và đó là một nguyên liệu quen thuộc, gần gũi với người Việt Nam.

Mặc dù nguyên liệu làm ra nón lá giản đơn, dễ kiếm nhưng để làm ra một chiếc nón lá cần nhiều vật dụng hơn và cũng mất rất nhiều thời gian và công sức. Nó đòi hỏi người làm phải có kĩ thuật, tay nghề thì mới có thể làm ra những chiếc nón lá đẹp. Những vật dụng để tạo nên một chiếc nón lá là lá, chỉ, khung nón,… Lá để làm nên nón thường là lá kè, có sứa nhỏ, mọc ở những vùng đồi núi hoặc có thể dùng lá cọ, rơm, tre, lá hồ, lá cối.

Trong khi đó sợi chỉ dùng để khâu nón không phải sợi chỉ chúng ta dùng để khâu quần áo mà là sợi dây rất dai lấy từ bẹ cây móc. Thường thì những chiếc nón có thêm một cái dây đeo giúp giữ nón được chắc chắn ở trên đầu. Có loại nón có dây đeo bằng vải, có loại dùng vải voan, vải nhung. Phần khung nón thì thường được làm bằng loại tre cật Tây Ninh.

Khung và bộ vành với 16 chiếc vòng lớn nhỏ được chuốt nhỏ nhắn, tròn và khéo. Những chiếc lá muốn dùng để đan nón phải được mang đi là bằng cách dùng một miếng sắt được đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho thẳng. Trong khi là phải chú ý đến nhiệt độ, không được để nóng quá cũng không được để nguội quá. Lá sau khi là xong thì xếp lên khung và khâu lại cẩn thận, tỉ mỉ.

Để làm ra một chiếc nón lá không đơn giản và phải đòi hỏi một thời gian khá dài cũng như yêu cầu cẩn thận trong từng công đoạn. Đến cuối cùng sau khi đã hoàn thành chiếc nón lá, người thợ phải quét lên bề mặt của nón một lớp dầu bóng để nón không bị mốc. Trước đây những chiếc nón lá thường chỉ được làm đơn sơ như vậy nhưng giờ đây, người thợ còn khéo léo thêu thêm những họa tiết đẹp mắt.

Nón lá có nhiều loại, có thể kể đến như nón quai thao, nón Huế, nón Ba Đồn,… Mỗi loại nón có một nét đẹp riêng đặc trưng cho từng vùng miền của đất nước. Sự xuất hiện của chiếc nón lá đã giúp người dân Việt Nam che mưa, che nắng. Hiện nay, nón lá không còn được sử dụng nhiều như trước nhưng ở nông thôn và đặc biệt là ở Huế, hình ảnh nón lá vẫn vô cùng quen thuộc. Đi Huế du lịch, người ta thường mua nón về làm quà, chẳng thế mà có câu thơ:

Ai ra xứ Huế mộng mơ

Mua về chiếc nón bài thơ làm quà.

Du khách nước ngoài sang Việt Nam cũng rất thích đội nón lá lên đầu. Có thể thấy cuộc sống dù hiện đại đến đâu, có bao nhiêu vật dụng thay thế chiếc nón lá, tốt hơn chiếc nón lá đi chăng nữa thì nón lá vẫn không thể thiếu trong đời sống người Việt.

Chia sẻ thêm bài văn ✅Thuyết Minh Về Cây Bút Máy ✅ Hay, độc đáo

Bài thuyết minh về một chiếc nón lá hay nhất sau đây sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập và chuẩn bị cho bài viết trên lớp của mình.

Ở một lúc nào đó nơi xứ người, thấy một tà áo trắng tung bay trong gió bên chiếc nón lá nhỏ xinh có thể khiến bất cứ người con Việt Nam cảm thấy xúc động và tự hào về quê hương mình. Và tự bao giờ, cùng với tà áo dài, chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp người phụ nữ, cho người nông dân Việt Nam.

Được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong đời sống lao động nhưng ít ai có thể nói được nguồn gốc ra đời của chiếc nón lá. Không ai biết về nơi chính xác nó ra đời, cũng không có những câu chuyện cổ tích về những chiếc nón. Chỉ biết rằng những chiếc nón xưa nhất được tìm thấy khắc trên mặt chiếc trống đồng Đông Sơn và thạp đồng Đào Thịnh cách chúng ta từ 2500 năm đến 3000 năm về trước.

Nón thường có hình chóp nhọn, tuy nhiên còn có cả một số loại nón rộng bản và làm phẳng đỉnh. Lá nón được xếp trên một cái khung gồm các nan tre nhỏ uốn thành hình vòng cung, được ghim lại bằng sợi chỉ, hoặc các loại sợi tơ tằm, sợi cước. Nan nón được chuốt thành từng thanh tre mảnh, nhỏ và dẻo dai rồi uốn thành vòng tròn có đường kính to nhỏ khác nhau thành những cái vành nón. Tất cả được xếp tiếp nhau trên một cái khuôn hình chóp.

Nón thường dùng để che nắng, mưa, làm quạt khi nóng. Đôi khi có thể dùng để múc nước hoặc để đựng. Ngày nay nón lá cũng được xem là quà tặng đặc biệt cho du khách khi đến tham quan Việt Nam. Chiếc nón hữu ích và giá trị như thế, cần được bảo quản và giữ gìn cẩn thận. Khi mua nón, cần hơ nón trên ngọn lửa diêm sinh hay phết lên một lớp dầu mỡ để chiếc nón bền, đẹp, không bị mốc. Sau mỗi lần sử dụng, nên treo nón lên để tránh bị va chạm hay bị bẹp.

Ngày nay, xã hội hiện đại với sự xuất hiện của ô, mũ, dù thời trang lấn át dần nón lá truyền thống. Nhưng nón lá vẫn tồn tại và ăn sâu vào đời sống lao động, đời sống tâm hồn của người dân, là biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam dịu dàng, giản dị, chân chất, yêu thương.

Cùng với tà áo dài thướt tha, duyên dáng thì chiếc nón lá cũng đã trở thành trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Chiếc nón lá đơn sơ, mộc mạc đã góp phần làm tôn thêm vẻ đẹp hiền dịu, thang khiết của những người phụ nữ Việt Nam đậm chất Á Đông. Chiếc nón lá gắn liền với lịch sử dân tộc, cùng với hình ảnh tươi đẹp đôn hậu của dân tộc vươn ra đến tận năm châu.

Chiếc nón lá đầu tiên được in trên họa tiết của trống đồng, hay những mái đình mái chùa cổ kính. Chiếc nón lá trên những tượng hay chạm khắc đấy từ ngàn đời nay đã đi cùng năm tháng và gắn bó với những nét đẹp của văn hóa dân tộc, để cùng với tà áo dài làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam.

Chiếc nón lá có hình chóp, phần dưới to và tròn còn phần trên nhọn dần lên. Chiếc nón lá được làm bằng lá cọ, người dân phải đi lấy rồi sau đó quét lên một lớp dầu cho bóng và bền lớp vỏ nón. Xung quanh chiếc nón được quấn bởi các vòng tre nhỏ, được tuốt kĩ càng, trau chuốt để cố định hình dạng cho chiếc nón.

Bên trong nón ở hai bên có quai nón được thêu bằng những đường chỉ đỏ để buộc dây nón. Ngoài ra để làm cho chiếc nón thêm đẹp, sáng tạo và màu sắc thì người thợ làm nón có thể in lên đó hình ảnh những bông hoa hồng, hoa sen, hay những cô gái Việt Nam thướt tha trong ta áo dài truyền thống.

Chiếc nón lá đơn sơ bình dị như vẻ đẹp tâm hồn mộc mạc của người phụ nữ Việt Nam. Chiếc nón lá có rất nhiều kiểu dáng và mẫu mã khác nhau, có nón bài thơ, nón quai thao, nón lá…Trải qua quá trình phát triển của dân tộc thì những mẫu mã, thiết kế tinh sảo, sáng tạo của chiếc nón càng được tăng thêm. Tuy nhiên vẫn phải tuân theo những quy định làm nón truyền thống.

Để giữ cho chiếc nón bền và đẹp thì khi sử dụng chúng ta cần lưu ý một số điều sau. Không được dùng nón để quạt, để ngồi như vậy sẽ làm mép nón bị méo, bị gãy. Hơn nữa chiếc nón là một vật dụng thân thiết và gần gũi như vẻ đẹp mộc mạc của người dân Việt Nam nên chúng ta không nên dùng nó để kê hay ngồi như vậy chẳng phải đã làm mất đi vẻ đẹp quý báu của truyền thống dân tộc hay sao.

Chiếc nón lá bình dị, đơn sơ đã trở thành nét đẹp duyên dáng, âu yếm trong lòng người Việt Nam ta xưa và nay vẫn vậy. Không bao giờ, để cho những sự xâm lăng về văn hóa xâm chiếm đi những gì bất di bất dịch của hồn người một thưở. Chiếc nón lá như người bạn luôn gắn bó với người nông dân Việt không quản nắng mưa, những màu phai của nón cũng giống như những tần tảo sớm hôm của cuộc đời con người Việt Nam.

“Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ

Tà áo dài trắng nhẹ nhàng bay

Nón bài thơ e lệ trong tay

Thầm bước lặng, những khi trời dịu nắng”

Ai đã từng qua miền Trung nắng lửa không thể không biết đến nón bài thơ xứ Huế. Chiếc nón lá ấy đã trở thành biểu tượng văn hóa của một vùng đất nhiều truyền thống. Và cũng từ lâu, chiếc nón lá trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với chiếc nón lá nhẹ nhàng và tà áo dài tha thướt đã đi vào thơ ca, nhạc họa của biết bao thế hệ.

Nghĩ đến Việt Nam, mọi người sẽ nghĩ đến những nét đẹp văn hoá khác nhau. Nón lá Việt Nam là một trong những nét đẹp cổ truyền, biểu tượng cho văn hoá của người dân Việt Nam.

Về lịch sử nguồn gốc của nón lá có lẽ khó có thể chắc chắn được nón lá ra đời vào thời kì nào. Bởi từ xa xưa trong những câu thơ dân gian hình ảnh nón lá đã xuất hiện:

“Dáng tròn vành vạnh vốn không hư,

Che chở bao la khắp bốn bờ…”

Cũng có nhiều tài liệu ghi chép, nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỉ thứ XIII đời nhà Trần, cách đây khoảng 3000 năm. Nhưng theo nhiều thống kê lại có những ghi chép khác. Như vậy có thể khẳng định, nón lá có mặt ở Việt Nam từ rất lâu đời.

Theo thông thường, chiếc nón khi ra đời sẽ được đạt tên theo vật liệu tạo ra nó. Như nón lá, nón rơm, nón đệm, nón dừa,… Chất liệu làm nên chiếc nón lá rất phong phú nhưng lại rất gần gũi với người dân Việt Nam.

Nón lá có dáng hình chóp, vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội. Mỗi loại nón lại có kích thước rộng tròn khác nhau. Nón ba tầm có vành rộng nhất. Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quang cũng thấp nhất. Hay nón Nghệ, rộng trên 80 cm, sâu 10 cm.

Nón lá đi vào đời sống nhân dân ta lâu đời bởi vậy được phân chia thành nhiều loại. Nổi tiếng trong đó phải kể đến nón quai thao, nón Huế, nón Ba Đồn,… Mỗi loại mang một vẻ đẹp của vùng miền trên đất nước Việt Nam.

Từ khi có mặt, nón lá đã gắn liền với con người đất Việt bao thế kỉ qua. Chiếc nón theo chân người nông dân ra đồng, giúp những bác nông che nắng, che mưa. Chiếc nón theo tay những nghệ sĩ đi vào thơ ca. Hơn thế, tà áo dài của người phụ nữ Việt cùng chiếc nón đã trở thành nét đẹp văn hoá vô cùng tự hào của con người đất Việt.

Xã hội dù có thay đổi. Cuộc sống có ngày một phát triển. Những nền văn hoá có thể giao thoa nhưng chiếc nón lá không bao giờ mất đi. Nó đã là một biểu tượng của cuộc sống, văn hoá và con người Việt Nam.

Bài văn mẫu thuyết minh về chiếc nón lá lớp 9 ngắn nhất sau đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo những ý văn hay cũng như cách diễn đạt khéo léo, hấp dẫn thu hút người đọc.

Nón lá được xem chính là biểu tượng cho sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt từ ngàn đời nay. Chiếc nón lá như thật gần gũi biết bao nhiêu với người mẹ tảo tần nuôi em khôn lớn. Nó như thật quen thuộc và như hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của người dân Việt Nam nữa.

Theo lời mẹ em kể thì việc để có thể hoàn thành được một chiếc nón lá thì phải trải qua rất nhiều công đoạn tỷ mỉ khác nhau. Người ta phải chọn sao cho cẩn thận những chiếc lá, phơi lá như thế nào và cả những đường kim mũi chỉ phải đều và phải đẹp nữa. Và quả thực để làm lên được một chiếc nón lá là cần biết bao tấm lòng, sự khéo léo của người làm ra chiếc nón lá đó.

Chiếc nón lá có thể được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Và theo như em thấy đuuợc dường như mỗi loại lá lại mang đến sự khác nhau cho sản phẩm. Thông thường thì những sản phẩm nón làm từ lá dừa có nguồn gốc từ Nam Bộ bởi nơi đây thì cây dừa được trồng rất nhiều.

Chiếc nón lá có hình nón, ở đáy tròn xoe và có khung được làm bằng tre là những hình tròn như bé lại dần từ dưới lên trên. Các khung tre cứa tròn từ đáy cho đến chóp sau đó được phủ lên bằng lá cọ đã được phơi chuốt. Những chiếc lá cọ đã được phơi có màu trắng do các chất tẩy màu hay là các chất xử lý để cho lá có độ bền lâu hơn khi phải thường xuyên che nắng che mưa.

Có những khi trời nắng to, hay mà mưa thì người đội nón chắc chắn hơn người đội mũ. Đã thế thì những chiếc mũ lại rất nặng, nặng hơn so với một chiếc nón lá. Các mẹ đội nón này cũng rất tiện và đẹp. Đã thế lại có cả một chiếc quai nón bằng vải nhìn thật là đẹp biết bao. Chiếc quai nón này được buộc vào hai bên của chiếc nón ở bên trong giúp cho người đội có thể giữ được chiếc nón khi có cơn gió to ập đến.

Em cũng rất thích chiếc nón, nó thật giản dị nhưng lại giữ trong mình biết bao nhiêu công dụng và lại rất đẹp cho người con gái Việt Nam nói chung.

Nhắc nhớ đến đất nước hòa bình Việt Nam người ta không chỉ nhắc đến người dân thân thiện, tà áo dài nhẹ nhàng, thước tha thì hình ảnh chiếc nón lá chính là một hình ảnh đẹp. Không sai chút nào khi nói hình ảnh chiếc nón lá Việt Nam một trong những nét đẹp cổ truyền, đồng thời cũng chính là một biểu tượng cho văn hoá của người dân Việt Nam.

Cũng theo lẽ thông thường, chiếc nón khi ra đời sẽ được đạt tên theo vật liệu tạo ra nó. Thế như hình ảnh nón lá, nón rơm, nón đệm, nón dừa,… Từ chất liệu làm nên chiếc nón lá rất phong phú thế nhưng lại rất gần gũi với người dân Việt Nam.

Hình ảnh chiếc nón lá có dáng hình chóp, vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Thế rồi giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội. Thế rồi chính với mỗi loại nón lại có kích thước rộng tròn khác nhau. Hình ảnh chiếc nón ba tầm có vành rộng nhất. Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quang cũng thấp nhất. Hay nón Nghệ, rộng trên 80 cm, sâu 10 cm.

Không sai chút nào khi nói hình ảnh chiếc nón lá đi vào đời sống nhân dân ta lâu đời bởi vậy được phân chia thành nhiều loại. Nổi tiếng trong đó phải kể đến nón quai thao, nón Huế, nón Ba Đồn,… Thực sự với mỗi loại mang một vẻ đẹp của vùng miền trên đất nước Việt Nam.

Có thể nói rằng từ khi có mặt, nón lá đã gắn liền với con người đất Việt bao thế kỉ qua. Chiếc nón theo chân người nông dân ra đồng, giúp những bác nông che nắng, che mưa. Chiếc nón theo tay những nghệ sĩ đi vào thơ ca thật đằm thắm và thơ mộng biết bao nhiêu:

“Ai ra xứ Huế mộng mơ

Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”

Chính với chiếc nón còn gắn liền với những người dân lao động, trở thành chiếc mũ đội đầu giản dị. Hơn thế nữa thì hình ảnh tà áo dài của người phụ nữ Việt cùng chiếc nón đã trở thành nét đẹp văn hoá vô cùng tự hào của con người đất Việt Nam văn hiến.

Cho dù vận đổi sao dời, xã hội dù có thay đổi, nền văn hóa của nước ta có giao thoa với nhiều nền văn hóa khác thì chắc chắn rằng hình ảnh chiếc nón lá vẫn cứ còn vẹn nguyên giá trị của nó. Hình ảnh nón lá như trở thành một biểu tượng tốt đẹp của cuộc sống, của văn hóa và con người Việt Nam ta.

Chia Sẻ Bạn Cách ❤️  Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí ❤️ Card Viettel Mobifone

Tham khảo cách hành văn mới lạ, cuốn hút người đọc với bài văn mẫu thuyết minh chiếc nón lá lớp 9 tự thuật.

Tôi là chiếc nón lá Việt Nam không xa lạ với con người, ngày nay ở hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa nón và áo dài duyên dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản sắc văn hoá dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc thù của đàn bà Việt Nam, chắc chắn không ai chối cãi. Nếu mặc áo đầm, hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng.

Tôi dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Họ hàng nhà nón được chia thành nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử.

Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng tới tôi, nhưng ít người để ý đến tôi có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm. Tôi tuy giản dị rẻ tiền nhưng để tạo nên tôi cần người thợ phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy.

Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. Họ hàng nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt Nam.

Đời sống văn minh, phát triển nhưng dòng họ nhà nón lá vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.

Chiếc nón lá chính là một phần không thể thiếu trong trang phục cổ truyền của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay. Thật vậy, chiếc nón lá không chỉ cùng với tà áo dài làm nên trang phục truyền thống tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam mà còn khẳng định được giá trị văn hóa đặc trưng của nhân dân Việt Nam. Đối với người Việt Nam, chiếc nón chính là một phần không thể thiếu trong trang phục cũng như là niềm tự hào dân tộc sâu sắc.

Việt Nam là đất nước có nền nông nghiệp lúa nước lâu đời. Vì thường xuyên lao động ở ruộng dưới thời tiết nắng nóng nên người dân đã sáng tạo một đồ vật có hình nón để đội lên đầu. Những chiếc nón ban đầu được làm từ các chất liệu đơn giản kiếm được ở đồng ruộng: rơm rạ, lá kết lại. Sau đó, chiếc nón của quân lính ngày xưa cũng có hình dạng tương tự với chiếc nón lá ngày nay nhưng kích thước nhỏ hơn.

Dần dần, qua năm tháng, nhân dân sáng tạo ra chiếc nón kích thước như ngày nay để đội đầu khi đi ra đồng. Từ các chất liệu như lá rơm, chiếc nón lá của phiên bản ngày nay đã hoàn thiện bằng chất liệu lá được tẩy trắng, chống thấm nước và tránh nắng rất tốt. Tại Hà Nội, vẫn còn làng làm nón lá thu hút được vô cùng nhiều du khách.

Chiếc nón lá VN được làm từ các lớp lá lợp với nhau, được liên kết bằng các nan nhỏ dọc theo nón và dán bằng chất liệu kết dính bền chắc. Ngày nay, làng làm nón vẫn còn và tiếp tục lưu giữ giá trị văn hóa tốt đẹp này. Người thợ làm nón thường phải cực kì chú trọng trong việc lựa chọn các lớp lá dừa, lá cọ đẹp, bền để đem tẩy trắng trước khi làm nón. Những mũi chỉ khâu trên mặt nón được bàn tay người thợ làm nên. Cuối cùng, họ thường phết một lớp dầu mỏng lên để nón được bền và đẹp.

Chiếc nón có nhiều công dụng, vừa che nắng, che mưa, vừa đựng đồ, vừa quạt, vô cùng nhẹ và tiện lợi. Quan trọng nhất, chiếc nón lá đi cùng với lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam theo năm tháng và trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam. Đối với người Việt Nam, chiếc nón giống như một người bạn không thể thiếu trong đời sống thường ngày.

Tóm lại, nón lá chính là vật dụng có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống văn hóa, lịch sử của dân tộc Việt Nam. Chiếc nón đã đi cùng năm tháng cùng người dân Việt Nam và làm nên truyền thống, vẻ đẹp và hồn cốt dân tộc.

Chiếc nón lá Việt Nam là một công cụ che nắng, che mưa, làm quạt, khi còn để che giấu gương mặt, nụ cười hay tạo thêm nét duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam.

Vật liệu để làm nên cái nón là lá cọ, chỉ tơ, móc, tre làm khung. Nón lá có cấu tạo đơn giản nhưng cũng đòi hỏi một sự khéo léo của người thợ. Nón có hình chóp đều, thành được bao bọc bởi những chiếc vành uốn quanh thành nhiều lớp. Vành nón làm bằng tre, vót tròn như bộ khung nâng đỡ cái hình hài duyên dáng của nón. Ở phần đáy nón có một chiếc vành uốn quanh, cứng cáp hơn những chiếc vanh nón ở trên. Vanh nón, vành nón cứng hay giòn sẽ quyết định đến độ cứng cáp, bền lâu của chiếc nón.

Nhưng bộ phận quan trọng nhất của chiếc nón lại là hai lớp lá cọ – vật liệu chính để hình thành nên một chiếc nón. Lá cọ phải là lá non, phơi thật trắng. Lót giữa hai lớp lá cọ là lớp mo nang làm cốt, được phơi khô, lấy từ mo tre, mo nứa. Tất cả các vật liệu làm nên nón đều phải không thấm nước, dễ róc nước để chống chịu với những cơn mưa vùi dập, những ngày nắng oi ả thất thường.

Để tăng thêm nét duyên dáng, đồng thời giữ chặt nón vào đầu người đeo, người ta làm ra chiếc quai bằng lụa mềm gắn cùng hai chiếc nhôi đính vào mặt trong của chiếc nón. Nhôi nón được đan bằng những sợi chỉ tơ bền, đẹp. Người ta cũng có thể trang trí những hoa văn đậm nét dân tộc vào bên trong chiếc nón hoặc quét một lớp quang dầu thông bóng bẩy lên mặt ngoài chiếc nón.

Ở Việt Nam, có nhiều vùng nổi tiếng về nghề làm nón: nón làng Chuông (Hà Tây cũ) vừa bền vừa đẹp; ở Huế có nón bài thơ thanh mảnh nhẹ nhàng; nón Quảng Bình, Nam Định cũng có những nét đẹp riêng.

Chiếc nón lá rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Nó che mưa, che nắng, là một món quà kỷ niệm đầy ý vị độc đáo, sâu sắc. Nó làm thêm phần duyên dáng cho các thiếu nữ Việt Nam trong các dịp hội hè. Còn gì đẹp hơn một người thiếu nữ mặc chiếc áo dài thướt tha, đội chiếc nón lá, bước đi uyển chuyển trong bài múa nón.

Chiếc nón đã thực sự trở thành một biểu tượng sinh động của người phụ nữ Việt dịu dàng, nết na, duyên dáng: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, chiếc nón đã không còn vị trí, vai trò như trước. Những chiếc mũ xinh xinh, những bộ quần áo mưa sang trọng đã thay dần chiếc nón bình dị xưa. Nhưng trong ý thức mỗi người dân Việt, hình ảnh chiếc nón cùng những nỗi nhọc nhằn, những mũi chỉ khâu tinh tế sẽ mãi mãi trường tồn vĩnh cửu. Nó mãi mãi là một nét đẹp trong nền văn hoá độc đáo của đất nước Việt Nam tươi đẹp.

Chia Sẻ Bài 🌵 Tả Quyển Sách Mà Em Yêu Thích Lớp 4 ❤️️15 Bài Hay Nhất

Bạn có còn nhớ trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm, chiếc nón lá hiện lên rất tự nhiên, gần gũi:

Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên

Như vậy mới thấy được rằng nón là là biểu tượng cho sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt từ ngàn đời nay.

Chiếc nón lá ra đời từ rất lâu, khoảng 2500 – 3000 năm TCN. Lịch sử hình thành và lưu giữ cho đến ngày nay đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm này. Chiếc nón lá hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của người dân việt, đặc biệt là người phụ nữ; hiện diện trong những lời kể của bà, của mẹ và hiện diện trong các cuộc thi gìn giữ nét đẹp văn hóa.

Nón lá có thể được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá lại mang đến sự khác nhau cho sản phẩm. Thường thì những sản phẩm nón làm từ lá dừa có nguồn gốc từ Nam Bộ, vì đây là nơi trồng dừa nhiều. Tuy nhiên làm từ lá dừa sẽ không đẹp và tinh tế như lá cọ. Lá cọ có độ mềm mại, chắc chắn hơn. Khi lựa chọn lá cũng phải chọn những chiếc lá có màu xanh, bóng bẩy, có nổi gân để tạo nên điểm nhấn cho sản phẩm. Quá trình phơi cho lá mềm để dễ làm cũng cần từ 2 – 4 tiếng, lá vừa mềm vừa phẳng.

Khâu làm vành nón là khâu vô cùng quan trọng để tạo khung chắc chắn cho sản phẩm. Người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm và dẻo dai. Khi chuốt tre thì cần phải chuốt tỉ mỉ để đến khi nào có thể uốn cong mà không sợ gãy. Sau đó người dùng sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn.

Khi đã tạo khung và chuẩn bị lá xong đến giai đoạn chằm nón. Đây là giai đoạn giữ cho khung và lá bám chặt vào nhau. Thường thì người làm sẽ chằm bằng sợi nilong mỏng nhưng có độ dai, màu trắng trong suốt. Lúc chiếc nón đã được khâu xong thì người dùng bắt đầu quết dầu làm bóng và phơi khô để dầu bám chặt vào nón, tạo độ bền khi đi nắng mưa.

Đi dọc miền đất nước, không nơi nào chúng ta thấy sự hiện diện của chiếc nón lá. Nó là người bạn của những người phụ nữ khi trời nắng hoặc trời mưa. Không chỉ có công dụng che nắng, che mưa mà nón lá còn xuất hiện trong các tiết mục nghệ thuật, đi đến các nước bạn trên thế giới. Nét đẹp văn hóa của nón lá chính là nét đẹp cần được bảo tồn và gìn giữ.

Chiếc nón lá Việt Nam là sản phẩm của người Việt, làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ, và khẳng định sự tồn tại lâu đời của sản phẩm này. Để giữ chiếc nón lá bền với thời gian thì người dùng cần phải khéo léo, bôi dầu thường xuyên để tránh làm hỏng hóc, sờn nón.

Đọc Thêm 🌵 Bài Văn Tả Chiếc Balo Lớp 4 ❤️️15 Bài Văn Hay Nhất

“Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

Chiếc nón lá mộc mạc, giản dị, đơn sơ là một người bạn gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Việt Nam. Nón lá từ lâu đã là một nét đẹp truyền thống, trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam, đi vào nhiều bài ca dao và thơ ca, nhạc họa.

Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời, gắn với quá trình phát triển của dân tộc. Hình ảnh của nón lá đã xuất hiện trên trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịch từ khoảng 2500-3000 năm TCN. Người Việt cổ từ xưa đã biết lấy lá buộc lại làm vật che mưa, che nắng. Nón từ xưa đã được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến.

Đi khắp đất nước Việt Nam xinh đẹp, đâu đầu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh chiếc nón. Chiếc nón nhìn đơn giản là thế nhưng để tạo ra một chiếc nón đẹp đòi hỏi bàn tay công phu, khéo léo của người làm. Làm nón phải tỉ mỉ từ khâu đầu tiên là chọn lá, phơi lá. Nón lá thường được làm từ lá cọ. Lá không được quá non cũng như quá già. Trước khi đưa vào làm nón, lá phải được phơi nắng cho thật khô, thật mềm và giữ được lâu. Sau đó lá sẽ được mang đi sấy trắng. 

Ngoài lá nón, vành nón cũng là bộ phận hết sức quan trọng của chiếc nón. Vành nón chính là xương sống của nón. Vành nón được làm từ những thanh lứa khô và dẻo. Dưới bàn tay khéo léo của con người, những thanh lứa ấy được vót thật tròn và mịn. Sau đó được uốn thành những vòng tròn có đường kính to, nhỏ khác nhau. Các vành nón được xếp lên khuôn nón. Một chiếc nón có 16 vòng tất cả, vòng to nhất có đường kính khoảng 50cm, những vòng tiếp theo càng lên đỉnh càng nhỏ dần, vòng nhỏ nhất chỉ bằng đồng xu.

Sau công đoạn xếp vành lên khuôn là công đoạn xếp lá. Người thợ thủ công lấy từng chiếc lá, làm cho phẳng rồi xếp ngay ngắn lên khung nón. Mỗi chiếc nón gồm có 2 lớp lá, có một lớp mo lang ở giữa. Sau khi đã có một bộ khung hoàn hảo, cuối cùng là bước khâu nón bằng kim và cước mỏng như sợi chỉ. Những đường kim mũi chỉ lên xuống nhịp nhàng sẽ gắn chặt lá nón và vành lại với nhau. Công đoạn này đỏi hỏi người làm phải thật tỉ mỉ để khâu nón cho đẹp cũng như không bị mũi kim đâm vào tay.

Chiếc nón hoàn thành xong được quét một lớp dầu bóng để thêm bền và tăng tính thẩm mĩ. Quai nón được buộc đối xứng ở hai bên. Quai nón thường làm từ nhung, lụa hay chỉ với những màu sắc: cam, đỏ, hồng, tím…

Nón đã trở thành môt người bạn hết sức gần gũi hằng ngày. Nón không chỉ che nắng, che mưa mà còn giúp xua đi cái nắng hè oi bức. Nón là vật bất li thân với các bà, các chị. Nón theo người nông dân ra đồng. Những cô thiếu nữ mặc áo dài trắng đội nón lá bước đi trên phố làm bao ánh mắt phải ngước nhìn chính là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống.

Từ lâu, nón đã không chỉ là một người bạn gần gũi mà còn trở thành một nét đẹp trong văn hóa của người Việt Nam. Nhìn thấy hình ảnh chiếc nón lá, ta như thấy cả tâm hồn của người Việt, những con người chất phác, hiền lành, đôn hậu.

Tham Khảo Bài 😍 Tả Cây Bút Máy 😍15 Bài Văn Tả Cây Bút Mực Hay Nhất

Học hỏi cách diễn đạt sinh động, mạch lạc thông qua bài văn ngữ văn 9 thuyết minh về chiếc nón lá chi tiết.

“Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Đã từ lâu chiếc nón lá đã đi vào nhiều bài thơ, bài ca Việt Nam và trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ thanh mảnh, nhẹ nhàng của chiếc nón bài thơ, cùng với tá áo dài bay trong gió đã làm tôn lên vẻ đẹp của người con gái.

Từ xa xưa, nón lá đã hiện diện trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam trong cuộc chiến đấu giữ nước, qua nhiều chuyện kể và tiểu thuyết. Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nghề chằm nón vẫn được duy trì và tồn tại đến ngày nay. Ở Huế hiện nay có một số làng nghề chằm nón truyền thống như làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy) đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế),..Những làng nghề này đã tạo ra các sản phẩm công phu cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch.

Để làm được một chiếc nón lá đẹp, người làm nón phải tỉ mỉ từ khâu chọn lá, phơi lá, chọn chỉ đến độ tinh xảo trong từng đường kim mũi chỉ. Lá có thể dùng lá dừa hoặc lá cọ.

Sau khi xếp lá cho đều và ngay ngắn lên vành, người ta bắt đầu chằm nón. Nón được chằm bằng sợi nilông dẻo, dai, săn chắc và phải có màu trắng trong suốt. Các lá nón không được xộc xệch, đường kim mũi chỉ phải đều tăm tắp. Khi nón đã chằm hoàn tất người ta đính thêm vào chớp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên cho chiếc nón. Sau đó mới phủ lên nón lớp dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền.

Ở vòng tròn lớn bằng nan tre dưới đáy hình chóp, khoảng nan thứ ba và thứ tư, người thợ sẽ dùng chỉ kết đối xứng hai bên để buộc quai. Quai nón thường được làm bằng lụa, the, nhung,…với màu sắc tươi tắn như tím, hồng đào, xanh thiên lí,..càng làm tăng thêm nét duyên cho người đội nón.

Kể về quá trình làm nón lá mà không kể đến nón bài thơ xứ Huế là một thiếu xót. Đặc biệt nón bài thơ của xứ Huế rất mỏng vì chỉ có hai lớp: lớp lá trong gồm 20 lá, lớp lá ngoài cùng gồm 30 lá và lớp bài thơ được đặt nằm ở giữa. Khi xây lá lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp hay xô lệch để nón đạt được sự thanh và mỏng. Khi soi lên ánh nắng, ta đọc được bài thơ, nhìn thấy rõ hình cầu Tràng Tiền hay chùa Thiên Mụ. Chính những chi tiết này đã tạo nên nét đặc trưng cho nón bài thơ xứ Huế.

 Chiếc nón lá không chỉ là vật dụng thiết thân, người bạn thủy chung với người lao động dùng để đội đầu che mưa, che nắng khi ra đồng, đi chợ, là chiếc quạt xua đi những giọt mồ hôi dưới nắng hè gay gắt mà còn là vật làm duyên, tăng nét nữ tính của người phụ nữ. Buổi tan trường, hình ảnh những cô nữ sinh với tà áo trăng tinh khôi, nghiêng nghiêng dưới vành nón lá là lúm đồng tiền làm duyên đã làm say lòng, là cảm hứng nghệ thuật của bao văn nhân, nghệ sĩ,…

Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện nét dịu dàng, mềm mại kín đáo của người phụ nữ Việt Nam đã nhiều lần xuất hiện và đều nhận được những tràng pháo tay tán thưởng của khán giả.

Chiếc nón lá là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam, là một sản phẩm truyền thống và phổ biến trên khắp mọi miền đất nước. Nhiều người Việt xa nước, nơi đất khách quê người trông thấy hình ảnh chiếc nón lá họ có cảm giác quê hương đang hiện ra trước mắt.

Nón lá là hình ảnh bình dị, thân quen gắn liền với tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa đến nay, nhắc đến Việt Nam du khách nước ngoài vẫn thường trầm trồ khen ngơị hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt. Nón lá đã đi vào ca dao, dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của Việt Nam.

SCR.VN Gợi Ý 🌵 Tả Một Đồ Vật Trong Nhà Mà Em Yêu Thích ❤️️ 15 Bài Hay

Để làm bài kiểm tra được điểm cao thì các em học sinh không nên bỏ qua bài văn mẫu thuyết minh chiếc nón lá Việt nam lớp 9 điểm cao mà chúng tôi đã gợi ý sau đây.

“Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng tre”.

Nón lá là một vật dụng quen thuộc đã đi vào thơ ca Việt Nam tự bao giờ. Nón lá đã góp phần tạo nên vẻ đẹp, duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam.

Nón lá Việt Nam có lịch sử lâu đời, hình ảnh tiền thân của nón lá được tìm thấy trên trống đồng Ngọc Lữ và tháp đồng Đào Thịnh. Từ xa xưa do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm mưa nhiều, tổ tiên ta đã biết lấy lá kết vào nhau để là vật dụng đội lên đầu che nắng che mưa. Dần dần chiếc nón lá đã hiện diện như một vật dụng cần thiết trong đời sống sinh hoạt hằng ngày.

Để làm được một chiếc nón lá đẹp thì việc chuẩn bị nguyên liệu cũng rất quan trọng là lá nón, lá buông- một loại lá họ hàng với lá cọ. Ngoài ra còn cần đến tre, nứa, cước. Để làm nón đẹp khâu chọn lá rất quan trọng. Lá nón màu trắng sữa, gân lá màu xanh nhẹ, lá bóng mướt là đẹp nhất. Người ta thường khai thác lá nón ở vùng đồi núi Phú Thọ, Vĩnh Phúc hay vùng đồi núi Việt Bắc, Trường Sơn, Tây Bắc.

Để làm nón người thợ phải vô cùng khéo léo và tỉ mỉ. Người ta dùng 16 vành tre chuốt nhỏ, mỏng, dễ uốn, cuốn lần lượt từ thấp đến cao và nan lớn rồi nan nhỏ để dựng thành khung nón có hình chóp nhọn. Khung nón được làm như vậy sẽ tạo dáng nón thanh thoát, hài hòa làm tôn lên vẻ đẹp của người đội nón. Dân gian có câu “ Đẹp nón nhờ người thắt, đẹp mặt nhờ người khuôn”.

Sau khung làm khuôn là khâu lợp lá nón. Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải thật khéo tay làm sao để nón lá phân bố đều trên khung, hình dáng cân đối và khi khâu lá nón không bị chồng lên nhau. Cuối cùng là công đoạn khâu nón, chỉ khâu bằng loại cước nhỏ trắng muốt. Người khâu phải căn cho mũi chỉ đều tăm tắp, uốn theo vành nón. Người thợ còn kì công thêu hình ảnh những cô thiếu nữ, đóa hoa hay cảnh đẹp quê hương có khi là cả một bài thơ. Một chiếc nón đẹp là cả sự chăm chút của người làm nón.

Ở nước ta có rất nhiều địa phương làm nón lá nổi tiếng. Ở miền Bắc có làng Chuông, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Miền Trung có làng nón Ba Đồn Quảng Nam và đặc biệt là nón bài thơ của Thừa Thiên Huế. Với người Việt Nam đặc biệt là những người nông dân, nón lá là vật dụng cần thiết. Nón lá dùng để che nắng, che mưa khi làm đồng, dùng thay chiếc quạt khi nghỉ giải lao trên đồng ruộng. Với các cô gái, chiếc nón lá cùng với tà áo dài làm tôn lên vẻ kín đáo, dịu dàng.

Nón lá là món đồ trang sức không cầu kì đắt tiền mà đẹp một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc như chính tâm hồn con người Việt Nam. Đâu đâu ta cũng thấy thấp thoáng những chiếc nón lá dù là đi chợ hay đi hội ta đều gặp các bà, các mẹ dưới nón lá nghiêng tre. Nón lá cũng là vật dụng mà mẹ chồng trao cho con dâu trước khi về nhà chồng để cầu chúc cho cuộc sống vợ chồng trăm năm bền chặt. Đó cũng là món quà lưu niệm mà du khách nước ngoài mang về để tặng cho người thân.

Ngày nay có rất nhiều vật dụng như mũ, ô…ra đời dần dần có thể thay thế nón nhưng hình ảnh chiếc nón vẫn chiếm một vị rí quan trọng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam để rồi mỗi chúng ta cần có thái độ tôn trọng nét đẹp truyền thống này.

Xem Thêm Bài 🌹 Tả Đồ Vật Lớp 5 Mà Em Yêu Thích ❤️️ 15 Bài Văn Tả Hay Nhất

Thuyết Minh Về Cách Nấu Cơm, Cơm Chiên, Rang ❤️️14 Bài Hay

Thuyết Minh Về Cách Nấu Cơm, Cơm Chiên, Rang ❤️️ 14 Bài Hay ✅ Tuyển Tập Văn Mẫu Đặc Sắc Giới Thiệu Về Món Cơm Ngon Trong Bữa Ăn Hằng Ngày.

I. Mởi bài: Giới thiệu vấn đề thuyết minh – cách nấu cơm.

II. Thân bài: Thuyết minh về cách nấu cơm.

-Nguyên liệu: Gạo, nước.

-Cách thực hiện:

Vo sạch gạo sau đó cho vào nồi rồi đổ nước vừa đủ

Nồi nấu cơm bằng bếp củi là những nồi dày, giữ nhiệt giúp cơm chín

Sau đó bắt lên bếp (đun lửa to hay nhỏ là tùy người, tốt nhất là lửa trung bình)

Chú ý trông chừng bếp không khi sôi nước sẽ trào hết ra ngoài.

Khi sôi lấy đũa để đánh đều nồi cơm lên.

Chờ cho khi cơm cạn nước thì tắt hết lửa (nhiệt lượng từ than sẽ làm có cơm chín)

Ở nhiều miền quê củi được thay bằng rơm rạ.

Sau khi cơm cạn nước thì vùi cơm trong tro bếp (vừa nấu) để làm cho cơm chín.

Có thể nấu cơm bếp củi bằng cách nấu cơm bằng bếp ga. Khi cơm cạn nước thì để lửa thật nhỏ, chờ khoảng 15 phút là được

Nếu cơm có dấu hiệu bị sống thì đổ lên đó một ít rượu trắng.

-Nêu giá trị và cảm nhận của bản thân về món cơm.

III. Kết bài: Khẳng định lại giá trị của món cơm.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Thuyết Minh Về Cách Làm Một Món Ăn 🌟 23 Bài Văn Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cách nấu cơm hay nhất sẽ là tư liệu văn mẫu hữu ích giúp bạn đọc tham khảo được cách diễn đạt khéo léo, giàu hình ảnh.

Nấu cơm chắc chẳng còn là công việc xa lạ gì đối với mỗi gia đình nữa. Bởi cơm là món ăn chính hằng ngày trong bữa ăn của chúng ta. Dù vậy nhưng chắc mọi người chỉ quen với việc nấu cơm bằng nồi cơm điện chứ không mấy ai còn rõ cách nấu cơm bằng bếp củi như ông bà ta thời xưa nữa . Chính vì thế, hôm nay, tôi sẽ giới thiệu và nói rõ hơn cho mọi người hiểu cách nấu cơm bằng bếp củi.

Để nấu được cơm bằng bếp củi thì khâu chuẩn bị là phần không thể thiếu. Chúng ta phải chuẩn bị củi khô, nồi gang , đũa bếp, chuẩn bị thêm một cái rế tre, gạo (tùy thoe khẩu vị mà bạn chọn lựa loại gạo cho phù hợp).

Khi nấu cơm, các loại củi có độ bền, cứng để sau khi cháy tạo than giữ nhiệt cho bếp. Sử dụng thêm các loại củi có đường kính khoảng ngón tay cái (giúp bắt lửa tốt): như củi từ cây nhãn (loại cây này thường được sử dụng để làm than củi). Nấu cơm bằng củi thì sử dụng nồi gang, nhôm là tốt nhất. Đũa bếp (hay còn gọi là giá xới cơm): Dùng để xới cho cơm tơi ra sau mang ra khỏi bếp, làm cho cơm tơi ra, không dính cục, hoặc có thể dùng để khuấy đều nồi khi thấy lửa cháy không đều (nhận biết bằng cách mở nắp xem độ sôi trong nồi có đều không).

Tùy theo loại gạo mà có lượng nước vừa phải để gạo có thể chín tới (hạt gạo nở đều, không quá lớn). Về lượng nước bạn nên tham khảo ý kiến, kinh nghiệm của các chủ cửa hàng gạo. Kinh nghiệm nấu hàng ngày thì khoảng 1 lóng ngón tay trỏ (tăng hoặc giảm tùy theo loại gạo). Sử dụng các loại lá phơi khô như lá dừa là một vật dùng để mồi lửa hữu hiệu nhất khi bạn nấu cơm củi. Duy trì ngọn lửa đều đặn, không quá lớn và cháy đều, ngọn lửa không tập trung một điểm. Khi nấu đậy kín nắp nồi.

Nắp nồi cơm xuất hiện bọt, tiếng nước sôi: Giở nắp ra. Có 2 lựa chọn khi cơm sôi: chắt nước ra, hoặc giữ yên đấy cho gạo ngấm hết trở lại. Thường để gạo ngấm hết sẽ ngon hơn đấy (nếu lượng nước vừa đủ, lượng nước nhiều bạn phải chắt ra bớt để không bị nhão).

Quan sát sau khi nồi cơm vừa cạn nước, chỉ còn một ít bong bóng khí nổi lên, để lộ ra bề mặt gạo đã nở trong nồi thì đậy nắp, mang những thanh củi đang cháy có ngọn lửa ra ngoài, chỉ sử dụng than có sẵn trong bếp khi bắt đầu nấu. Dùng dụng cụ bếp trải đều than ra khắp bề mặt đáy nồi để nồi cơm có thể nở đều. Nên để vừa đủ than thôi, nhiều quá sẽ khét (vì khi nồi cơm cạn nước, sử dụng nhiệt độ từ than khoảng 15 phút là nồi cơm của bạn đã hoàn tất).

Chuẩn bị một ít lá dứa non, tươi, rửa sạch: Đặt vào nồi cơm sau khi nồi cơm vừa cạn nước, đậy nắp lại. Khi dùng là bạn đã có một nồi cơm thơm ngon. (tùy theo sở thích mùi vị mà xác định có cho lá dứa vào hay không). Nấu cơm bằng củi sẽ có cơm cháy (rất ngon nếu lửa vừa phải). Độ vàng, mềm mại và kết dính của cơm rất tuyệt.

Chỉ vài bước đơn giản như vậy là bạn đã nấu được một nồi cơm thật thơm ngon bằng bếp củi rồi .Như vậy là bạn đã có một nồi cơm ngon dẻo với cách nấu cơm bằng bếp củi rồi đó. Quá đơn giản và nhanh chóng phải không nào. Áp dụng cách nấu cơm này nếu bị mất điện hoặc hỏng nồi cơm điện thì quả thực là một điều thật tuyệt vời cho chúng ta.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bài văn thuyết minh về phương pháp cách làm nấu cơm ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập và chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp.

Ai cũng chỉ nghĩ nấu cơm là việc vo sạch gạo, thêm lượng nước vừa đủ cho vào nồi vậy là xong, thực sự thì đơn giản vậy thôi những mỗi người sẽ cho ra một nồi cơm khác nhau không khô thì nhão, hay chín đủ thì bị mất chất. Vì vậy kĩ năng nấu cơm cũng rất quan trọng.

Sự tiện dụng của nồi cơm điện rất hữu ích với thao tác đơn giản lại rút ngắn được thời gian nên hầu hết mọi người đều sử dụng để nấu cơm. Nhược điểm của việc nấu gạo dẻo ở nồi cơm điện là trong một thời gian gạo sẽ bị ngâm nước và nở ra và đặc biệt là các loại vitamin ở lớp cám hòa lẫn, đến lúc nước sôi thì đã bị mất chất.

Vì vậy có thể đợi nước sôi mới cho dẻo vào, khi gặp nhiệt độ cao protein sẽ bị co lại hạt gạo sẽ không bị vỡ mà các chất dinh dưỡng sẽ không bị mất trong quá trình nấu. Thay vì sử dụng nước lạnh ngay từ đầu thì nên dùng nước ấm để nấu, không mất chất lại cho cơm ngon dẻo. Dùng nước đúng tỉ lệ , cần lưu ý thêm thường nấu gạo dẻo sẽ cần ít nước hơn gạo thường nên tránh bị cơm nhão.

Nấu bằng nồi cơm điện nhanh tiện dụng, và được áp dụng rộng rãi hơn so với cách nấu cơm truyền thống. Gạo ngon đã đủ chưa? Đủ nhưng sẽ thành thiếu nếu không có nghệ thuật nấu. Với những lưu ý quan trọng khi nấu cơm này sẽ giúp bạn có những bữa cơm ngon bên gia đình.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Thuyết Minh Về Món Ăn Mà Em Yêu Thích 🍀 17 Mẫu Hay

Bài văn mẫu thuyết minh về cách nấu cơm bằng bếp củi sẽ mang đến cho bạn đọc những thông tin cần thiết về cách nấu cơm truyền thống.

Cơm trắng là thực phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày, cung cấp tinh bột, protein, và khoáng chất.

Ngoài cách nấu cơm bằng nồi cơm điện ra thì nấu cơm bằng bếp củi cũng được rất nhiều người áp dụng. Nấu bằng bếp củi nên sử dụng nồi bằng gang là ngon nhất vì có độ dày và giữ nhiệt tốt cơm sẽ không bị cháy và chín đều. Khi đun cơm nên duy trì ngọn lửa đều đặn không quá lớn hoặc quá nhỏ. Khi cơm bắt đầu sôi cần mở nắp nồi ra tránh bị trào nước.

Khi quan sát thấy nồi cơm đã cạn nước thì đảo nhẹ cho cơm ráo nước hẳn rồi đậy năp nồi lại, lúc này dùng than có sẵn trong lúc đun để nồi cơm ủ đều trên mặt than ủ cơm khoảng 15 phút là cơm đã chín.

Nấu cơm bằng củi sẽ rất ngon. Độ vàng ở đáy nồi là lớp cơm cháy giòn tan, cơm thơm độ chín đều và chín vừa tới.

SCR.VN tặng bạn 💧 Thuyết Minh Về Món Ăn Dân Tộc Truyền Thống 💧 15 Mẫu Hay

Tham khảo bài văn thuyết minh về cách nấu cơm củi đặc sắc với những lưu ý quan trọng để nấu thành công một món cơm ngon.

Tuy bếp điện được sử nhiều nhưng có người vẫn muốn ăn bếp củi , mang một hương vị dân gian đậm đà. Nấu cơm củi phải canh kỹ nếu không cơm sẽ dễ bị khê hoặc cháy xén.

Trong quá trình nấu cơm để lửa cháy đều, đến khi sôi rút củi để lửa nhỏ, xới cơm đều tay, đậy kín nắp để cơm chín hơi. Hoặc nên nấu nước sôi trước, xong cho gạo đã vo vào đậy nắp, đợi một thời gian cơm chuẩn bị cạn gạt lửa từ từ, đậy kín lại. Tuy nhiên các loại nồi bằng kim loại khi gặp nhiệt độ cao sẽ dễ dàng tham gia phản ứng hóa học, đặc biệt nên tránh nồi làm bằng nhôm

Có lẽ cơm dẻo ngon nhất là khi được nấu bằng nồi sành, sứ tuy rất vất vả nhưng cơm sẽ rất ngon và thơm. Cách nấu cũng giông như nấu nồi gang và kim loại ,tuy nhiên nồi đất thường dày và dẫn nhiệt kém nên phải canh lửa sẽ lâu hơn. Để cơm thơm ngon, dẻo hơn thì trong dân gian vẫn dùng nước dừa để nấu, cho cơm vừa ngọt lại béo bùi rất hấp dẫn. Ngoài ra có thể dùng thêm nước chè để nấu, cơm được nguyên vị, có màu sắc đẹp lại rất tốt cho sức khỏe.

Cơm được nấu trên bếp củi là ngon nhất. Cảm giác mở vung nồi cơm vừa chín tới đích thị là cảm giác tuyệt diệu mà không có phương pháp nấu cơm hiện đại nào thay thế được.

Tiếp tục đón đọc 🌹 Thuyết Minh Về Món Ăn Ngày Tết 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất

Nồi cơm điện hiện là một thiết bị rất tiện dụng giúp bạn và gia đình có những bữa cơm ngon.

Đầu tiên để nấu được cơm ngon, chúng ta cần chọn mua gạo sạch, chất lượng, vào mùa và ngon. Gạo ngon đúng nghĩa là gạo mới, nên chọn gạo theo mùa không nên mua gạo đã để lâu vì như vậy chúng sẽ không còn chất dinh dưỡng, mất đi vị ngọt tự nhiên, không còn mùi thơm vốn có của gạo nữa.

Khi chọn gạo nên chọn gạo có hạt đều, tròn và bóng. Không nên chọn gạo bị gãy, nát và có màu vàng, đen vì đó là gạo bị hư, để lâu. Không chọn gạo có màu quá trắng hay bị bạc bụng vì rất có thể đó là gạo được tẩy trắng hoặc xát quá kĩ khiến lớp cám gạo bên ngoài bị bay mất.

Gạo phải có mùi thơm nhẹ nhàng, sẽ ngửi thấy được hương thoang thoảng và không có mùi ẩm mốc hoặc mùi lạ. Có thể nếm thử gạo để biết được là gạo ngon hay không. Cho hạt gạo vào miệng nhai, nếu gạo có vị ngọt nhẹ, cảm nhận được độ bột bột, thơm thơm thì là gạo ngon. Tùy loại gạo bạn nấu, và tùy bạn muốn ăn cơm nhão, khô hay vừa mà thêm nước sao cho phù hợp.

Cho nước vào nồi cơm đã có gạo, dùng tay nhẹ nhàng vo gạo rồi khuấy đều để cát bụi, vỏ trấu, sạn còn bám trên hạt gạo, chắt nước ra rồi tiếp tục chế nước sạch vào. Nhiều người thường vo gạo quá nhiều lần trước khi nấu để gạo sạch hơn, nhưng không biết rằng khi vo gạo nhiều sẽ làm chất dinh dưỡng, chất khoáng sẽ bị hao hụt. Do đó, thay vì vo gạo nhiều lần, chúng ta chỉ nên vo 1 lần, nhẹ tay cho bụi bẩn và tạp chất trôi ra là được.

Trước khi nấu bạn cần để ý rải đều gạo sao cho gạo nằm dưới mực nước. Bạn có thể dùng đũa cả hay muôi nhựa để gạt những hạt gạo còn dính xung quanh thành nồi xuống nước. Không để gạo bám ở thành nồi, có thể gây cháy khi nấu. Lau bên ngoài lòng nồi bằng khăn khô, đảm bảo bề mặt nồi khô ráo, đặt lòng nồi vào trong thân nồi, xoay nhẹ sao cho đáy nồi tiếp xúc trực tiếp với mâm nhiệt. Đóng nắp lại, cắm điện và bật công tắc.

Khi cơm chín, công tắc sẽ chuyển sang chế độ giữ ấm. Lúc này, bạn nên để nồi nấu thêm khoảng 10 – 15 phút nữa, việc này sẽ giúp cơm khô bề mặt, chín đều và hạt cơm không bị dính vào thân nồi. Sau đó dùng muỗng hay đũa cả xới cơm lên sẽ giúp cơm tơi và cho ra bát để thưởng thức.

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, cuộc sống của con người cũng ngày càng hiện đại hơn. Với sự bao phủ của các thiết bị điện tử thông minh, đời sống được cải thiện bởi những phát minh mới. Một trong những phát minh hữu ích cho đời sống sinh hoạt là chiếc nồi cơm điện.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Bài văn thuyết minh về cách nấu cơm tẻ sẽ mang đến cho bạn đọc những ý văn hay và giàu ý nghĩa biểu đạt.

Cơm tẻ là thứ gắn bó mật thiết với người Việt từ ngàn đời. Cơm tẻ với người Việt đương nhiên là thức ăn quan trọng số một, như bánh mỳ với người Âu, Mỹ vậy. Người ta ăn cơm tẻ suốt cuộc đời và không thấy chán.

Các bữa sáng, trưa, tối đều đơn giản gọi là “ăn cơm” vì thành phần quan trọng và nhiều nhất trong các bữa ăn là cơm. Rau, thịt, cá là những thứ phụ hoạ hoặc thỉnh thoảng có cơm nếp góp mặt ở những dịp giỗ tết thì gọi là ăn cho vui, đổi bữa. Còn ăn cơm được đối với người Việt nghĩa là còn khoẻ mạnh, cảm thấy bình thường. Không ăn được cơm nghĩa là đang bị ốm hoặc cơ thể có những biểu hiện bất thường. Ngày trước, khi có ai bị ốm người ta thường hỏi thăm bằng câu: “Đã ăn cơm được chưa?” Trả lời đã ăn cơm được tức là mọi việc đã khá hơn, người bệnh dần khoẻ lại.

Nấu cơm là một trong những kĩ năng quan trọng bậc nhất báo hiệu đứa trẻ dần trưởng thành. Ngày xưa nhà nào cũng nấu cơm bằng bếp củi hoặc sang hơn thì bằng bếp than. Kĩ năng nấu cơm bao gồm từ việc đong gạo trong chum ra, bao nhiêu bát, bò (ống) gạo thì đủ cho gia đình ăn, đấy là chưa tính đến việc độn sắn, khoai hoặc các thứ khác.

Gạo đong ra đựng trong rá tre để vo cho sạch. Thao tác vo gạo gồm khuấy gạo lên trong chậu nước để đãi bỏ những hạt thóc, sỏi, vỏ trấu hoặc những con mọt béo mầm sống kí sinh trong gạo, để gạo trắng hơn một chút. Cho gạo vào nồi thì cũng cần đo mực nước sao cho vừa đủ. Vì ít nước thì cơm khô, nhiều nước thì cơm nhão. Bọn trẻ con thường lấy ngón tay trỏ nhúng vào nồi cơm để tính mực nước theo lời dặn của mẹ.

Nồi cơm đặt lên bếp lửa hoặc bếp than và điều chỉnh lửa đúng độ. Nếu lửa cháy kém quá, cơm lâu sôi, hạt gạo sẽ trương phềnh lên thành những quả núi nhỏ trong nồi, cơm nhạt nhẽo, bùng bục. Nếu lửa cháy to quá, nhất là lúc đang sôi thì cơm sẽ khê, khét.

Khi nào cơm sôi hẳn thì lấy đũa cả khuấy một lượt để nước và gạo được trộn đều, dễ chín. Nồi cơm sôi thì mở vung ra để nước khỏi trào và quan sát những cái bong bóng nổi lên rất thích mắt. Khi cạn nước những vết sôi ấy để lại những cái hút nhỏ như lỗ con chạch thở trên mặt bùn. Cơm là loại lương thực được chế biến khá đặc thù, bảy mươi phần trăm cơm được chín khi nước sôi, ba mươi phần trăm còn lại chín bằng hơi nóng lúc ủ.

Khi nồi cơm cạn nước thì rút bớt củi ra để vần cơm. Than củi để vần cũng phải đủ độ, nhiều quá thì cơm bị cháy mà ít quá thì sống sượng. Khi nào đứa trẻ nấu được một nồi cơm không khô, không nát thì coi như đã đạt yêu cầu. Kĩ năng nấu cơm không phải làm một hai lần là được mà phải rèn luyện, quan sát và rút kinh nghiệm. Nếu ẩu tả, chủ quan, rất dễ dẫn đến tình trạng: Trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét! Người ta cũng thường hỏi thăm con cái nhà nhau bằng câu: Thằng cu nhà chị đã biết làm gì rồi? Dạ, đã biết nấu cơm rồi cô ạ. “Đã biết nấu cơm” là một cụm từ rất đáng tự hào và bọn trẻ của ngày xưa, cả trai và gái đều phải học nấu cơm.

Cơm chín rồi, dọn mâm bát ra, cả nhà ngồi quây quần. Nồi cơm vừa mở vung, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt như khói toả, dùng đũa cả bằng tre đánh cơm tơi đều ra rồi xới vào từng bát cho mọi người. Người ngồi đầu nồi thường là bố mẹ, khi con cái trưởng thành thì anh chị lớn nhất nhận lấy vị trí ấy thay cha mẹ. Người ngồi đầu nồi rất quan trọng vì phải điều tiết lượng cơm cho cả nhà và phân chia sao cho hợp lý (cơ bản là cơm ít quá và đôi khi rất nhiều khoai sắn độn vào để ăn cho no). Cái câu: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” cũng nảy sinh từ thực tế này.

Nếu trong nhà có một ông bố thích ăn cơm cháy thì người nấu cơm cần thao tác thêm vài công đoạn. Để có mảng cơm cháy vàng ruộm, giòn tan thì cần phải nấu cơm bằng nồi gang vì gang là thứ giữ nhiệt tốt và thường được đúc dầy, nấu cơm rất tiện. Để có vầng cháy thơm ngon thì lúc vần cơm cần giữ lượng than ủ nhiều hơn một chút và duy trì lâu hơn. Công đoạn tạo cháy là cả một nghệ thuật vì có khi miếng cháy mỏng quá, non quá hoặc cháy khét đen sì cũng như phải chọn loại gạo thích hợp. Đó là thứ cơm cháy truyền thống chính cống chứ không giống kiểu cơm cháy được làm bằng máy, xốp phồng, chiên mỡ như bây giờ.

Tất nhiên cái khoái thú có vầng cơm cháy giòn tan ăn tráng miệng thì chỉ nấu bếp củi, bếp than mới có. Bây giờ thì nấu cơm dễ quá, có nồi cơm điện, chỉ cần cho gạo, nước vào nồi, cắm điện, bấm nút là xong. Nồi cơm điện đã được tính toán lập trình, không cần mở vung ra xem cơm đã sôi hoặc chín chưa làm gì. Công đoạn nấu hoàn tất, nồi cơm sẽ báo đèn hiệu và cứ thế mà ăn.

Cơm tẻ tuy bình dân nhưng hợp tạng với hầu như tất cả các món ăn khác. Nghèo thì ăn cơm với muối vừng, muối lạc, cà muối, canh cua. Thậm chí với bát cơm trắng chỉ cần dưới tí nước mắm trộn đều cũng đủ ấm bụng người nghèo khó. Sang hơn thì ăn cơm với cá kho, giò, chả, canh riêu, thịt kho. Đã có bát cơm tẻ vào bụng thì chắc dạ, làm việc cả buổi không phải lo lắng, tơ tưởng thứ khác. Bởi vậy mới có câu:

Cơm tẻ là thức ăn trụ cột, là nền tảng quan trọng nhất trong bữa ăn người Việt. Người ta ăn cơm hàng ngày, quen thuộc đến mức không cần nhớ nó có từ bao giờ và việc nấu cơm ra sao. Cứ như thế từ ngàn đời, cơm đã trở thành người bạn thân thiết và không thể thiếu được của người Việt. Và chẳng phải hạt cơm giống như mẹ cha của chúng ta đó sao?

Giới thiệu đến bạn 🌟 Thuyết Minh Về Món Thịt Kho Tàu 🌟21 Bài Thịt Kho Hột Vịt

Cơm lam là một trong những món ăn truyền thống của người đồng bào miền núi với cách nấu độc đáo. Đón đọc bài văn thuyết minh về cách làm cơm lam để tìm hiểu cụ thể hơn về món ăn đặc sản này.

Nói đến ẩm thực Việt thì có lẽ người Việt Nam nào cũng cảm thấy tự hào bởi chúng ta có quá nhiều những món ăn ngon. Từ ẩm thực đường phố cho tới những nhà hàng, quán ăn sang trọng. Đâu đâu cũng có thể tìm được một món ăn hấp dẫn. Nói đến đặc sản thì mỗi người cũng có thể kể tên được món ăn đặc sản của quê hương mình. Một trong số những món ăn của người miền núi Tây Bắc để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất đó chính là món cơm lam.

Việc đầu tiên trước khi nấu là phải chọn được gạo ngon đã. Gạo nếp để làm cơm lam phải là loại gạo nếp cái hoa vàng bởi chúng rất thơm, hạt tròn và mẩy. Gạo phải được vo cho sạch sau đó đem ngâm với nước trong khoảng từ 6 đến 8 tiếng. Phải ngâm lâu như vậy là để khi nấu xong cơm được dẻo và ngon. Nếu không ngâm, gạo sẽ không thể nở và ăn sẽ bị khô. Sau đó, vớt gạo ra và để cho ráo nước. Để cho ra được món cơm lam thơm ngon thì chỉ gạo thôi là chưa đủ. Người Thái còn giã nhỏ gừng và muối sau đó đem trộn với gạo đã ngâm nước. Nhờ vậy mà khi ăn cơm ta thấy cơm có vị đặm và có hương thơm của gừng.

Một điểm đặc biệt của cơm lam là món ăn đặc sản này được nấu trong những ống nứa. Những ống nứa được lựa chọn để làm cơm lam là ống nứa tươi, vỏ ngoài của chúng có màu xanh đậm, bên trong rỗng, một đầu là mắt nứa. Ông nứa dài khoảng 30cm là hợp lý.

Tiếp theo, người nấu sẽ từ từ đổ gạo vào ống nứa và đổ nước vào ngập mặt gạo. Nhiều nơi thường đổ nước dừa để khi ăn có hương thơm của dừa. Muốn cơm lam được ngon thì không nên đổ gạo đầy ống mà nên chừa lại một đoạn để đến khi gạo nở lên đầy ống là vừa. Cuối cùng là lấy lá chuối bịt kín miệng ống nứa lại và đem đi nướng trên bếp lửa. Nấu cơm lam cầu kì hơn nấu cơm bình thường ở chỗ chúng ta phải canh bếp liên tục. Khi nướng, phải xoay ống nứa để cơm được chín đều.

Cơm lam sau khi nướng chín, người ta thường dùng dao róc bớt vỏ ngoài đi để chỉ còn một lớp vỏ nứa mỏng ở bên trong. Khi ăn, chỉ cần dùng tay tách lớp vỏ này ra là được. Ăn cơm lam ngon nhất là chấm với muối vừng.

Vốn dĩ món ăn này là để dùng cho những người đi rừng. Mỗi lần đi rừng thì phải vài ngày mới về. Vì vậy mà mang cơm lam đi là nhanh và gọn nhất. Cho tới ngày nay, món ăn này đã trở thành đặc sản và được người dân vô cùng yêu thích. Nếu đi du lịch ở vùng Tây Bắc chẳng hạn như lên Hòa Bình, bạn sẽ không thể nào từ chối được món ăn tuyệt vời này. Cơm lam cũng được dùng để làm quà cho những người thân ở nhà. Nhiều người muốn ăn nóng thì thường tách cả cây cơm ra khỏi ống nước rồi cho lên bếp rán giòn. Đó cũng là một cách ăn thú vị của người miền xuôi.

Ngày nay, bên cạnh những sự du nhập của món âu hay các món ăn đặc sắc đến từ các quốc gia trên thế giới. Thật tuyệt vời là chúng ta vẫn giữ được nét ẩm thực của riêng mình. Nếu như có cơ hội, bạn hãy thưởng thức hết tất cả các món ăn đặc sản của Việt Nam. Mỗi một món ăn lại ẩn chứa một câu chuyện, một ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc.

Đọc nhiều hơn 🌻 Thuyết Minh Về Canh Khổ Qua Nhồi Thịt 🌻 15 Bài Hay Nhất

Tham khảo bài văn thuyết minh về cách làm cơm chiên Dương Châu – một món ăn bắt nguồn từ Trung Hoa nổi tiếng khắp thế giới.

Cơm chiên Dương Châu bắt nguồn là một món ăn gia đình của Trung Quốc, được chế biến từ cơm nguội và các thực phẩm còn thừa lại ở bếp và sau mỗi bữa ăn. Nguồn gốc của món ăn nổi tiếng này vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi. Một số nói rằng, món ăn xuất hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông bởi những người đầu bếp của vùng Dương Châu (tỉnh Giang Tô).

Một số người khác cho rằng, món ăn này bắt nguồn từ Hoàng đế nhà Tùy, ông đã truyền bá món cơm chiên trứng yêu thích của mình tới Dương Châu, khi ông vi hành qua đây. Tuy nhiên cũng có thông tin nói rằng, cơm chiên Dương Châu bắt nguồn từ dân gian. Ngoài ra, dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà các nhà sử học cho răng món cơm chiên dương châu này đã xuất phát từ thời Xuân Thu và được những người dân chèo thuyền trên kênh đào Dương Châu ăn hàng ngày.

Bởi vào thời điểm lúc đó, cuộc sống còn nghèo khổ, không có đủ lúa gạo để ăn nên người ta thường tận dụng cơm thừa của bữa tiệc trước để ăn vào bữa sau cho tiết kiệm ngân sách và chi phí. Người dân sẽ chiên cơm trắng cùng với trứng và hành lá, từ này mà mang tên gọi là Cơm chiên trứng. Đến thời nhà Minh thì những đầu phòng bếp ở Dương Châu đã cho thêm vào món cơm chiên trứng một số loại gia vị khác để làm tăng mùi vị cho món ăn và tạo thành món Cơm chiên Dương Châu.

Mãi đến thời nhà Thanh vào năm 1754, thì đầu phòng bếp Y Bỉnh Thụ đã thực hiện một cách chiên cơm chiên dương dương ngon hơn và hấp dẫn hơn với nhiều nguyên liệu khác nhau. Từ lúc này mà món ăn này trở nên nổi tiếng ở Trung Quốc và một số nước châu Á khác.

Cơm chiên dương châu là món ăn thường được chọn làm khai vị trong các bữa tiệc, bữa ăn. Với nguyên liệu dễ dàng, chế biến nhanh chóng mà hương vị thơm ngon nên được nhiều người yêu thích. Các nguyên liệu thường được sử dụng khi làm món cơm chiên này là: thịt, các loại chả, xá xíu, lạp xưởng, trứng gà, tôm, đậu Hà Lan, cà rốt, tỏi, hành lá, các loại gia vị,… và tất nhiên cơm trắng là nguyên liệu chính không thể thiếu được rồi.

Cách xào cơm chiên dương châu cũng không phải là khó. Bước đầu tiên vô cùng quan trọng trước lúc nấu ăn là phải sơ chế nguyên liệu. Cà rốt cần gọt vỏ, rửa sạch, cắt hạt lựu. Chưa hết, báo trứng sẽ bao đều hạt cơm và khi chiên sẽ lên màu vàng đẹp mắt chứ không bị rời cơm và trứng như cách phổ thông. Sau đó đem đậu hà lan và cà rốt luộc qua nước sôi 1 phút để mềm ra, khi xào nhanh chín hơn. Lạp sườn cũng đem luộc sơ qua, sau đó thái hạt lựu.

Tiếp đến, đập 2 quả trứng gà vào bát, cho thêm một muỗng hạt nêm, đánh đều. Dùng chảo để rán trứng cho chín rồi đêm thái sợi nhỏ. Sau đó, sử dụng chảo vừa rán trứng, cho thêm một ít dầu ăn vào, dầu nóng thì cho hỗn hợp hành tỏi băm nhuyễn vào phi thơm. Sau đó cho lạp sườn vào xào cho hơi săn một chút thì cho những nguyên liệu khác vào hòn đảo đều tay. Khi rau củ đã chín thì cho cơm nguội và trứng đã thái vào xào chung. Nêm nếm gia vị vừa ăn rồi đảo cơm liên tục để các nguyên liệu nếm gia vị.

Lưu ý, lúc chiên cơm cần để lửa hơi to và nhớ đảo đều tay cho đến khi cơm hơi săn lại sẽ bùi và thơm hơn. Khi cơm đã săn lại, bạn cho các nguyên liệu phía trên vào. Nhớ cho mắm, muối sao cho vừa miệng. Đảo thêm 3 – 5 phút nữa thì tắt bếp. Mắm sẽ giúp cơm sau khi chiên dậy mùi hơn. Cuối cùng, khi cơm chiên đã chiên xong thì cho vào đĩa, cho thêm hành lá và rau ngò vào trang trí, sau đó thì bạn cũng có thể thưởng thức món ăn cực thơm ngon này. Bạn có thể ăn kèm với nước tương pha ớt hoặc tương ớt đặc để tạo vị ngon đậm đà.

Tuy nhiên, để có được một món cơm chiên chuẩn Dương Châu, cần lưu ý một vài điểm. Theo đó, cần nấu cơm chín và để nguội, nấu cơm hơi khô một chút thì khi chiên cơm sẽ tơi và ngon hơn. Có thể tận dụng cơm nguội từ hôm trước. Gạo để nấu cơm phải là gạo hạt dài, khi nấu sẽ săn chắc. Không nên dùng gạo dẻo để chiên. Tôm tươi nên chọn tôm súm, vì giống tôm này to và chắc thịt. Thịt lợn nướng nếu không có thì thay bằng lạp xưởng, xúc xích hoặc dăm bông đều được. Ngô sẽ giúp thành phẩm có độ bùi, ngọt, giòn.

Đặc điểm đặc trưng của món cơm chiên dương châu là được nấu bằng rất nhiều nguyên liệu có sắc tố nổi bật khác nhau. Chính vì vậy mà chưa nói đến mùi vị thì vẻ bề ngoài của món ăn đã và đang tạo sự hấp dẫn cực kỳ lớn rồi. Tuy nhiên sắc tố của những loại nguyên liệu được sử dụng trong món cơm chiên này sẽ không chỉ có tác dụng làm tăng mùi vị hay trang trí cho món ăn. Mà sắc tố trong món cơm chiên còn thể hiện sự tương quan của tử vi ngũ hành âm khí và dương khí vô cùng rõ ràng.

Người Trung Quốc thường rất xem trọng tử vi, chính vì vậy mà trong mỗi món ăn người ta cũng thường vận dụng quan niệm âm khí và dương khí tử vi ngũ hành để thực hiện món ăn. Như vậy mà món cơm chiên dương châu không chỉ tạo được mùi vị ngon miệng, thơm ngon, hấp dẫn mà còn làm cân bằng âm khí và dương khí trong cơ thể con người. Cụ thể hơn, cơm chiên Dương Châu là món ăn thơm ngon lại rất tốt cho sức khỏe.

Với sự kết hợp của cơm cùng các nguyên liệu rau củ và tôm, trứng, lạp xưởng…, chỉ cần một món cơm chiên Dương Châu cũng đủ dinh dưỡng cho một bữa ăn, cung cấp cả chất đạm, chất béo, vitamine cho cơ thể mà không cần thêm ăn kèm thức ăn khác. Vì thế, cơm chiên Dương Châu không những là món ăn ngon bổ dưỡng mà còn rất tiện lợi để thưởng thức. Múc muỗng cơm chiên Dương Châu với màu sắc hấp dẫn của rau củ, cảm nhận vị thơm ngon tròn vị của các loại gia vị, vị bùi của các loại rau, vị béo ngậy thơm của trứng, dư vị để lại nhớ mãi không thôi.

Cơm chiên Dương Châu đã trở thành những sản phẩm truyền thống Trung Quốc và vượt xa biên giới quê nhà, trở thành biểu tượng của từng địa phương nước này. Ngày nay cơm chiên Dương Châu giờ là một loại cơm chiên nổi tiếng thế giới, món ăn ngon và nổi tiếng đến nỗi hầu như tất cả các nhà hàng Trung Quốc nào cũng có cả.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Bài văn thuyết minh về cơm chiên Dương Châu ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh tham khảo cách hành văn súc tích.

Hầu hết cơm chiên dương châu phổ biến được làm món chính trong bữa ăn, có tên gọi khác là: “cơm chiên vàng bạc” được nhiều người ưa chuộng và phá phổ biến trong thực đơn món ăn mỗi ngày của chúng ta. Ở Việt Nam cơm chiên dương châu có giá thành rất rẻ, ngon, có thể làm tại nhà thế nên nó được nhiều người trên khắp thế giới yêu thích.

Nguồn gốc của món ăn nổi tiếng này vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi. Thế nhưng công thức lại được lưu truyền vào những năm gần đây không xa cũng không gần. Cơm dùng cho món cơm chiên này phải là cơm tơi, mịn, không bị nát, không bị dính. Thịt lợn nướng Trung Quốc, vị ngọt nhẹ đặc biệt là thứ nguyên liệu không thể thiếu được trong món cơm chiên. Tuy vậy, ở một số nơi thịt đùi lợn được dùng thay cho thịt lợn nướng.

Cũng giống như các kiểu cơm chiên khác, cơm chiên Dương Châu bao gồm nhiều loại nguyên liệu phong phú như cà rốt, giá, cần tây, đậu phụ, đậu quả và một số loại thịt như tôm, thịt gà hay thịt lợn. Cơm được chiên bằng dầu thực vật hoặc mỡ động vật để giúp cho hạt cơm không bị dính và có mùi thơm ngậy. Trứng đem lại màu vàng óng cho món cơm. Màu vàng nâu và một chút mặn được tạo bởi nước tương. Thêm hạt tiêu và nước sốt, món cơm sẽ có vị cay vừa phải, đậm đà mà rất dễ chịu. Hành và tỏi càng làm dậy lên mùi thơm hấp dẫn sẵn có.

Ngoài ra, cũng có thể cho thêm hải sâm, đậu xanh, hành tăm và thịt đùi tuỳ theo sở thích của mỗi người để cơm chiên thêm phần quyến rũ và bổ dưỡng. Bên cạnh mùi vị thơm ngon, cơm chiên Dương Châu còn được trang trí đẹp mắt bằng những nguyên liệu rất dễ kiếm như hành tăm, rau mùi, cà rốt và ớt tỉa thành những hình thù đặc sắc. Cơm chiên Dương Châu thường được dùng làm món ăn mặn vào phần cuối cùng của các bữa tiệc lớn.

Với sự hấp dẫn của mình, cơm chiên Dương Châu thực sự là món ăn mà người bất cứ vị chủ nhân bữa tiệc nào cũng không thể bỏ qua.

Còn thêm gợi ý ☘ Thuyết Minh Về Món Canh Chua, Canh Bí Đỏ ☘ 15 Bài Văn Mẫu Đặc Sắc

Các món ăn Trung Hoa hầu hết đều khá hợp với khẩu vị của người Việt Nam. Trong số đó, phải kể đến món cơm chiên ở Dương Châu tuyệt hảo. Và có lẽ cũng vì xuất phát từ Dương Châu nên người ta gọi luôn món ăn là cơm chiên Dương Châu.

Khi làm món cơm chiên Dương Châu nên chờ cho dầu sôi già mới thả cơm vào, chiên với lửa lớn và đảo đều, mạnh tay để hạt cơm được giòn ngon, vàng đều. Không sử dụng lượng dầu quá nhiều khi chiên cơm sẽ khiến cơm chiên bị ngấy, ngán và gây khó tiêu. Nên sử dụng cơm nguội để chiên ngon hơn. Còn nếu sử dụng cơm nóng mới nấu thì nên đổ cơm ra rổ để cơm mau bay hơi, nguội bớt thì mới bắt đầu chiên cơm.

Nên sử dụng loại chảo gang hoặc chảo lòng sâu để chiên cơm giòn ngon và dễ đảo đều các nguyên liệu. Muốn cơm giòn ngon hơn thì một phần cơm đem phơi nắng cho khô giòn hoặc cho vào ngăn đá tủ lạnh để tới khi khô lại, hoặc trộn phần cơm đó với ít bột năng, bột bắp, sau đó đem phần cơm này chiên cho thật giòn, đem giã nhẹ cho hơi vụn rồi khi chiên mới trộn phần cơm này với phần cơm chiên.

cơm chiên Dương Châu là một trong những món cơm chiên được yêu thích nhất trên thế giới, ngon, rẻ và bất cứ ai cũng có thể làm được.

Giới thiệu tuyển tập ☀️ Thuyết Minh Về Cơm Lam, Cơm Tấm ☀️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cách làm cơm rang thập cẩm sẽ hướng dẫn chi tiết giúp bạn đọc có thể thực hiện món ăn này ngay tại nhà.

Cơm rang thập cẩm là món ăn quen thuộc với mỗi người, giúp ta thay đổi khẩu vị cơm trắng thông thường mà vẫn đầy đủ dinh dưỡng.

Nguyên liệu khá phong phú, đa dạng với gạo nấu cơm, giò, trứng gà, khoai tây, cà rốt. Ngoài ra cần gia vị cơ bản không thừa, không thiếu vừa với số lượng người ăn, có thể cho thêm rau thơm, dưa chuột để trang trí.

Để thực hiện món ăn này, trước tiên rửa sạch khoai tây, cà rốt và rau để ráo nước rồi cắt chúng thành những miễng nhỏ. Đặt chảo lên bếp, đổ dầu.Đợi chút dầu nóng già thì đổ cơm vào đảo đều. Đến khi cơm săn lại đập trứng vào, tiếp tục đảo để cơm thấm đều trứng. Tiếp bỏ lần lượt khoai tây, cà rốt vào chảo.Tùy khẩu vị cho gia vị phù hợp .Cơm chín vàng đều thì xúc ra đĩa lớn. Trang trí quanh mấy lát dưa chuột và một ít rau thơm.

Như vậy, một món ăn thơm ngon và đầy đủ dinh dưỡng với các bước chế biến đơn giản sẽ làm phong phú hơn thực đơn cho bữa cơm gia đình.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Tham khảo văn mẫu thuyết minh về món cơm rang thập cẩm sinh động không chỉ giúp các em học sinh luyện tập cách hành văn mà còn biết thêm cách chế biến một món ăn ngon.

Món cơm rang thập cẩm hay cơm chiên Dương Châu là một món chiên rất quen thuộc với hạt cơm rất giòn, thơm ngon vừa nhiều màu sắc bắt mắt.

Cho 2 muỗng canh dầu ăn vào chảo, sau đó cho vào 1 muỗng canh hành tím băm, tỏi băm và phi hành tỏi đến khi vàng thơm. Tiếp theo cho 50g lạp xưởng và 50g tôm khô vào xào sơ. Sau đó nêm thêm 1/2 muỗng cà phê đường vào hỗn hợp lạp xưởng và tôm khô. Tiếp theo cho đậu hà lan, cà rốt và chả lụa vào xào và đảo trong 3 phút để chín đều.

Bắc chảo lên bếp, sau đó cho 2 quả trứng gà đã đánh tan vào, vừa chiên trứng gà vừa dùng đũa khuấy đều để trứng gà tơi nhỏ ra. Tiếp theo cho hỗn hợp cơm nguội vào chiên đều đến khi hạt cơm giòn tơi thì cho tiếp hỗn hợp rau củ đã xào vào. Đảo đều cơm chiên thêm 3 phút thì cho hành lá vào và tắt bếp. Bày cơm chiên Dương Châu ra đĩa, bạn có thể trang trí bằng ngò rí, xà lách, dưa leo, hoặc cà chua tùy sở thích của bạn. Ngoài ra, bạn có thể thêm nước tương hoặc tương ớt vào để cho đĩa cơm chiên Dương Châu thêm đậm đà, ngon miệng hơn.

Cơm chiên Dương Châu là một món ăn đặc sắc của ẩm thực Trung Quốc, tuy nhiên khi du nhập vào Việt Nam đã có thêm nhiều biến tấu để phù hợp hơn với khẩu vị người Việt Nam.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Thuyết Minh Về Cách Luộc Rau Muống 🍀 12 Bài Mẫu Hay Nhất

Nói đến hạnh phúc gia đình chúng ta thường mô tả bằng những từ thật đẹp đẽ và được thể hiện qua những giá trị đạo đức rất đáng trân trọng như tình yêu, lòng chung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng, lòng yêu thương, hy sinh cho con cái, sự quý trọng, hiếu đễ của con cháu với cha mẹ, ông bà… Điều đó là đúng, nhưng đồng thời hạnh phúc gia đình cũng được thể hiện qua những việc làm nho nhỏ trong đời thường. Vì vậy, chúng ta không thể xem nhẹ ý nghĩa của bữa cơm hàng ngày đối với việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

Bữa cơm có được là nhờ sự chuẩn bị của mọi thành viên trong gia đình. Khi chuẩn bị đến giờ, đứa em gái của tôi sẽ tự giác đi nấu cơm. Gạo được cho vào chiếc rá để xóc cho sạch và đổ vào nồi. Nói về nấu cơm, chắc không ai qua nổi em tôi về sự dẻo thơm, và vừa chín của hạt gạo. Tôi và mẹ sẽ nấu các món ăn từ chính những ngọn rau xanh rờn mà nhà tôi trồng được. Những luống rau mùng tươi ngon mà cứ sáng sớm bố tôi tát nước từ con sông đối diện để tưới, còn mẹ mỗi khi nắng lên là lại tìm sâu để bắt. Món thịt đông mẹ làm vào những ngày se lạnh như thế này luôn là món ăn tuyệt vời.

Mẹ tôi rất khéo tay trong việc bếp núc và thêu thùa. Tôi chỉ giúp mẹ làm những chuyện lặt vặt. Còn một món ăn trở thành khoái khẩu của chị em chúng tôi chính là món nộm do bố tôi làm. Với chúng tôi, trên đời này nếu bố chỉ đứng thứ hai thì không ai có thể đứng thứ nhất được. Món nộm được làm từ đu đủ, xoài, cà rốt, đậu phộng trộn đều với nhau, thêm chút gia vị nhưng lại mang đặc trưng rất riêng, không thể lẫn với người khác. Cả nhà cũng chuẩn bị bữa ăn, cũng cười nói và trò chuyện. Những giây phút ấy, không phải lúc nào cũng có được.

Nấu ăn xong, thức ăn được đặt trong mâm cơm, trên tấm phản giữa nhà. Chúng tôi ngồi xếp thành vòng tròn quanh mâm cơm, nhìn nhau qua màu trắng của hơi nước từ nồi cơm và thức ăn bay lên. Bữa cơm chẳng có gì cầu kì nhưng đầy đủ sắc màu: màu xanh tươi của rau, màu đỏ may mắn của cà rốt, màu vàng của xoài, màu nâu của thịt đông, … rất tươi sáng và hấp dẫn. Đối với tôi, nó ngon hơn gấp ngàn lần những chiếc bánh mì khô khốc hay những món ăn cầu kì, kiểu cách. Bởi ở đây là một phần chúng tôi đóng góp. Bởi ở đây là những người chúng tôi yêu thương. Và đây là lúc chúng tôi được gắn kết và gần nhau hơn.

Chúng tôi vừa ăn cơm và kể cho bố mẹ nghe chuyện của mình. Tôi kể với bố mẹ những chuyện tôi đi học như thế nào, than thở với họ những thứ mình không thích và hào hứng với những điều mình mới học được. Họ nghe và góp ý, và cho lời khuyên. Đôi khi chúng tôi vừa ăn vừa tranh luận, vừa bật cười. Những quy tắc trên bàn ăn là không được nói chuyện, bị phá vỡ ở đây lại tạo nên sự gắn kết hơn nhiều so với sự quy chuẩn không cần thiết. Chúng tôi thưởng thức thành quả của mình một cách ngon lành, và cả những tình cảm trong đó. Chị em chúng tôi lại cùng nhau rửa bát, rất vui vẻ và hài lòng.

Tất nhiên, mỗi nhà có những cách sống khác nhau, và những bữa cơm gia đình cũng khác nhau. Bữa cơm gia đình của tôi không phải là tuyệt vời. Nhưng với tôi đó lại là bữa cơm ngon nhất.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Tiếng Anh:

To cook delicious rice, first, the washed rice was offline. Soak rice in water for 30 minutes, then drain the basket about 15 minutes. Then you give the rice and water in a pot, bring to medium heat. Boil for a while, then you open the region to check the rice was boiling yet? When boiling rice, lower heat and cook you add 10-15 minutes to run out of water. Then you take the pot off the stove, let it be offline for about 10 minutes. Then you can use the contact ladles rice okay island.

Tiếng Việt:

Để nấu cơm ngon, trước tiên bạn phải vo gạo. Gạo ngâm nước 30 phút, vớt ra rổ để ráo khoảng 15 phút. Sau đó bạn cho gạo và nước vào nồi, đun lửa vừa. Đun sôi một lúc thì bạn mở vung kiểm tra xem gạo đã sôi chưa? Khi cơm sôi, hạ nhỏ lửa và nấu thêm 10-15 phút nữa là cạn nước. Sau đó, bạn bắc nồi ra khỏi bếp, để khoảng 10 phút là được. Sau đó bạn có thể dùng muôi xúc cơm đảo đều được.

Khám phá thêm 🌹 Thuyết Minh Về Món Trứng Rán, Trứng Chiên 🌹 15 Bài Văn Mẫu Đặc Sắc

Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Gia Lai ❤️️14 Bài Hay

Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Gia Lai ❤️️ 14 Bài Hay ✅ Chọn Lọc Và Chia Sẻ Tuyển Tập Văn Mẫu Đặc Sắc Giới Thiệu Về Phố Núi Gia Lai.

I. Mở bài: Giới thiệu về một danh lam thắng cảnh ở Gia Lai

Giới thiệu về đối tượng thuyết minh.

Nêu cảm nhận chung về đối tượng.

II. Thân bài:

1.Giới thiệu vị trí địa lí:

2.Nguồn gốc (lịch sử hình thành):

Có từ khi nào?

Do ai khởi công (làm ra)?

Xây dựng trong bao lâu?

3.Cảnh bao quát đến chi tiết:

a) Cảnh bao quát:

Từ xa,…

Nổi bật nhất là…

Cảnh quan xung quanh…

b) Chi tiết:

Cách trang trí

Mang đậm nét văn hóa dân tộc.

Mang theo nét hiện đại.

Cấu tạo.

4.Giá trị văn hóa, lịch sử:

Tô điểm cho vùng đất Gia Lai, thu hút khách du lịch.

Một trong các địa điểm du lịch nổi tiếng/ thú vị/ hấp dẫn/ thu hút khách du lịch.

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về đối tượng.

SCR.VN tặng bạn 💧 Giới Thiệu Về Một Danh Lam Thắng Cảnh 💧 17 Bài Văn Hay

Là một tỉnh Bắc Tây Nguyên phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và phía Tây giáp Campuchia với 90 km đường biên giới Gia Lai là đầu mối giao thông quan trọng nối Tây nguyên với các tỉnh khu vực miền Trung và Đông Nam Bộ. Diện tích tự nhiên 15.536,92 km2; dân số gần 1,3 triệu người trong đó 48% là người dân tộc thiểu số (chủ yếu là Bahnar và Jrai), khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) đã tạo nên một vùng đất ôn hòa, mến khách.

Tỉnh có trục quốc lộ 14 nối với Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trục quốc lộ 19 nối với các tỉnh duyên hải Miền Trung và đi các tỉnh Đông Bắc Campuchia, quốc lộ 25 nối với Phú Yên. TP Pleiku nằm trên ngã 3 giao lộ của quốc lộ 19, quốc lộ 14, quốc lộ 25 cách cảng Quy Nhơn 180km đường bộ, cách TP Hồ Chí Minh 541km. Quốc lộ 78A vừa hoàn thành tạo sự thông thương thuận lợi giữa Việt Nam (cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh) và nước bạn Campuchia. Trong những năm tới đây sẽ là con đường chiến lược phát triển du lịch Gia Lai.

Gia Lai là đầu nguồn của nhiều con sông đổ về miền duyên hải và Campuchia như sông Ba, sông Sê San và các con suối khác. Địa hình đồi núi, nhiều thác ghềnh đã mang lại cho Gia Lai rất nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú đặc biệt là những thác nước hùng vĩ như: thác Phú Cường, thác Lồ Ồ, thác Chín Tầng, thác Yama-Yang Rung…cùng những hồ nước xanh thẳm: hồ Ayun Hạ, hồ Ialy và Biển Hồ trên núi mênh mông, phẳng lặng.

Đây là những điểm du lịch lý tưởng của khách thập phương. Đặc biệt thiên nhiên còn ban tặng cho Gia Lai hai khu rừng nguyên sinh KonKaKinh và KonJaRăng và đồi thông ĐăkPơ, đây là nguồn tài nguyên quý giá giúp cân bằng hệ sinh thái đồng thời thu hút du khách yêu thích loại hình du lịch sinh thái, nghiên cứu hệ động thực vật của miền nhiệt đới.

Du khách còn tìm đến Gia Lai để được tham quan Thủy điện Ialy-một công trình mang tầm quốc gia, công suất đứng thứ 2 sau thủy điện Hòa Bình và là công trình thể hiện bàn tay và khối óc phi thường của con người Tây Nguyên đã chiến thắng được sức mạnh tự nhiên làm thay đổi đời sống của người bản địa, mang lại diện mạo mới cho Gia Lai.

Gia Lai còn được biết đến là vùng đất cổ xưa, di chỉ khảo cổ Biển Hồ là minh chứng cho quá trình hình thành, định cư lâu dài của người bản địa trên vùng đất cao nguyên hùng vĩ. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, vùng đất Gia Lai vẫn giữ cho mình nền văn hóa truyền thống đặc trưng, đa dạng thể hiện qua tôn giáo đa thần (Tô Tem), chế độ mẫu hệ của người bản địa…

Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, cồng chiêng Tây Nguyên đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, từ đó thế giới biết đến một không gian văn hóa cồng chiêng gắn bó với người dân Tây Nguyên trọn một vòng đời từ Lễ thổi tai cho đứa bé mới chào đời đến Lễ trưởng thành và kết thúc là Lễ Bỏ mả.

Ngoài ra trong các lễ hội mừng lúa mới, đâm trâu… cũng không thể thiếu tiếng cồng tiếng chiêng, những vòng xoang, ché rượu cần, ánh lửa bập bùng giữa núi rừng đại ngàn. Bên cạnh cồng chiêng trong văn hóa tinh thần của người bản địa, người Bahnar còn có kho tàng sử thi đồ sộ. Đây là những bản hùng ca tráng lệ, mang cảm hứng lãng mạn trong lao động, chiến đấu và trong cuộc sống đời thường.

Được phát hiện từ sau những năm 1980 nhưng từ đó đến nay kho tàng sử thi đã không ngừng được bổ sung qua quá trình sưu tầm như: Đăm Noi, Bia Brâu…Đây là niềm tự hào của người Bahnar và là cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu cho những người say mê văn hóa, truyền thống của dân tộc này. Sử thi Bahnar vẫn còn nhiều điều bí ẩn kỳ thú đang chờ du khách đến khám phá.

Đến Gia Lai du khách còn được khám phá trang phục ngày hội với trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa dân gian với âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dân tộc như: tù và, đàn đá…, được tham quan nhà rông, những khu nhà mồ với nhiều bức tượng người, thú, những nghi lễ còn rất hoang sơ, nguyên thủy. Gia Lai có truyền thống cách mạng hào hùng, có khu Tây Sơn Thượng đạo, căn cứ của vua Quang Trung, làng kháng chiến Stơr quê hương Anh hùng Núp, nhiều địa danh chiến trường xưa của Gia Lai như: Pleime, Cheo Reo, Ja Đrăng đã đi vào lịch sử.

Hiện nay loại hình du lịch sinh thái kết hợp với tìm hiểu văn hóa đã và đang được khai thác hiệu quả như: tham quan, tìm hiểu văn hóa dân tộc Bahnar, Jrai (ngủ làng, văn hóa cồng chiêng, lễ hội), thăm chiến trường xưa, dã ngoại, khám phá vẻ đẹp của các danh thắng và tìm hiểu về Học viện Bóng đá Hoàng Anh Gia Lai…thưởng thức đặc sản cơm lam, thịt nướng, rượu cần của người bản địa. Dạo quanh tìm mua các mặt hàng địa phương làm quà cho người thân như: cà phê, mật ong, măng khô, tiêu, thổ cẩm, đồ mỹ nghệ…

Mảnh đất Gia Lai anh hùng, người dân hiền hòa, mến khách luôn chào đón du khách từ khắp nơi muốn đến khám phá, yêu và quý trọng vùng đất cao nguyên nhiều nắng gió này.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử ☀️ 17 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Gia Lai sẽ đưa bạn đọc khám phá về Biển Hồ, một trong những công trình được mệnh danh là kỳ tích của vùng cao nguyên bazan màu mỡ.

Gia Lai nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng – an ninh. Với nguồn tài nguyên phong phú, khí hậu ôn hòa, văn hóa bản địa đặc sắc, con người thân thiện, mến khách…, Gia Lai đã và đang trở thành một trong những địa phương giàu tiềm năng phát triển, đặc biệt là du lịch.

Thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho mảnh đất Gia Lai tiềm năng du lịch sinh thái phong phú với những khu rừng nguyên sinh có hệ sinh thái động, thực vật đa dạng, những dòng sông quanh co chảy xiết và những hồ nước mênh mông phẳng lặng. Vùng đất này còn được tô điểm thêm bởi những cánh rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt ngàn và những công trình thủy điện quốc gia được mệnh danh là kỳ tích trên cao nguyên đất đỏ.

Biển Hồ nằm ở phía Tây Bắc thành phố Pleiku, cách trung tâm thành phố khoảng 7km theo quốc lộ 14. Với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, Biển Hồ được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam tôn vinh là một trong 5 hồ nước đẹp nhất và được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cấp bằng Di tích danh thắng vào ngày 16/11/1988.

Biển Hồ nguyên là một miệng núi lửa ngừng hoạt động đã hàng trăm triệu năm. Hồ có hình bầu dục, có độ sâu từ 20 – 40m, diện tích chừng 230ha, nước hồ quanh năm đầy ắp, xanh trong. Nguồn lợi tự nhiên mà Biển Hồ mang lại vô cùng to lớnvà quan trọng, nhất là đối với vùng cao nguyên ở độ cao gần 1.000m so với mặt biển. Đây không chỉ là nguồn cung cấp nước sinh hoạt mà còn cung cấp cho nhân dân trong vùng hàng trăm tấn tôm, cá… mỗi năm. Biển Hồ xứng đáng là viên ngọc bích giữa mênh mông đất đỏ Tây Nguyên, là danh thắng không thể bỏ qua khi đến Pleiku.

Nằm trên đường Trần Hưng Đạo, tiếp giáp 3 con đường Lê Lợi, Anh Hùng Núp và Lý Tự Trọng với khuôn viên rộng 12ha, Quảng trường Đại Đoàn Kết là công trình văn hóa có ý nghĩa lịch sử và nhân văn. Đây là địa điểm tổ chức các sự kiện quan trọng của tỉnh, là địa điểm vui chơi hàng ngày của nhân dân. Công trình được công nhận đạt 3 kỷ lục Việt Nam là tượng đài Bác Hồ lớn nhất Việt Nam, bức phù điêu bằng đá lớn nhất Việt Nam và giàn cồng chiêng bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Từ trung tâm phố núi Pleiku, dọc theo quốc lộ 19 khoảng 10km là du khách đã đến với Công viên Văn hóa Đồng Xanh. Với diện tích khoảng 8ha, Công viên Văn hóa Đồng Xanh nằm trải dài trên cánh đồng lúa nước An Phú. Khi đến với Công viên Văn hóa Đồng Xanh, điều đầu tiên mà du khách nhìn thấy là tượng hai chú voi làm bằng đá – tượng trưng cho vùng đất Tây Nguyên. Đi tiếp vào bên trong, du khách sẽ bắt gặp một hệ thống nhà nghỉ bungalow được xây dựng bên hồ cá, vườn hoa để phục vụ du khách có nhu cầu ở lại qua đêm.

Trong khuôn viên công viên còn có nhiều công trình khác như: công viên nước và hồ tạo sóng đầu tiên ở Tây Nguyên, hồ sen với những hòn non bộ được xếp đặt rất đẹp, khu vườn với nhiều chim muông, thú. Đặc biệt, đi giữa khu Đồng Xanh đầy kỳ hoa dị thảo này, du khách còn được chiêm ngưỡng cây cổ thụ hóa thạch hơn 1 triệu năm tuổi lớn nhất Việt Nam, được tham quan bức tượng Vua Nước (Pơ Tau Ia) và một số công trình kiến trúc khác mang đậm màu sắc Tây Nguyên. Bên cạnh những công trình mang đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên, Công viên Văn hóa Đồng Xanh cũng được đầu tư xây dựng nhiều hạng mục công trình văn hóa tâm linh hướng về cội nguồn.

Núi lửa Chư Đang Ya thuộc địa phận làng Ia gri, xã Chư Đang Ya, huyện Chư Păh. Đây là ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động hàng triệu năm, miệng núi lửa có hình phễu. Núi lửa Chư Đang Ya ẩn mình giữa bốn bề núi non trùng điệp, âm thầm, lặng lẽ nhưng tràn đầy sức sống. Dấu tích của nham thạch qua hàng triệu năm để lại cho Chư Đang Ya là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, trù phú.

Tạo điểm nhấn cho ngọn núi là sự hòa quyện của những loài hoa, cỏ dại và mỗi mùa, ngọn núi sẽ có những nét đẹp riêng. Vào mùa mưa, Chư Đang Ya được bao phủ bởi màu xanh bạt ngàn của những ruộng khoai lang, khoai môn hay cây dong riềng. Đến mùa khô, hàng vạn đóa dã quỳ bung nở trên sườn núi làm mê mẩn lòng người. Từ đây đi thêm khoảng 3km nữa du khách sẽ đến xã Tân Sơn (thành phố Pleiku) để thưởng thức món gà nướng đã trở thành thương hiệu đặc trưng của vùng đất này.

Nằm giữa khu rừng nguyên sinh trong vùng chuyển tiếp giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng được đánh giá có diện tích rừng che phủ xấp xỉ 99%, có giá trị đặc biệt về khoa học với hệ sinh thái đa dạng, quý hiếm với 546 loại thực vật bậc cao, trong đó có 18 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 7 loài được ghi trong Sách Đỏ thế giới.

Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có diện tích 41.780ha nằm về phía Đông Bắc tỉnh Gia Lai, cách thành phố Pleiku khoảng 50km. Đây là điểm du lịch sinh thái lý tưởng, rất thích hợp với du khách có nhu cầu nghỉ ngơi, an dưỡng và nghiên cứu khoa học. Với tổng diện tích khoảng gần 42.000ha, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh là nơi duy nhất ở Việt Nam có kiểu rừng hỗn giao bao gồm các loài cây lá rộng và lá kim.

Ngoài ra, còn có các loài cây quý hiếm như pơ-mu, trắc, chò đãi, kim giao… Theo thống kê chưa đầy đủ, trong vùng hiện có trên 652 loài thực vật (trong đó, khoảng 110 loài có thể dùng làm dược liệu), 42 loài thú, 160 loài chim, hơn 51 loài bò sát, ếch nhái và gần 210 loài bướm. Đặc biệt, Kon Ka Kinh còn là nơi cư ngụ của nhiều loài thú quý hiếm, trong đó có nhiều loài nằm trong Sách Đỏ, đặc biệt là loài voọc chà vá chân xám – một trong những loài linh trưởng đẹp nhất thế giới.

Với những tiềm năng, thế mạnh du lịch của mình, Gia Lai đang phấn đấu xây dựng thương hiệu “Du lịch khám phá thiên nhiên, văn hóa”, đưa Gia Lai trở thành một trong những trung tâm du lịch trong khu vực tam giác phát triển Campuchia – Lào – Việt Nam; góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Đến Tây Nguyên đừng quên chiêm ngưỡng “đôi mắt Pleiku” Biển Hồ. Nó còn được gọi với cái tên hồ Tơ Nưng. Vùng đất nên thơ với sự hoà hợp của thiên nhiên tươi đẹp.

Biển Hồ được giới du lịch khắp nơi so sánh như viên ngọc bích giữa núi rừng Tây Nguyên. Đây là một hồ nước cao khoảng 500m so với mực nước biển nằm giữa cái miệng núi lửa khổng lồ. Nơi đây là điểm hút khách du lịch trọng điểm của cả tỉnh Gia Lai. Biển Hồ Pleiku Gia Lai còn có tên gọi khác là hồ Tơ Nưng. Nó nằm ở độ cao gần 1000m với diện tích gần 300 ha. Sở hữu khí hậu mát mẻ dễ chịu cộng với bầu không khí trong lành. Có làn nước trong xanh quanh năm, và nhịp sống của người dân nơi đây cực bình dị yên bình. Vì vậy nó được đánh giá là hồ tự nhiên đẹp nhất khu vực Tây Nguyên.

Địa danh Biển Hồ Pleiku Gia Lai thuộc quần thể sinh thái lâm viên Biển Hồ – Chư Đăng Ya. Theo các nhà nghiên cứu khoa học thì Biển Hồ Tơ Nưng được hình thành từ một miệng núi lửa đã ngừng hoạt động hàng trăm triệu năm. Hồ có diện tích khoảng 240 ha và có hình bầu dục nên người ta ví Biển Hồ như đôi mắt của người dân phố núi Pleiku. Độ sâu trung bình từ 16 – 19 m, nơi sâu nhất đến 40 m.

Bờ hồ chính là miệng núi lửa nhô lên cao cho nên khi bạn đứng từ xa vẫn trông thấy rõ. Khi trời mưa lớn, hàng trăm con suối đổ về hồ tích nước. Và đặc biệt nước trong hồ dâng cao vào mổi dịp mùa mưa đến. Nước ở Biển Hồ không cạn bao giờ. Thế nên nó mang trong mình trọng trách vừa là thắng cảnh vừa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nơi đây. Ngày nay có nhiều ghe, xuồng máy… phục vụ di chuyển, du lịch cũng như đánh cá.

Khi gió to nổi lên Hồ gợn những cơn sóng lớn, đó củng là lý do khiến dân ở đây gọi là biển hồ. Còn người địa phương gọi là Tơ Nưng, củng có nghĩa là biển trên núi. Biển Hồ Tơ Nưng còn là nơi trú ngụ của các loài chim bói cá, le le, chim chơ rao, chim trắc la, ngỗng trời… Nơi đây còn là khu vực cung cấp thủy hải sản với đa dạng cá quý như cá trôi, cá chép, cá trắm, cá chiềng. Còn có rùa, ba ba, lươn… Hồ Tơ Nưng được bình chọn là thắng cảnh đẹp nhất ở Tây Nguyên.

Bởi vì được hình thành trong lòng miệng núi lửa nhô cao nên đứng từ đằng xa bạn cũng trông thấy rõ. Một dải đất chạy dài đến giữa lòng hồ. Dải đất ấy đẹp như tranh với rừng thông xanh mát rợp bóng khắp lối đi. Điểm cuối của dải đất có một ngôi nhà lồng được xây dựng trên đồi đất cao. Từ đây du khách dễ dàng phóng tầm mắt nhìn ra toàn cảnh. Biển Hồ với sóng nước, mây trời soi bóng xuống mặt hồ bình lặn. Mặt hồ như tấm gương làm ta thấy khoảng không gian trước mắt như rộng thêm ra. Bạn sẽ khá thích thú khi nhìn xuống mặt nước. Nước trong vắt đến nỗi nhìn rõ từng đàn cá đang tung tăng bơi lội. Đứng bên bờ hồ ta tưởng như đứng trước biển lộng gió.

Cảnh vật xung quanh hồ thơ mộng, hữu tình. Hoa cỏ sặc sỡ khoe sắc xen vào cánh rừng xanh tốt tươi. Xa xa những ngọn đồi trập trùng uốn lượn ôm lấy hồ nước. Biển Hồ Tơ Nưng như thánh địa bất khả xâm phạm. Dường như không có bụi trần nào nhiễm vào cảnh sắc này để nó trở nên bớt thơ, trở nên bình thường.

Cùng với văn mẫu thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Gia Lai, tặng bạn 🌹 Thuyết Minh Về Đắk Lắk 🌹 15 Bài Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Gia Lai ngắn nhất giới thiệu về thác Xung Khoeng sẽ là tài liệu tham khảo giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập cho bài kiểm tra trên lớp.

Nằm cách thị xã Pleiku 30 km về phía Tây Nam là thác Xung Khoeng hùng tráng, từ xa đã nghe thấy tiếng ầm ì, nước đổ từ trên cao 40m xuống như một dải lụa trắng ngần. Mặt thác lớn, trải rộng, tương đối bằng phẳng, hai bên bờ thác cây cối mọc um tùm và đôi chỗ gồ cao các tán cây gỗ lớn.

Phía sau thác là nền trời xanh thẳm cao lồng lộng, nước đổ xuống uốn cong theo triền đá mềm mại, đập vào các tảng đá nổi lên trên mặt nước tung bọt trắng xoá. Những buổi sáng nắng đẹp, từng đám mây trắng như bông từ từ bay lên cao từ trên mặt thác gây cho cảm giác như mặt nước đang bốc khói.

Nước chảy len lỏi trong các khe đá, trên thảm cỏ xanh làm thành một vùng hồ nước trong vắt, sát với các vách đá xung quanh. Ngồi trên các tảng đá rêu phong phủ kín, ngửng nhìn lên cao, da trời xanh ngắt lồng lộng, gió thổi mát rượi, không gian tràn đầy hơi nước mơn man làn da, mắt nhìn dòng chảy và tai nghe tiếng trầm hùng đều đặn của nước xô vào vách đá. Âm thanh tưởng như không bao giờ dứt, như tiếng chuông, tiếng cồng, tiếng trống ở các bản làng đang vào ngày hội.

Thác Xung Khoeng là nơi nghỉ ngơi thú vị, ở đây bạn vừa được ngắm vẻ hùng tráng của thiên nhiên, vừa hít thở không khí trong lành khiến cho tâm hồn thư thái, tĩnh lặng.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Thuyết Minh Về Hà Giang 🌟 15 Bài Giới Thiệu Hà Giang Hay

Tham khảo bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Gia Lai chọn lọc giới thiệu về Biển Hồ – niềm tự hào của người dân Tây Nguyên đối với du khách thập phương.

Mỗi khi nhắc đến du lịch Gia Lai, người ta thường nghĩ ngay đến “Đôi mắt Pleiku-Biển Hồ đầy”.

Biển Hồ còn được người bản địa gọi là Ia Nueng hoặc hồ T’nưng là một hồ nước ngọt nằm cách thành phố Pleiku 7 km về phía Tây Bắc, có độ cao khoảng 800 mét so với mực nước biển. Nguồn nước Biển Hồ được gìn giữ vệ sinh nghiêm ngặt, vì đây là hồ nước ngọt cung cấp nước cho thành phố Pleiku. Biển Hồ gồm 2 hồ chứa nước thông nhau, rộng gần 300 ha, nước trong xanh màu ngọc bích, nằm giữa một vùng núi cao, có một dải đất chạy dài ra giữa lòng hồ tạo cho khách tham quan có thể nhìn được toàn cảnh Biển Hồ.

Con đường xuống Biển Hồ uốn lượn đẹp như tranh vẽ, hai bên ngút ngàn thông xanh mát mắt. Nơi cuối đường là các bậc tam cấp bằng đá dẫn khách tham quan chiêm ngưỡng sự thơ mộng của Biển Hồ. Nơi đây trước kia là đài vọng để du khách ngắm Biển Hồ. Mỗi mùa Biển Hồ lại có một điểm thú vị khác nhau. Mùa khô nước vơi, để lộ những dải đất bazan màu mỡ, nơi nhiều loài chim quý đến kiếm ăn. Mùa mưa nước dâng cao, tạo sóng lớn vỗ bờ như sóng biển. Dịp Tết Nguyên Đán là thời điểm đẹp nhất trong năm để ngắm Biển Hồ.

Thời tiết chuyển mình sang xuân se lạnh, mặt nước hồ trong xanh, cây hoa đâm chồi nẩy lộc, cảm giác yên bình. Thời điểm này, bình minh ở Biển Hồ, sương giăng kín mặt hồ mờ ảo và cái lạnh của Pleiku thời điểm rất thú vị, vì lạnh nhưng không buốt, đủ để du khách cảm nhận được cái lạnh vùng đất đỏ bazan. Chiều xuống, hoàng hôn trên Biển Hồ cũng là điểm níu chân du khách bởi ánh mặt trời xuyên qua các tán thông tạo khung cảnh lãng mạn, khó quên của núi rừng Tây Nguyên.

Biển Hồ là hồ tự nhiên, hoang sơ và thơ mộng, khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, được đánh giá là hồ tự nhiên đẹp nhất ở Tây Nguyên. Theo các nghiên cứu khoa học, Biển Hồ chính là miệng núi lửa đã nhưng hoạt động hàng triệu năm nay. Còn đối với người dân tộc thiểu số nơi đây, Biển Hồ gắn với nhiều truyền thuyết thú vị.

Già làng Ksor Kril, làng Sơ, xã Biển Hồ, thành phố Pleiku kể: Người Jrai là dân tộc đông nhất cư trú trên địa bàn tỉnh Gia Lai, các người già trong làng truyền lại cho con cháu rằng Biển Hồ có hai hồ nước lớn và nhỏ thông nhau, thuộc hai làng gần kề. Tại đây, có hai chị em sinh ra trong một gia đình nhưng lấy chồng ở hai làng gần nhau. Làng người chị (Yă Chao) ở có một hồ nước lớn và gia đình người em (Yă Num) ở ngôi làng có hồ nước nhỏ. Vào một hôm, hai chị em đang cùng hái măng rừng, bỗng nghe trong bụi rậm có tiếng kêu la của lợn rừng. Do tò mò, hai chị em lại xem và phát hiện cả đàn lợn rừng con.

Sau một hồi đuổi bắt, hai chị em cũng bắt được một chú lợn rừng con mang về nuôi. Chú lợn được nuôi ở nhà người chị, nó không ăn rau mà chỉ ăn đất cát. Người chị lấy làm lạ và đưa thử chú lợn sang nhà người em để xem nó có ăn thức ăn khác không và vì chuyện lạ như thế nên người chị thề độc rằng cả nhà chị sẽ không ăn thịt chú lợn nếu ăn sẽ bị thần linh trừng phạt. Chú lợn con cứ lớn dần ở nhà người em, cho đến ngày người em tổ chức lễ trả ơn cho chị, trong nhà chẳng có gì quý đành giết thịt chú lợn đó để làm lễ tạ ơn.

Người em sau đó đã chia thịt cho nhà người chị, tuy nhiên vì lời thề năm xưa nên người chị đã không ăn nhưng đứa con của người chị khóc lóc đòi ăn. Trước cảnh ăn uống thiếu thốn, nhìn con ốm o, than khóc vì đói người chị đành nướng một miếng thịt lợn rừng cho cháu ăn. Đứa bé vừa ăn xong miếng thịt, xung quanh trời đất bỗng rung chuyển, nhà cửa bốc cháy, đất bị sụt lún, nước dâng lên bao phủ cả hai ngôi làng. Trong chốc lát hai ngôi làng chìm trong biển nước, tạo thành hai hồ nước lớn, nhỏ thông nhau. Vì diện tích hồ lớn nên vào mùa mưa, sóng lớn đánh như biển nên người dân thường gọi là Biển Hồ.

Cho dù là miệng núi lửa ngưng hoạt động hay truyền thuyết của các dân tộc thiểu số tương truyền thì Biển Hồ vẫn lung linh, thơ mộng trong mắt các văn nghệ sỹ từng đến đây. Đã có khá nhiều tác phẩm văn, thơ, nhạc ra đời từ cảnh đẹp của Biển Hồ. Chính vì thế, nơi đây là điểm đến đầu tiên của du khách khi đến với phố núi Gia Lai.

Đến với Biển Hồ, du khách sẽ thỏa mắt với làn nước trong veo như được nhìn vào đôi mắt sâu của người con gái Pleiku mà lời bài hát của nhạc sỹ Nguyễn Cường đã gắn liền Biển Hồ với thành phố Plieku thơ mộng: “Em đẹp thế Pleiku ơi! Trái tim tôi muốn vỡ tan rồi! Không dám nhìn vào đôi mắt ấy, đôi mắt Pleiku-Biển Hồ đầy!”

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Việt Nam ta luôn được thiên nhiên ưu ái, ban tặng cho nhiều món quà của tạo hóa. Những con sông, vịnh, biển lớn dưới bàn tay của tạo hóa mà mang những nét đẹp riêng biệt, thơ mộng mà trữ tình nên thơ như vịnh Hạ Long, Tràng An,……

Trong số đó phải kể đến một vẻ đẹp thiên nhiên giữa lòng miền Trung là biển hồ Gia Lai. Biển Hồ hay còn gọi là hồ T’Nưng, nằm trên địa bàn thành phố Pleiku, Gia Lai, tuy được gọi là biển nhưng nơi đây lại là môi trường nước ngọt, được công nhận là di tích danh thắng của Việt Nam. Được biết, biển Hồ thực chất là miệng của một ngọn núi lửa nhưng đã ngưng hoạt động hàng trăm triệu năm, tuy nhiên theo dân gian biển Hồ lại gắn liền với một câu chuyện buồn bi thương ở đất Gia Lai.

Chuyện kể rằng trước kia biển Hồ là một vùng đất có buôn làng sinh sống, đông đúc tuy nhiên khi họ đang ăn uống linh đình sau khi làm lễ cầu thần Giàng phù hộ cho dân làng thì gặp động đất, sụt lở mạnh, nước tràn về khiến cả dân làng chìm trong biển nước, chỉ có một cặp vợ chồng may mắn thoát được, cảnh báo tình trạng buôn làng mình với người dân khu vực xung quanh. Từ một buôn làng sầm uất sau sự việc ấy mà trở nên vắng lặng đến lạ thường, có lẽ vì thế mà cảnh vật biển hồ có gì đó man mác buồn, sâu thẳm.

Hình dạng của biển Hồ khá giống hình bầu dục, mực nước biển hồ thấp nhất là 12m, cao nhất có thể lên tới 19m. Tuy nhiên con số này không cố định khi mỗi lần đo lại cho ra những con số khác nhau như 15 – 18m, rộng 228 ha nhưng nơi đây sau các trận mưa lớn có thể rộng tới gần 400 ha. Bao bọc xung quanh biển hồ là hàng ngàn những hàng cây phủ sắc xanh lục trên nền biển xanh dương, thêm những tia nắng chiều tà thì quanh cảnh biển hồ hiện lên càng thơ mộng, trữ tình mà lãng mạn hơn.

Con đường nhỏ hẹp nằm ở giữa chia biển hồ thành hai nửa, vô cùng bằng phẳng hai bên đường là hàng cây cao, càng đi về phía trước con đường dần thu nhỏ lại, ở phía cuối có một điểm dừng chân, đưa tầm mắt của du khách chiêm ngưỡng đầy đủ cảnh sắc nơi đây. Với làn nước xanh biếc mềm mại nhịp nhàng cùng những vùng cây xanh lúc gần lúc xa,in bóng xuống mặt nước tận hưởng bầu không khí man mát dịu nhẹ, thả lỏng tâm hồn hòa vào cái nhẹ nhàng, trầm lắng mà nên thơ của biển hồ.

Đặc biệt, cũng như các vùng biển khác, màu nước biển ở đây được thay đổi theo từng buổi, nhưng thực chất nước biển hồ không có màu vì thế khi có hay không khúc xạ ánh sáng mặt trời nơi đây lại mang một màu sắc hài hòa khác biệt. Vào buổi sáng, nước biển hồ mang theo cái sắc xanh của bầu trời, cái trắng tinh khôi của những đám mây lơ lửng hòa cùng hình ảnh của những rặng cây. Đến buổi trưa, khi mặt trời lên cao, sắc xanh ấy còn phủ thêm nét vàng óng trải dài như một bức tranh thiên nhiên mà người họa sĩ là tạo hóa.

Hoàng hôn xuống, lúc này mặt nước hồ dần có màu xanh thẫm, vương một chút nắng chiều tà yếu ớt, ít ỏi còn sót lại như đang luyến tiếc khi phải chia xa. Khi màn đêm buông xuống, mặt biển hòa vào với bóng tối, khoác chiếc áo màu đen có in hình ánh trăng vàng chóe. Lúc này, không khí biển hồ trở nên náo nhiệt, tưng bừng với âm thanh của những chú chim, côn trùng, đặc biệt vào mùa hè nơi đây râm ran tiếng hát của những chú ve sầu cả ngày lẫn đêm tạo nên những bản nhạc không lời không tên mà hay đến lạ.

Hệ sinh thái nơi đây rất phong phú đa dạng khi có những loài ở trên không là những loài chim bói cá, kơ túc, cuốc đen, kơ vông, trắc la, chơ rao,…. hay những loài lele, ngỗng trời vừa sống trên cạn, dưới nước hoặc có thể bay trên không như loài ngỗng trời, dưới nước với nhiều loài sinh vật biển nước ngọt cá chép, cá trắm, cá trôi, cá đá, cá niềng, cá chày, rùa, ba ba, lươn,.. Đặc biệt nơi đây nổi tiếng với loài cá chép thân dài và vàng óng quý hiếm không phải ai cũng bắt gặp hoặc câu được loại cá này. Có thể nói, biển hồ Gia Lai chiếm giữ một vị trí quan trọng với người dân Pleiku nói chung và đất Gia Lai nói riêng về cả đời sống vật chất và tinh thần con người.

Về vật chất, biển hồ Gia Lai mang lại nguồn lợi nhuận cho địa phương qua những lượt khách đổ về bởi sự thu hút hấp dẫn của cảnh sắc nơi đây hay qua việc bán cá hoặc tạo các loại hình câu cá cho du khách cũng như người dân bản địa, cung cấp nguồn lợi thực phẩm, hải sản cho những người dân bản địa đông thời là nguồn cấp nước chủ yếu cho người dân thành phố Pleiku. Với đời sống tinh thần, biển hồ Gia Lai đã gắn liền với tuổi thơ của bao thế hệ người Gia Lai, là mảnh ghép và là điểm đặc sắc không thể thiếu khi nói đến Gia Lai.

Mặc dù vậy, biển hồ Gia Lai vẫn chưa được đầu tư và phát triển nhiều nên lượng khách đến thăm không quá nhiều không cân xứng với một nơi sông nước hữu tình thơ mộng, mang vẻ đẹp rất riêng, độc đáo như vậy. Nói chung, biển Hồ Gia Lai tổng thể là một bức tranh đa chiều với những đường nét chân thực, và là một bức tranh độc nhất vô nhị, ta không thể bắt gặp được cảnh vật nơi đây ở bất cứ đâu. Trong tương lai, nếu biển Hồ Gia Lai được đầu tư, phát triển phù hợp.

Tiếp theo văn mẫu thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Gia Lai, chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Đắk Nông 🌼 15 Bài Giới Thiệu Hay

Bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh Gia Lai đặc sắc sẽ mang đến cho bạn những trải nghiệm thú vị với con đường đẹp nhất của phố núi Gia Lai – con đường Biển Hồ chè.

Phía bên kia Hồ T’Nưng của thành phố Pleiku, con đường thông xã Nghĩa Hưng được coi là con đường đẹp nhất phố núi Gia Lai ngày nay, nơi có hàng thông trăm tuổi tuyệt đẹp, những đồi chè xanh mướt mắt, một ngôi chùa cổ kính và những nương, ruộng, đồn điền cà-phê mọc xen dã quỳ đang mùa ra trái.

Bắt đầu từ đường Phó Đức Chính, con đường Biển Hồ chè chạy vòng theo hồ nước, nằm cách trung tâm thành phố Pleiku 10km, đây cũng là ranh giới giữa thành phố Pleiku và địa bàn xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh của tỉnh Gia Lai. Lối vào những đồi chè bạt ngàn phải đi qua hai hàng thông cổ thụ khổng lồ có tuổi đời hơn 100 tuổi. Giới trẻ Gia Lai gọi đây là “con đường Hàn Quốc” bởi vẻ lãng mạn không đâu sánh bằng.

Học sinh trường tiểu học xã Nghĩa Hưng đi học dưới những tán thông khổng lồ buổi sáng. Sáng sớm cũng là thời điểm đẹp nhất để thăm quan con đường thông lãng mạn này, trong không khí se lạnh trong lành cùng sương sớm vẫn còn chưa tan. Những năm đầu thế kỷ 20, người Pháp bắt đầu xuất hiện ở Pleiku nhằm mục đích khai khẩn vùng đất phía bắc của tỉnh, họ đã xây dựng nên những đồn điền chè đầu tiên của tỉnh Gia Lai, tiền thân của Biển Hồ chè ngày nay.

Khí hậu mát lạnh của cao nguyên Gia Lai bên cạnh Biển Hồ T’Nưng là điều kiện vô cùng thuận lợi để trồng chè. Đồi chè ở Biển Hồ hiện nay có diện tích đến hơn 1.000ha, khắp nơi đều là một màu xanh mướt của chè, kéo dài đến tận chân những ngọn núi. Đây được ví như lá phổi xanh điều hòa không khí cho toàn vùng, là điểm du lịch hấp dẫn rất đông du khách, cũng như là điểm chụp ảnh nổi tiếng của giới trẻ Gia Lai.

Có một điểm đến đặc biệt không thể bỏ qua khi đến với Biển Hồ chè, chính là ngôi chùa Bửu Minh nằm cuối con đường thông trăm tuổi, bao quanh là những nương chè. Đây là một trong những ngôi chùa Phật giáo đầu tiên được xây dựng ở Gia Lai. Chùa Bửu Minh có phần mái thiết kế như mái nhà rông Tây Nguyên, đặc biệt có kiến trúc kết hợp cả miền bắc, miền trung với kiểu dáng chùa Nhật Bản. Mặt tiền của ngôi chùa hướng về phía Biển Hồ nước, trong một không gian yên bình hiếm có.

Nếu chia con đường Biển Hồ chè xã Nghĩa Hưng làm ba phần, lấy mốc ở giữa là con đường thông trăm tuổi và những đồi chè thì phần đầu và phần cuối con đường chính là những rẫy cà-phê. Tùy theo điều kiện thời tiết mà cứ vào độ tháng 11, tháng 12 hằng năm là những rẫy cà-phê mùa rực rỡ nhất với trái chín mọc trĩu trịt trên cành. Đây là lúc nông dân xã Nghĩa Hưng bắt đầu bước vào mùa thu hoạch trái cà-phê.

Đây cũng là thời điểm hoa dã quỳ mọc khắp nơi ở Tây Nguyên. Bên dưới những gốc cà-phê mùa này đồng loạt dã quỳ nở bông, cỏ đuôi chồn cũng đỏ tía, tất cả đã tạo nên một bức tranh đồng quê tuyệt đẹp, điển hình đặc trưng của mùa đông phố núi Gia Lai.

Du khách đến thăm vùng đất phố núi Gia Lai đừng quên tận hưởng những trải nghiệm thú vị trên con đường Biển Hồ chè.

Đọc nhiều hơn 🌻 Thuyết Minh Về Hà Nội 🌻 16 Bài Giới Thiệu Hà Nội Hay

Đón đọc bài thuyết minh danh lam thắng cảnh ở Gia Lai học sinh giỏi và cùng tìm hiểu về những thắng cảnh nổi tiếng gắn với bề dày lịch sử và văn hoá của vùng đất này.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, vùng đất Gia Lai vẫn giữ cho mình một nền văn hóa truyền thống đặc trưng với những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử mang đậm dấu ấn của một vùng đất anh hùng như: Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo, Khu di tích căn cứ địa cách mạng Khu 10, Nhà tù Pleiku, thung lũng Ia Đrăng…

Chùa Minh Thành là một quần thể kiến trúc Phật giáo rộng lớn tọa lạc trên ngọn đồi thoai thoải ở phía Tây Nam của thành phố. Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất ở Tây Nguyên. Nó không chỉ là niềm tự hào của người dân phố núi mà còn là địa điểm tham quan không thể bỏ qua của du khách khi đến đây. Bên trong chánh điện là bàn thờ Phật dài 6m và cao 1,2m; bốn pho tượng Phật Bà nghìn tay nghìn mắt với chiều cao 8m, bề ngang 3,5m được đặt ở 4 góc của chánh điện; các tượng Phật được bài trí áp vách với hơn 3.000 bức tượng.

Đặc biệt có 18 bức tượng La Hán được làm hoàn toàn từ gỗ mít, mỗi bức tượng cao 1,3m, nặng gần 300kg, tất cả đều được sơn vàng rất hài hòa và đẹp mắt. Với kiến trúc độc đáo, vẻ đẹp uy nghiêm, hàng năm, chùa Minh Thành đón hàng nghìn lượt khách tham quan và dâng hương. Trong nắng chiều vàng nhạt nơi phố núi mờ sương, tiếng chuông chùa văng vẳng xa xăm, đem đến sự bình an cho tâm hồn của du khách khi chiêm bái, vãn cảnh chùa.

Tọa lạc tại xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng 13km về phía Bắc, chùa Bửu Minh là một trong những ngôi chùa lâu đời tại Gia Lai. Sau nhiều lần trùng tu đến nay, chùa Bửu Minh có kiến trúc hiện đại, kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc miền Bắc, miền Trung và kiểu dáng chùa Nhật Bản. Chùa có một số di vật quý như tượng Phật Chămpa bằng sa thạch cùng nhiều tượng, chuông, mõ quý. Chùa tọa lạc trong không gian xanh mát, giữa bao la đồi chè, hàng thông trăm tuổi, trở thành điểm du lịch văn hóa tâm linh thu hút du khách.

Làng kháng chiến Stơr (quê hương anh hùng Núp) nằm trên địa bàn xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Làng Stơr và anh hùng Núp đã thực sự trở thành biểu tượng của “Đất nước đứng lên” mà tiếng vang còn vọng đến tận Tây bán cầu. Cuộc đời cách mạng anh hùng Núp đã trở thành thiên anh hùng ca bất tử. Ông là người Tây Nguyên đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, là người được bạn bè quốc tế mến phục. Ngày 23/3/1993, Làng Kháng chiến Stơr đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cấp bằng Di tích Lịch sử Văn hóa.

Nhưng bất chấp tất cả, lý tưởng cộng sản vẫn âm ỉ cháy rồi bùng lên để một chi bộ, một liên chi rồi một Đảng bộ ra đời. Tổ chức Đảng trong nhà lao không những đủ sức tập hợp lãnh đạo phong trào đấu tranh trong nhà lao mà còn ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng bên ngoài. Nơi đây đã thành một điểm tham quan cho du khách trong và ngoài nước mỗi khi đặt chân đến vùng đất giàu truyền thống cách mạng này.

Gia Lai là cái nôi của nền văn hóa bản địa Jrai, Bahnar với những lễ hội kỳ bí, linh thiêng trong không gian văn hóa cồng chiêng được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nét văn hóa tâm linh lâu đời của đồng bào các dân tộc thiểu số đã làm nên sự hấp dẫn của vùng đất đỏ bazan khiến ai cũng mong một lần được đến và trải nghiệm.

Sau một năm với những vụ mì (sắn), vụ lúa đã được thu hoạch tươm tất thì người Jrai bàn bạc nhau chuẩn bị những ghè rượu cần thật thơm ngon, cùng những lễ vật như: trâu, heo, gà… để hiến tế, tạ ơn thần linh trong Lễ hội cúng Thần nhà rông. Khi tiếng chiêng báo hiệu cất lên, tất cả mọi người trong làng từ già, trẻ, gái, trai đều tập trung về khu vực nhà rông của làng.

Lúc này, hàng trăm ghè rượu cần của các gia đình đều được xếp thành từng cặp đối xứng nhau kéo dài từ đầu nhà rông đến cuối nhà. Riêng ghè rượu (ghè Yàng) cao nhất, to nhất được đặt giữa nhà để bỏ tim, gan và một ít máu của linh vật dùng để hiến tế các vị thần. Cúng Thần nhà rông là lễ hội không thể thiếu hàng năm của làng, thể hiện lòng biết ơn của làng đối với Yàng, với thần linh đã phù hộ, che chở cho dân làng.

Hàng năm, vào đầu tháng 11, Gia Lai lại tổ chức Lễ hội hoa dã quỳ – núi lửa Chư Đang Ya. Tại lễ hội, du khách sẽ được giao lưu, tìm hiểu các hoạt động đan lát, tạc tượng, dệt thổ cẩm, thưởng thức trình diễn cồng chiêng, ẩm thực và thưởng lãm hoa dã quỳ nở vàng rực cả đồi núi.

Theo quan niệm của các dân tộc Tây Nguyên, sau khi người ta chết đi, linh hồn vẫn còn quanh quất đâu đó, giữa người chết và người sống vẫn còn mối quan hệ ràng buộc. Chỉ sau khi làm Lễ bỏ mả thì mối quan hệ ràng buộc này mới chấm dứt, người chết hoàn toàn yên nghỉ và chờ đầu thai, còn người sống thì yên tâm lo cho cuộc sống riêng mình, được quyền lấy vợ, lấy chồng khác. Với ý nghĩa như vậy, Lễ bỏ mả là một lễ hội lớn và náo nhiệt của người Tây Nguyên.

Từ nhiều năm nay, xã Glar thuộc huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai vẫn còn lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc của người Bahnar trên địa bàn, góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa mới trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở các buôn làng. Đặc trưng nhất là nghề dệt thổ cẩm được duy trì và phát triển mạnh, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị. Sản phẩm chủ yếu là khố, áo nam, váy nữ, túi, ví… Chất lượng sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng, từng đường nét hoa văn cho đến độ mịn, phối màu đều đặc sắc và hấp dẫn. Du khách có thể mua các sản phẩm về làm quà cho người thân, bạn bè nếu có dịp đến đây.

Làng Jut thuộc xã Ia Der, huyện Ia Grai, cách thành phố Pleiku 5km. Người dân nơi đây sinh sống bằng nhiều nghề, trong đó nổi bật là nghề chế tác nhạc cụ bằng các nguyên liệu từ thiên nhiên như tre nứa, bầu khô mang đậm nét văn hóa đặc trưng. Từ ngàn xưa, Tây Nguyên đã là cái nôi nghệ thuật lớn từ khí nhạc tới thang âm. Âm nhạc Tây Nguyên sinh ra từ lao động, từ những âm thanh gần gũi thường ngày nên dễ dàng đi vào tâm hồn người thưởng thức như tingning (đàn goong), brô amo (kní), glơng glơh (tơ rưng), krông pút…

Mỗi loại nhạc cụ phù hợp với những bài nhạc khác nhau, sử dụng trong những hoàn cảnh khác nhau. Chẳng hạn khi sử dụng âm nhạc “nói” về người anh hùng phải hào hùng dồn dập, âm nhạc trong Lễ pơ thi phải chậm và buồn, nói về nỗi nhớ nhung phải thổn thức, khắc khoải… Mỗi loại mang âm hưởng của núi rừng Tây Nguyên thu hút du khách đến vùng phố núi Pleiku hoang sơ.

Cách thành phố Pleiku gần 40km, làng Ngâm Thung thuộc xã Ia Pêt, huyện Đắk Đoa có nhiều tiềm năng, thế mạnh về nghề truyền thống đang được các nghệ nhân và đồng bào dân tộc thiểu số giữ gìn và phát huy. Đặc biệt, những chiếc gùi hai lớp rất độc đáo, được trang trí hoa văn rất đẹp mắt với nhiều màu sắc khác nhau. Phần lớn nguyên liệu chính để làm gùi có tại chỗ như mây, lồ ô… tạo ra các sản phẩm tự nhiên, mang nét đặc trưng vùng miền nhằm giới thiệu văn hóa của dân tộc ra bạn bè năm châu.

Ẩm thực đang trở thành “đại sứ”, góp phần định vị thương hiệu cho Du lịch Gia Lai. Món ngon Gia Lai đã được một số tổ chức uy tín vinh danh minh chứng cho sự phong phú, độc đáo của ẩm thực địa phương. Món phở khô (phở 2 tô) được Tổ chức Kỷ lục châu Á bình chọn là món ăn đạt tiêu chí giá trị ẩm thực châu Á, mật ong lọt top 10 đặc sản làm quà tặng nổi tiếng Việt Nam do Tổ chức Kỷ lục Việt Nam bình chọn.

Cùng với đó là những món ăn gắn liền với các dân tộc bản địa sống lâu đời ở Gia Lai, làm nên một phần bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo như: gà nướng, cơm lam, đọt măng, lá mì, cà đắng, bò một nắng, muối kiến vàng… đã chinh phục khẩu vị của du khách khi khám phá vùng đất này.

Vùng đất Gia Lai chắc chắn sẽ là một địa điểm du lịch không thể thiếu khi đến Việt Nam, đồng thời khi đến với nơi đây du khách có thể hiểu thêm về những nét đẹp văn hóa, đời sống sinh hoạt của người dân Gia Lai.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Tham khảo bài văn mẫu thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Gia Lai sinh động viết về núi Hàm Rồng cùng những cảnh quan độc đáo đã tạo nên vẻ đẹp của thiên nhiên nơi phố núi.

Núi Hàm Rồng là một ngọn núi lửa đã phun trào từ hàng triệu năm trước. Với độ cao 1.028m, đây được ví như nóc nhà của thành phố Pleiku. Được biết, núi Hàm Rồng là một di sản địa chất quý của tỉnh, thế nhưng những cảnh vật ở đây vẫn rất còn hoang sơ và chưa bị khai thác nhiều.

Núi Hàm Rồng nằm trên quốc lộ 14B, cửa ngõ vào thành phố và cách trung tâm thành phố Pleiku 11km về phía nam, và có nguồn gốc từ ngọn núi lửa đã tắt từ lâu. Núi còn được gọi với cái tên khác là núi Chư Hơ Đông hay núi Hòn Rồng. Hàm Rồng mang đầy đủ những đặc tính của một núi lửa dương, nổi bật trên mặt đất, miệng núi lửa lõm sâu xuống dưới, mặc dù trên núi không hề có ao hồ gì nhưng cây cối ở đây quanh năm vẫn luôn tươi tốt. Trong thời chiến, ngọn núi này từng là căn cứ quân sự của Mỹ nhưng đến thời bình thì đây được chọn làm nơi thu phát sóng viễn thông của cả tỉnh.

Với những con đường quanh co, uốn lượn, đây là một địa điểm lý tưởng cho những chuyến đi “phượt” của các bạn trẻ. Nơi đây không chỉ đẹp về cảnh mà cũng là nơi gắn liền với câu chuyện truyền thuyết về tình sử của nàng Chư H’Drông xinh đẹp – con của một vị tù trưởng hùng mạnh và Rơ Ran Ly – chàng trai thật thà, siêng năng, con của một gia đình nghèo khó.

Quanh chân núi, đất đai phì nhiêu, cây trồng xen với cây rừng rậm rạp. Các nhà khảo cổ và dân tộc học gần đây đã khai quật được nhiều di chỉ khảo cổ của các thời kỳ đồ đá, đồ gốm…Đường lên núi tuy dốc thấp, nhưng quanh co, uốn khúc. Đất mềm để lộ các tảng đá lớn. Đôi chỗ vách đá lộ ra một khe suối nhỏ, nước chảy lặng lẽ hay một con thác dốc, nước len lỏi qua các hố sâu. Cây cỏ trên đường đi thật đa dạng. Các mảng cây lá rộng thường xanh, mọc xen với các loài cây rụng lá theo mùa, làm cho cảnh trí luôn thay đổi trên mỗi bước đi. Núi Chơ Hơ Rông đang là địa điểm thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan.

Hiện nay, các cơ quan, ban ngành tỉnh Gia Lai đang xem xét phát triển thêm nhiều loại hình du lịch trên ngọn “núi lửa” này, điều đó sẽ giúp cho ngành du lịch tỉnh có cơ hội phát triển thêm nữa. Theo dự đoán của các nhà khoa học, rất có thể núi Hàm Rồng Gia Lai sẽ được công nhận là kỳ quan núi lửa, nếu điều đó thành hiện thực thì nơi đây sẽ thu hút đông đảo các khách du lịch cả trong và ngoài nước đến tham quan, khám phá.

Tham khảo văn mẫu ☔ Thuyết Minh Về Hà Nam ☔ 15 Bài Giới Thiệu Hà Nam Hay

Bài văn thuyết minh về Biển Hồ Pleiku sẽ giúp các em học sinh hoàn thành tốt đề văn giới thiệu về một danh thắng của quê hương, đất nước.

Con đường với hai hàng thông ba lá cổ thụ dẫn vào Biển Hồ (còn gọi là hồ Tơ Nưng) như thơ mộng hơn vào tiết cuối thu. Trời se lạnh. Mặt hồ xanh trong màu ngọc bích, phẳng như một tấm gương không tì vết. Điểm xuyết trong màu xanh bạt ngàn của rừng thông ven hồ là những thảm hoa dã quỳ khoe sắc vàng rực rỡ, in bóng lung linh xuống mặt nước.

Trong khung cảnh lung linh ấy còn gì tuyệt hơn trên chiếc thuyền độc mộc đi một vòng quanh hồ, đưa máy lên chộp ngay những khoảnh khắc thiên nhiên không dễ bắt gặp lần thứ hai giữa biển nước bao quanh là trùng trùng núi cao. Đêm xuống bên ánh lửa bập bùng, vừa nếm ngụm rượu cần ở làng Brel, nghe già làng kể những truyền thuyết huyền bí về Biển Hồ, đối với mỗi du khách điều gì còn có thể tuyệt hơn. Có nhiều phiên bản được truyền miệng về Biển Hồ, nhưng câu chuyện của già làng Brel nghe buồn man mác.

Đó là câu chuyện Biển Hồ từng là buôn làng sầm uất với những dòng suối trong veo. Ngày ngày tiếng chiêng, tiếng trống rộn rã khắp núi rừng. Rồi một năm nọ, trâu bò cả làng đều chết. Dân làng cho là Giàng (Trời) ghét bỏ nên cùng tộc trưởng vào rừng săn bắt nai đem về làm lễ cúng. Lễ xong, mọi người đang vui say bỗng mặt đất rung chuyển mạnh làm sụp đổ cả làng xuống vực sâu, nước tràn mênh mông, không một ai sống sót. Riêng có vợ chồng Mạc Mây đi thăm bà con ở xa nên tránh được tai nạn thảm khốc. Họ xem hồ Tơ Nưng là chứng tích của một sự kiện bi thảm khó quên được.

Bỏ qua câu chuyện bi thảm kia để đến với những đồi chè trải dài tít tắp không kém gì cao nguyên Mộc Châu hay những vườn cà phê trĩu quả mới cảm nhận được sự trù phú của vùng đất đỏ bazan này. Ở đây có hàng thông cổ thụ lãng mạn mà nhạc sĩ Nguyễn Cường đã mô tả hàng thông xanh trong đôi mắt em trong bài hát nổi tiếng Đôi mắt Pleiku. Con đường thông sâu hun hút với những thân cây xù xì dẫn lối vào những đồi chè xanh mướt thật sự là không gian lý tưởng cho những chuyến du ngoạn ngắn ngày.

Về đây mới biết không chỉ Buôn Ma Thuột mới có cà phê ngon. Cà phê ở đây cũng là đặc sản. Mùa này về Gia Lai đang là những ngày cuối thu hoạch cà phê, du khách có thể xin phép chủ vườn tham quan, trải nghiệm một ngày lao động với những người hái thuê cà phê tứ xứ. Sau đó chắc chắn bạn sẽ được nhâm nhi ly cà phê đậm đặc nguyên chất, có vị đắng xen lẫn vị chua thanh quyến rũ ở cuống họng…

Rời Biển Hồ, rời Pleiku mà câu hát của Nguyễn Cường vẫn bên tai: “Em đẹp thế Pleiku ơi…” mỗi du khách từng ghé đến nơi đây.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Thuyết Minh Về Biển Hồ 🌟 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài văn mẫu thuyết minh về Đồng Xanh Gia Lai đã khắc họ một không gian văn hoá lưu giữ những nét đặc trưng của thiên nhiên, con người và văn hoá truyền thống của vùng Tây Nguyên.

Công viên Đồng Xanh – một không gian văn hóa của vùng Bắc Tây Nguyên, thuộc địa phận xã An Phú, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đặc điểm: Đây là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng và khám phá bản sắc văn hóa Tây Nguyên.

Công viên Đồng Xanh – một không gian văn hóa của vùng Bắc Tây Nguyên, thuộc địa phận xã An Phú, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai. Từ trung tâm phố núi Pleiku, dọc theo quốc lộ 19 khoảng 10km là du khách đã đến với Công viên Đồng Xanh. Với diện tích khoảng 8ha, Công viên Đồng Xanh nằm trải dài trên cánh đồng lúa nước An Phú có diện tích rộng khoảng 14ha; thấp thoáng phía xa xa là những bản làng của người dân tộc Gia Rai, Ba Na… với những mái nhà rông tuyệt đẹp, những khu nhà dài; những chiếc cầu treo bắc qua suối và đâu đó tiếng nhạc rừng đang rộn ràng, du dương…

Khi đến với Công viên Đồng Xanh, điều đầu tiên mà du khách nhìn thấy là tượng hai chú voi làm bằng đá – tượng trưng cho việc người Tây Nguyên rất giỏi trong việc thuần dưỡng voi rừng, được đặt ngay ở phía cổng vào. Đi tiếp vào bên trong, quan sát một cách tổng thể, du khách sẽ bắt gặp một hệ thống nhà nghỉ bungalow được xây dựng bên hồ cá, vườn hoa để phục vụ du khách khi có nhu cầu muố n ở lại đây qua đêm, một công viên nước và hồ tạo sóng đầu tiên ở Tây Nguyên, một hồ sen với những hòn non bộ được xếp đặt rất đẹp, một khu vườn với rấ t nhiều chim muông muôn thú như: đà điểu, nai, beo, gấu, cá sấu…

Đặc biệt; đi giữa khu Đồng Xanh đầy kỳ hoa dị thảo này; du khách sẽ nhìn thấy cây cổ thụ hóa thạch hơn 1 triệu năm tuổi lớn nhất Việt Nam – được tìm thấy tại miệng núi lửa xã Chư A Thai, huyện Ajun Pa, tỉnh Gia Lai; được tham quan bức tượng Vua Nước (Pờ Tau Ia) và một số công trình kiến trúc khác mang đậm màu sắc Tây Nguyên.

Bên cạnh đó, du khách còn từng bước được tìm hiểu và khám phá những nét độc đáo pha chút huyền bí của văn hóa Tây Nguyên qua mô hình kiến trúc nhà mồ, nhà rông, nhà dài; qua truyền thuyết kết hợp với những hoa văn, họa tiết được tổng hợp và cách điệu trên biểu tượng Đài cảnh Tây Nguyên; qua tiếng nhạc của các bản làng người dân tộc như: tiếng đàn T’rưng nước, tiếng cối giã gạo, âm thanh của dàn cồng chiêng… và cùng hòa mình vào không khí tưng bừng của lễ hội Tây Nguyên.

Với bầu không khí trong lành, thoáng đãng và ngào ngạt hương đồng gió nội, Công viên Đồng Xanh thực sự là điểm du lịch lý tưởng cho du khách tới đây nghỉ ngơi, khám phá và tham gia các hoạt động vui chơi giải trí hấp dẫn như: du thuyền, đạp vịt, câu cá…

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Bài văn thuyết minh về quảng trường Gia Lai sẽ mang đến cho bạn đọc nhiều thông tin thú vị về địa danh này.

Đến với phía Bắc nước ta có Quảng trường Ba Đình – lăng chủ tịch Hồ Chí Minh là trái tim của thủ đô Hà Nội. Thì khi đến mảnh đất Gia Lai bạn sẽ được gặp lại hình ảnh thân quen của Hồ Chí Minh trên Quảng Trường Đại Đoàn Kết tọa lạc ngay trung tâm thành phố Pleiku, gần quốc lộ 14. Đây được mệnh danh là trái tim của Pleiku, một công trình trọng điểm.

Hình ảnh người cha gia kính yêu của dân tộc đứng vững trên bệ, đưa tay vẫy chào đồng bào khắp cả nước làm gợi nhớ đến tình cảm của Bác đối với dân chúng. Dù qua bao nhiêu bão táp, gió trời thì tượng Chủ Tịch vẫn đứng uy nghiêm, luôn bên cạnh đồng bào Việt Nam. Phía sau tượng Bác, bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng dãy phù điêu mô phỏng hình hoa sen được cách điệu bằng đá uốn cong, như rừng núi Tây Nguyên bạt ngàn. Bên cạnh đó là những nét chạm khắc điêu luyện về cuộc sống sinh hoạt, sản xuất và chiến đấu của đồng bào nơi đây.

Giữa khuôn viên của quảng trường là khối đá bazan hình trụ tạo thành tháp đá 3 lớp cao dần lên, đầy sức sống của 54 dân tộc anh em. Bên phải và bên trái của bức phù điêu là 2 dàn cồng chiêng Tây Nguyên sẽ làm bạn ấn tượng với những chiêng bằng và chiêng núm. Cũng giống như Quảng trường Ba Đình, trước khu tượng đài là những bãi cỏ được xén ô vuông xen kẽ với đá granit tạo thành con đường tản bộ cho mọi người thong dong. Cùng cột cờ cao 25 mét với lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới giữa quảng trường khiến bạn như gợi nhớ đến những chiến công hiển hách.

Vào dịp này, bạn sẽ có cơ hội tận hưởng cái không khí tết hòa trộn giữa sự nhộn nhịp và yên bình tại mảnh đất núi non trùng trùng điệp điệp. Người người, nhà nhà cùng đến đây để ngắm nhìn những bông pháo hoa được bắn tung tóe trên bầu trời.

Cuộc sống thanh bình nhẹ nhàng trôi ở Pleiku, không quá tấp nập và sôi nổi như người dân Hà thành hay Sài thành. Mà có thể bởi lẽ đó mà Quảng trường Đại Đoàn Kết lại trở thành điểm thu hút du khách đến thăm Pleiku để trải nghiệm sự mới mẻ với những niềm vui và niềm hạnh phúc xuất phát từ những điều đơn giản nhất – lòng tự hào dân tộc. Ắt hẳn chúng ta đều sẽ tìm được những cảm giác thoải mái, yên bình tại nơi này.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Thuyết Minh Về Cần Thơ 🌼 15 Bài Giới Thiệu Cần Thơ Hay

Bài văn thuyết minh về đặc sản Gia Lai sẽ giới thiệu đến bạn đọc một món đặc sản “độc nhất vô nhị” chính là muối kiến vàng Krông Pa dân dã và độc đáo.

Huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai được biết đến với rất nhiều món ẩm thực đã tạo thành nét đặc trưng của cộng đồng các dân tộc nơi đây như bò một nắng, cà đắng lá mì, cà xóc…Trong đó, đặc sản muối kiến vàng Krông Pa có lẽ là món ăn được nhiều người biết đến và nổi tiếng nhất của vùng chảo lửa này.

Loại muối độc nhất vô nhị – Muối Kiến Vàng, làm từ loại kiến vàng rừng vùng Ayun Pa, Krông Pa (Gia Lai) – Tây Nguyên có thể khiến nhiều người lắc đầu nguầy nguậy khi nhìn. Nhưng nếu đã nếm qua hương vị hoang sơ này một lần thôi sẽ hiểu vì sao lên Gia Lai, Tây Nguyên nhất định phải mua muối kiến vàng về làm quà hoặc ăn dần.

​Cuối mùa khô nhưng không khí ở Krông Pa vẫn oi nồng, rát bỏng như chưa có gì báo hiệu mùa mưa đang đến gần. Theo chân đồng bào dân tộc Jrai leo rừng, bắt kiến; được tận mắt chứng kiến cách chế biến đặc sản muối kiến vàng và thưởng thức tại chỗ món đặc sản này là trải nghiệm vô cùng thú vị của bất kì du khách nào yêu mến vùng đất này. Được chế biến từ kiến vàng, trứng kiến cùng một số gia vị khác như muối, ớt rừng, lá thèn len,…muối kiến vàng Krông Pa có vị hơi chua nhưng mặn được pha lẫn giữa các loại gia vị và thân kiến vàng, dịch chua nơi bụng kiến.

Muối kiến mang hương vị đặc trưng riêng vô cùng lạ miệng và hấp dẫn. Trưa hè nóng nực, ăn tô canh rau tập tàn có thêm chút muối kiến vàng có vị chua chua khác lạ của kiến, vị mặn của muối và vị cay hít hà của ớt thì còn gì bằng. Ngoài ra muối kiến vàng còn là bạn của cóc xanh, xoài sống, ổi tươi… Muối kiến còn dùng để ăn với cơm nóng, thịt luộc, thịt nướng… và đậm đà nhất là dùng với Bò – Nai 1 nắng. Muối kiến vàng ăn có mùi rất đặc trưng hơi chua chua, nồng nồng, béo béo, ngòn ngọt cay cay của kiến vàng rất bắt mồi với các món nướng. Cả nhà có thể cho thêm gia vị tùy thích (muối, bọt ngọt, chanh….).

Xuất phát từ món ăn dân dã của địa phương, đến nay, đặc sản muối kiến vàng Krông Pa đã được rất nhiều bạn bè trong và ngoài nước biết đến cũng như theo chân rất nhiều thực khách sành ăn đến với bạn bè ở ngoài nước.

Ngoài văn mẫu thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Gia Lai, đón đọc ☘ Thuyết Minh Về Đặc Sản Quê Em ☘ 21 Bài Hay Nhất

Tham khảo bài thuyết minh về phở khô Gia Lai, đây chính là một món ăn biến tấu từ món phở nước truyền thống đã tạo nên hương vị khác biệt cho vùng đất này.

Người Việt Nam, có lẽ, nhắc đến món phở thì ai ai cũng biết. Khó có thể thống kê được có bao nhiêu “biến tấu” từ phở, nhưng riêng với phở khô Gia Lai thì có lẽ, sẽ không lẫn vào đâu được, vì rất nhiều lý do.

Có nhiều quan điểm khác nhau nói về sự ra đời của phở, nhưng nổi bật và được chấp nhận nhất cho đến nay vẫn là quan điểm, phở là món ăn được biến tấu từ một món tương tự của người Pháp, xuất hiện vào khoảng những năm thập kỷ 20 của thế kỷ trước, khi người Pháp đặt chân đến Việt Nam. Nơi xuất hiện phở đầu tiên là ở Nam Định, sau đó, người Hà Nội đã làm cho món ăn này trở nên nổi tiếng và phổ biến.

Riêng với phở khô Gia Lai, tuy chưa có một điều tra chính thức, song đa số người dân cho rằng, món phở khô ấy là “đứa con tinh thần” của ông Nguyễn Thành Mỹ- chủ tiệm quán ăn Đại Hưng tại số 41 Hoàng Diệu, nay là đường Hùng Vương- TP Pleiku. Hiện nay, ông Mỹ đã 93 tuổi và có cô con gái Nguyễn Thị Bích Hồng- là chủ của cửa hàng phở Hồng nổi tiếng lâu nay.

Nhắc đến phở, người ta có thể điểm qua những cái tên quen thuộc như: phở Hà Nội, Nam Định, Sài Gòn, phở Huế… thế nhưng, chỉ duy nhất ở một tỉnh lẻ như Gia Lai lại sở hữu riêng cho mình một món phở được nhiều nơi biết đến. Không giống tất cả các loại phở thường thấy khác, phở khô Gia Lai… “không giống ai” khi được để trong 2 chiếc tô, một đựng phở, một chứa nước súp. Thế nhưng, đó không thể là điều khiến người ta ăn rồi có thể nhớ mãi. Chính hương vị đặc trưng của phở khô mới là chất níu giữ hồn người, mới là cái làm nên một dấu ấn khác biệt và ấn tượng giữa hàng ngàn, hàng vạn các món ăn khác.

Lý giải về lý do ra đời của món phở lạ lùng này, chị Hồng cho rằng, đơn giản đó là một cái duyên trong nghiệp mưu sinh mà cha cô đã may mắn có được. Điểm yếu của phở nước thông thường là nếu ăn không nhanh, sợi phở thấm nước, nở ra sẽ mất ngon. Phở khô đơn giản là sự biến tấu để khắc phục yếu điểm đó.

Phở khô Gia Lai chinh phục lòng thực khách bởi chính chất riêng, không lẫn vào đâu được. Thứ món ăn ấy dân dã và phổ biến, không phải hàng cao lương mỹ vị, xa vời mà bất cứ ai, dù cho kẻ giàu, người nghèo cũng đều có thể được thưởng thức. Cũng vì thế, mà phở khô được người ta biết đến nhiều hơn, gắn quyện nhiều hơn với cuộc sống người dân phố núi.

Cùng một món phở nhưng mỗi cửa hàng lại có những bí quyết chế biến riêng để món phở ấy mang những hương vị thơm ngon, đặc biệt nhất. Tuy nhiên, yếu tố quyết định chất lượng của món phở khô chính là việc lựa chọn nguyên liệu để chế biến. Từ xương hầm, gạo làm bánh phở cho đến gia vị, tất cả đều phải tươi, ngon thì món phở mới ngọt, đậm đà. Muốn có được bánh phở ngon, dai và dẻo nhất thiết phải chọn được loại gạo thích hợp. Nước súp phải được hầm kỹ, vớt bọt thường xuyên để giữ độ trong, việc căn chỉnh lửa sao cho phù hợp cũng là yếu tố cực kỳ quan trọng làm nên hương vị đậm đà cho món nước dùng.

Phở khô nhất thiết phải được ăn kèm với tương nâu – một trong những món tương cũng không kém phần độc đáo. Đây là loại tương được ủ từ đậu nành và đường vàng. Ngoài ra, nhất thiết phải có tóp mỡ, hành khô thái lát mỏng, phi với dầu cho ruộm vàng. Rau ăn kèm thường là giá trụng, rau húng quế, ngò gai, ớt… Thưởng thức món phở khô, người ăn có thể cảm nhận thấy cái ngọt đậm đà của nước dùng nóng hôi hổi, từng sợi phở vừa dẻo, dai lại béo ngậy của mỡ quyện với tương nâu thoang thoảng trong hương thơm của ngò gai, húng quế và chút cay nồng của ớt.

Sẽ là thiếu sót, là lãng phí nếu ai đó đã đến Gia Lai lại chưa thưởng thức món ẩm thực độc đáo này. Pleiku chưa xa đã nhớ là thế đấy! Tạo hóa đã ưu ái ban cho phố núi Pleiku những cái “vốn” nho nhỏ làm nên duyên níu giữ hồn người- mà trong những cái duyên ấy, phở khô xứng đáng được ví như nụ cười tươi trên gương mặt thiếu nữ “má đỏ, môi hồng” làm đắm lòng thực khách muôn phương.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Thuyết Minh Về Bác Hồ ❤️️15 Bài Thuyết Minh Hồ Chí Minh Hay

Thuyết Minh Về Bác Hồ Hay ❤️️ 15 Bài Thuyết Minh Hồ Chí Minh ✅Tham Khảo Tuyển Tập Văn Mẫu Thuyết Minh Về Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Mẫu dàn ý thuyết minh về Bác chi tiết sau đây sẽ giúp các em học sinh phân tích những ý chính cơ bản để triển khai bài văn của của mình.

I. Mở bài: Giới thiệu chung về Hồ Chủ tịch:

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng vô sản kiệt xuất, chiến sĩ hòa bình, danh nhân văn hóa thế giới.

Với dân tộc Việt Nam: Người là Cha, là Bác, là Anh…

Đất nước ta tự hào về Bác.

II. Thân bài:

* Tinh thần yêu nước nồng nàn của Hồ Chủ tịch:

Vào đầu thế kỉ XX, thấm thía nỗi nhục nô lệ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước.

Sau ba chục năm bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, năm 1941, Bác về Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc.

Bác lãnh đạo toàn dân vùng lên làm Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chủ quyền, độc lập, tự do. Bác Hồ là vị chủ tịch nước đầu tiên.

Bác sáng suốt và kiên trì lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ xâm lược.

Lí tưởng và mục đích phấn đấu cao cả của Bác là vì dân, vì nước.

Lòng nhân ái của Bác bao trùm khắp non sông, mọi tầng lớp nhân dân.

Phẩm chất thanh cao, giản dị, đức khiêm tốn của Bác có sức thuyết phục rất lớn.

* Sự tôn vinh của dân tộc và nhân loại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng cứu nước mà tên tuổi đời đời sống mãi với lịch sử và trong lòng nhân dân.

Bác là chiến sĩ hòa bình xuất sắc của thế giới, danh nhân văn hóa của nhân loại.

III. Kết bài:

Chúng ta tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết tinh tinh hoa truyền thống bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam.

Bác Hồ là hình ảnh đẹp nhất về một con người chân chính của mọi thời đại.

Trong hành trình gian nan và vô tận, con người luôn tìm kiếm những hình mẫu có thật trong cuộc sống để tôn vinh và noi theo với mong muốn trở nên hoàn thiện hơn. Một trong những hình mẫu lý tưởng ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Bác là vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là người anh hùng giải phóng dân tộc, và đồng thời là một danh nhân văn hóa thế giới.

Nếu Lê-nin là niềm tự hào của nước Nga, Phi-đen Ca-xtơ-rô là vì sao của nhân dân Cuba, thì Bác Hồ chính là người anh hùng vĩ đại trong lòng người dân Việt Nam. Bác đã soi sáng con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Làm thế nào người con bé nhỏ của xứ Nghệ có thể thực hiện được điều lớn lao ấy?

Trước Bác cũng có rất nhiều người đi khắp thế giới, nhưng là đi thám hiểm, đi buôn, đi truyền đạo. Người đi khắp thế giới để cứu dân tộc mình thì chỉ có một. Đó chính là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Đi đến đâu, Bác cũng để lại biểu tượng đẹp về lòng yêu nước. Bác lên tàu tìm đường cứu nước khi còn trẻ, khi trở về thì mái tóc Bác đã điểm bạc. Bác không tiếc cống hiến trọn tuổi thanh xuân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bác đã mang lại cuộc sống ấm no mơ ước cho nhân dân Việt Nam. Tất cả những gì Bác đã làm, từ bé nhỏ đến lớn lao, đều xuất phát từ lòng yêu nước chân thành và mãnh liệt. Chính lòng yêu nước ấy đã tạo nên Bác Hồ, người anh hùng dân tộc của chúng ta ngày hôm nay.

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Bác, quân dân ta đã anh dũng đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược với một niềm tin tưởng tuyệt đối về ngày toàn thắng. Thế nhưng, Bác không chỉ cứng rắn trong hoạt động quân sự mà còn rất lãng mạn trong lĩnh vực văn học. Thơ của Bác không thật nhiều nhưng rất cô đọng và súc tích. Từng câu từng chữ đều thể hiện sự kiên định, niềm lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dù lúc ấy Bác đang trong cảnh ngục tù hay đang sống giữa muôn vàn gian khổ.

Một vị danh nhân đã từng nói: “Nói đến văn học Việt Nam thì trước hết cần hiểu về Bác, hiểu con người văn hóa Hồ Chí Minh”. Quả thật như thế, Bác đã hòa trộn tinh hoa văn hóa nhân loại với gốc rễ văn hóa Việt Nam, tạo nên một đặc trưng văn hóa rất riêng ở Bác. Tất cả những điều trên đã thuyết phục UNESCO trao tặng Bác danh hiệu “Danh nhân văn hóa thế giới”.

Không chỉ có tài năng, Bác còn là một tấm gương đạo đức sáng ngời. Biết bao người chiến sĩ cộng sản từng sống và làm việc với Bác thường không khỏi xúc động khi hồi tưởng lại những ký ức ấy. Bác luôn để lại ấn tượng đẹp trong tim mỗi người mà Bác gặp vì vẻ giản dị, mộc mạc vô cùng thuần khiết. Trong từng lời nói của Bác đều ẩn chứa những luân lý đạo đức nhưng không khô khan mà nhẹ nhàng, sâu lắng, dễ dàng đi vào lòng người.

Cách sống của Bác cũng bình dị, mộc mạc như mục đích sống của Bác là hết lòng vì nước vì dân. Bác không có dinh thự như bao vua chúa khác mà ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ để có thể hòa mình với thiên nhiên. Tư trang của Bác cũng ít ỏi, chỉ là hai bộ quần áo Bác thường mặc với vài kỷ vật sau những chuyến bôn ba nước ngoài. Là một vị lãnh tụ vĩ đại nhưng Bác lại bình dị và mộc mạc thế đấy. Mỗi mẩu chuyện về Bác là một bài học đạo đức nhẹ nhàng, thấm thía.

Ngày nay, thế hệ trẻ luôn được khuyến khích làm việc và học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là kim chỉ nam vô cùng cần thiết trong cuộc sống của học sinh: “Học tập tốt, lao động tốt”, “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” là những lời dạy mà chúng em không thể nào quên được. Càng được học, càng tìm hiểu về Bác Hồ, em thấy càng tự hào vì nước Việt Nam của chúng ta nhỏ bé nhưng lại sinh ra những danh nhân không hề bé nhỏ.

Hồ Chí Minh là người chiến sĩ cộng sản kiên trung, là người con anh hùng của đất nước Việt Nam, đồng thời là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Bác là ánh sáng của lý tưởng và niềm tin trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Bác đã đi xa nhưng sao dường như vẫn đang dõi theo từng bước tiến của dân tộc. Ai hiến dâng đời mình cho nhân dân, cho loài người thì người ấy trở thành bất tử. Và Bác Hồ của chúng ta sẽ sống mãi cùng non sông đất nước.

Văn mẫu thuyết minh về Bác Hồ ngắn gọn sau đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các em học sinh trong quá trình làm bài.

Dân tộc Việt Nam, một dân tộc sinh ra với rất nhiều người con yêu nước. Trong số đó, Người mà nhân dân cả nước yêu quý, kính trọng và biết ơn chính là Bác Hồ- vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.

Bác Hồ vị lãnh tụ vĩ đại, người anh hùng giải phóng dân tộc. Người đã ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 người đã xuống tàu buôn của Pháp với hai bàn tay trắng làm rất nhiều việc nặng nhọc. Nhưng cũng bởi tình yêu nước, ý chí và lòng quyết tâm Bác đã không từ bỏ mà đến với nước Pháp xa xôi đã tìm đến với những con người cùng khổ tham gia Đảng cộng sản Pháp.

Với người Việt Nam không ai có thể quên được hình ảnh Bác sưởi ấm dưới mùa đông giá rét bằng một viên gạch, Bác đã phải làm nghề quét tuyết vô cùng nặng nhọc. Người đã đến với nước Nga được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác Lê-nin. Và rồi Người đưa ánh sáng Mác Lênin đến với nước mình vào ngày 3-2-1930 thành lập Đảng cộng sản Đông Dương ở Hương Cảng Trung Quốc.

Sau ba mươi năm bôn ba hải ngoại ở nước ngoài Bác đã trở về đặt chân lên quê hương, đất nước tại biên giới Cao Bằng bằng sự bồi hồi xúc động bởi đã lâu lắm rồi Bác mới cảm nhận được hương vị quê nhà, tình yêu sự tin tưởng của đồng bào dành cho Bác, dành cho Đảng. Bác đã trực tiếp lãnh đạo cách mạng toàn dân trong cuộc kháng chiến. Năm 1945 bằng tất cả sự nỗ lực, hi sinh của cả dân tộc thì nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Người đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam vào ngày 2-9 và là chủ tịch nước đầu tiên.

Lúc đó Người phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng vẫn phải lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm tiêu biểu là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu. Với bao công lao mà Bác đã dành cho đất nước Bác xứng đáng là vị lãnh tụ vĩ đại ghi tên mình vào trang sử vàng của dân tộc.

Không những thế Bác còn là một danh nhân văn hóa được nhân dân cả thế giới kính trọng bởi tài năng hơn người của mình. Trên con đường cứu nước của mình của mình Bác đã đến rất nhiều nơi, đã học và nói được thành thạo nhiều thứ tiếng. Trên đất nước Pháp, Bác đã viết báo “Những người khốn khổ” để tố cáo tội ác của thực dân Pháp.

Năm 1942 Bác sang Trung Quốc và bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt bị giam cầm hơn một năm trời. Trong thời gian bị giam cầm Người đã cho ra đời tập Nhật kí trong tù với 133 bài thơ bằng chữ Hán với nhiều đề tài khác nhau. Tác phẩm ấy đã đánh dấu khí phách kiên cường của người chiến sĩ cách mạng, một hồn thơ dạt dào cảm xúc với tình yêu thiên nhiên, yêu nước, tinh thần lạc quan. Chính tập Nhật kí trong tù là một thành công để Bác trở thành danh nhân văn hóa của Việt Nam và của thế giới.

Và khi trở về nước dù có bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian để sáng tác thơ và cho ra đời các bài thơ hay như: Cảnh khuya, Rằm tháng giêng và Tức cảnh Pác Bó…

Khi đất nước không còn chiến tranh cuộc sống ổn định, đất nước đang trên thời kì phát triển và hội nhập trên thế giới nhưng tư tưởng của Bác vẫn còn mãi vẫn soi sáng cách mạng Việt Nam. Và tuyên truyền cho mọi người phải học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Có thể nói rằng Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Là học sinh chúng ta phải cố gắng học tập thật tốt và làm theo năm điều Bác Hồ dạy để trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Trong suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn dành một phần trái tim mình cho thiếu nhi Việt Nam và các cháu nhỏ trên toàn thế giới. Tình thương yêu bao la của Bác Hồ đối với thiếu niên, nhi đồng được thể hiện sâu sắc, phong phú, sinh động ở cả lời nói và việc làm, nhất là ở những lá thư Bác gửi cho các cháu vào dịp Tết Trung thu và ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6 hằng năm.

Bác Hồ đã “đi xa” 46 năm, song đọc lại những lá thư ấy, chúng ta bồi hồi xúc động, hiểu hơn những tình cảm sâu nặng, thiết tha của Bác đối với các cháu nhỏ. Trong thư gửi các cháu thiếu nhi nhân Tết Trung thu năm 1945, Bác viết: “Các cháu vui cười hớn hở, Bác Hồ cũng vui cười hớn hở với các cháu. Đố các cháu biết vì sao? Một là vì Bác rất yêu mến các cháu; hai là vì Trung thu năm ngoái nước ta còn bị áp bức, các cháu còn là một bầy nô lệ trẻ con, mà Trung thu năm nay, nước ta đã tự do, các cháu đã trở thành những tiểu chủ nhân của một nước độc lập”.

Trong lá thư lịch sử này, Bác đã khéo léo gắn kết tình thương yêu con trẻ với niềm tự hào lớn lao khi đất nước giành lại được độc lập, tự do. Thư gửi các cháu thiếu nhi nhân Trung thu năm 1951, Bác đã tâm sự:

“Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ nhung”

Ở những dòng thư dịu dàng, đằm thắm này, Bác Hồ không chỉ vui mừng, tự hào về lớp lớp măng non Việt Nam sống trong chế độ mới luôn xinh xắn, ngoan ngoãn, giỏi giang, mà Bác còn khẳng định, Bác là người yêu quý các cháu nhi đồng nhiều nhất. Chính tình thương yêu bao la đó đã nâng tầm sự “vĩ đại” của Bác, làm cho mỗi cháu nhỏ, mỗi chúng ta ngày càng kính yêu, tin tưởng và trân trọng Bác nhiều hơn.

Đặc biệt, những năm cuối đời, Bác luôn da diết nhớ tới đồng bào miền Nam ruột thị, trong đó có nỗi nhớ vô hạn đối với thiếu niên, nhi đồng miền Nam. Trong hoàn cảnh kháng chiến cam go, ác liệt, thiếu nhi miền Nam phải chịu bao đau thương, tang tóc dưới ách xâm lược của đế quốc Mỹ. Bác Hồ luôn lạc quan, tin tưởng sắt đá nhân dân ta nhất định thắng, Nam – Bắc nhất định thống nhất, Bác nhất định sẽ được gặp các cháu thiếu nhi miền Nam vô cùng yêu quý của mình.

Mặc dù điều mong ước được gặp thiếu nhi miền Nam của Bác không trở thành hiện thực, song nhân dân ta đã hoàn toàn chiến thắng; Tổ quốc ta đã độc lập, tự do, thống nhất; các thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam đã được sống trong hòa bình, hạnh phúc, tương lai tươi sáng hơn…

Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng tình thương yêu giữa Bác Hồ đối với thiếu nhi và giữa thiếu nhi đối với Bác Hồ vẫn còn mãi. Đó là tình cảm sâu sắc, thân thiết và cao đẹp vô cùng. Để đền đáp công ơn trời biển và tình thương yêu lớn lao, cao quý của Bác, toàn thể thiếu niên, nhi đồng Việt Nam hôm nay phải luôn cố gắng, nỗ lực thực hiện thật tốt 5 điều Bác Hồ dạy, luôn chăm học, chăm làm “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, tích cực công tác Đội, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Xem Thêm ❤️️ Kể Về Anh Hùng Dân Tộc Mà Em Biết ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay

Có một con người mà khi nhắc đến tên, những người Việt Nam đều vô cùng kính yêu và ngưỡng mộ, đó là Hồ Chí Minh: vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.

Trước hết ta thấy Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Bác là người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận cứu nước đầy gian khổ, lãnh đạo dân ta tới chiến thắng, khai sáng nền độc lập tự do ở đất nước Việt Nam. Người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường đi và tương lai cho đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi đói nghèo, đi lên xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp.

Tư tưởng của Người có giá trị vô cùng to lớn đối với Cách Mạng Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc, Người yêu nước thương dân sâu sắc, bởi vậy triệu triệu người dân Việt Nam đều là con cháu của Người. Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước nhưng cách đối xử của Bác đối với cá nhân từng người vô cùng thân mật và gần gũi.

Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam lại có một vị lãnh tụ giản dị và gần gũi với mọi người như thế: Sống trong ngôi nhà sàn nhỏ, ăn những món ăn dân dã, mặc áo bà ba nâu và tư trang chỉ là một chiếc rương nhỏ và mấy bộ quần áo bạc màu …Có lẽ bởi vậy mà với người Việt Nam, Bác Hồ không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ vĩ đại được mọi người dân Việt Nam kính yêu và ngưỡng vọng.

Bác Hồ còn được biết đến ở cương vị một danh nhân văn hoá thế giới. Bác đã từng là chủ bút tờ báo “Người cùng khổ ”ở Pháp, đã từng viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”gây tiếng vang lớn. Người còn là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam với những tập truyện ký bằng tiếng Pháp, “Tuyên ngôn độc lập” và “Nhật ký trong tù” cùng rất nhiều những vần thơ khác nữa…

Bác Hồ đã từng đi khắp các châu lục trên thế giới, thông thạo nhiều thứ tiếng, am hiểu nền văn hoá của nhiều dân tộc. Bác đã rèn giũa và tạo dựng cho mình một phong cách riêng, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, thanh cao và giản dị, giữa tinh hoa văn hoá nhân loại và tinh hoa văn hoá Việt Nam.

Bác là tinh hoa khí phách của dân tộc, cuộc đời của Bác là một tấm gương sáng. Bởi vậy mà chúng ta cần “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại ”.

Tham khảo cách hành văn xúc động, cuốn hút người đọc với bài văn mẫu thuyết minh về Chủ tịch Hồ Chí Minh chi tiết sau đây.

Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của Người là một cuộc đời trong sáng, cao đẹp của một vị anh hùng dân tộc, một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Người đã dành cả cuộc đời mình để cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội. Tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh thời Bác có rất nhiều tên gọi, mỗi tên gọi lại gắn với khoảng thời gian hoạt động cách mạng riêng và trong những hoàn cảnh riêng.

Người sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước và tại quê hương có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sinh ra trong hoàn cảnh nước mất, nhân dân lầm than dưới ách đô hộ của Thực dân Pháp càng khiến lòng yêu nước được trỗi dậy và nung nấu ý chí đánh đuổi thực dân từ khi Bác còn rất trẻ. Cũng lúc ấy Bác Hồ đã chứng kiến rất nhiều những nỗi khổ cực của nhân dân và các cuộc đấu tranh chống thực dân của dân tộc chịu thất bại và đi vào bế tắc.

Cũng chính khi ấy, chàng thanh niên Nguyễn Sinh Cung quyết định ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911. Bác quyết định sang các nước phương Tây và sống hòa mình với nhân dân lao động. Trong suối ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài Người đã đi đến nhiều nước, vừa học tập vừa hoạt động cách mạng, vừa nghiên cứu tìm đường cứu nước. 

Sau 30 năm ở nước ngoài thì Bác đã trở về nước lãnh đạo phong trào cách mạng của dân tộc. Quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi và đặc biệt là sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi hòa bình được lập lại thì Bác đã đứng ra điều hành đất nước. Đưa ra nhiều chính sách, phát động nhiều phong trào và tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng miền Nam để thống nhất đất nước.

Có thể thấy Hồ chủ tịch là một người có lòng yêu nước nồng nàn. Một người lãnh đạo tài ba, dũng cảm. Ngoài ra Người còn được thế giới biết đến với vai trò của một nhà thơ lớn. Mặc dù thời gian Bác dành cho thơ ca không nhiều nhưng vốn là người có tâm hồn thơ nhạy cảm, lãng mạn và là người có phong thái ung dung, tự tại nên Người có nhiều bài thơ gắn với từng hoàn cảnh của cuộc đấu tranh của dân tộc cũng như hoạt động cách mạng của Người.

Khi hoạt động ở bên Trung Quốc, Bác Hồ đã từng bị chính quyền Tưởng bắt giam. Cũng lúc này người đã sáng tác một tập thơ có giá trị và được nhiều người biết đến, tập thơ “Nhật ký trong tù”. Có thể thấy dù hoàn cảnh như thế nào thì Người vẫn rất tự tại, vẫn rất nhạy cảm trước thiên nhiên, trước thời cuộc. Thơ của Người chính là sự kết hợp tinh túy giữa tinh hoa dân tộc và văn hóa thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã trở thành tấm gương về nhiều mặt cho nhiều lớp người noi theo. Người không chỉ tài giỏi, dũng cảm, ý chí quyết tâm sắt đá mà còn là người mang nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Một người là chủ tịch của cả một quốc gia nhưng lại hết sức giản dị. Sự giản dị của Bác đã được bác Phạm Văn Đồng viết rất rõ trong bài “Đức tính giản dị của Bác Hồ”. Giản dị từ cách ăn mặc, sinh hoạt đến lời nói, cử chỉ. Những chiếc áo nâu sờn cũ, đôi dép cao su đã theo bác từ những ngày còn ở chiến khu đến khi về thủ đô. Nó đã theo Bác đi khắp nẻo đường. Rồi những bữa cơm giản dị, nơi ở là một căn nhà sàn nhỏ, đơn sơ.

Bác luôn có thái độ gần gũi với nhân dân, yêu quý và chăm lo cho đời sống của mọi người, của các cháu thiếu nhi. Mỗi câu chuyện về Bác đều đem lại những cảm xúc nghẹn ngào thấm thía, những bài học cho chúng ta noi theo. Chính vì vậy chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân yêu quý và gọi bằng tên gọi rất đỗi thân thương, kính trọng: Bác Hồ – vị cha già của dân tộc.

Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Nhắc đến Bác, nhân dân Việt Nam đều kính trọng và thương yêu vô cùng.

Tham Khảo 🌿 Tả Ảnh Bác Hồ ❤️️15 Bài Văn Tả Chân Dung Bác Hồ Hay Nhất

“Nếu so sánh sự nghiệp đấu tranh chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc kéo dài suốt ba mươi năm của dân tộc ta là một con tàu giữa đại dương đầy bão tố thì Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thuyền trưởng tài ba, sáng suốt, đã đưa con tàu vượt qua trùng trùng sóng gió, cập bến vinh quang.” Bác Hồ, Người là niềm tin thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Suốt đời, Bác hi sinh cho độc lập, tự do…”.

Đất nước Việt Nam tự hào về Bác Hồ bởi Bác chính là sự kết tinh những tinh hoa truyền thống của bản sắc dân tộc. Nhân dân ta đã thấy ở Bác Hồ con người Việt Nam đẹp nhất và nhân dân thế giới gắn liền tên nước Việt Nam với tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Với vai trò của một lãnh tụ cách mạng, Bác đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình đối với dân, với nước. Bác là người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, cùng Đảng dẫn đường chỉ lối cho dân tộc vùng lên phá bỏ xích xiềng nô lệ thực dân, phong kiến, giành quyền sống tự do. Người chiến sĩ cộng sản lão thành Nguyễn Ái Quốc đã trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có chủ quyền độc lập thiêng liêng.

Sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ vĩ đại như non cao, biển rộng nhưng Bác lại sống một cuộc sống vô cùng giản dị và tuyệt vời trong sáng. Suốt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân, Người dành hết cho nhân dân, cho Tổ quốc. Câu nói tâm huyết nêu rõ mục đích phấn đấu và lí tưởng cao cả của Bác Hồ đã làm rung động trái tim bao người: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành… Mục đích ấy, lí tưởng ấy là nguồn sức mạnh vô biên, thôi thúc Bác suy nghĩ, hành động và cống hiến cuộc đời mình cho dân, cho nước.

Đức tính khiêm tốn, giản dị của Bác đã trở thành huyền thoại. Sau khi Bác mất, căn nhà sàn Bác ở mở rộng cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến thăm. Không ai là không xúc động trước những vật dụng gắn bó với Bác gần như suốt cuộc đời: chiếc máy chữ và chiếc đồng hồ cũ kĩ trên bàn làm việc, đôi dép lốp cao su mòn gót…

Giường mây, chiếu cói đơn chăn gối.

Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn…

Bác không bao giờ đòi hỏi điều kiện vật chất tối đa cho riêng mình. Ngược lại, Bác thanh thản, lạc quan trong cuộc sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư nhưng những gì Người để lại cho nhân dân, cho đất nước có thể sánh ngang với núi cao, biển rộng.

Trước lúc đi xa vào cõi vĩnh hằng, Bác viết trong Di chúc: Tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng… Sự ra đi của Bác là một tổn thất lớn lao không gì bù đắp được. Bác đã hóa thân vào sông núi, biển trời… của đất nước Việt Nam mà Người hằng yêu dấu.

Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân thế giới yêu mến và khâm phục, còn kẻ thù cũng phải nghiêng mình kính nể bởi Bác Hồ là hiện thân sinh động nhất của truyền thống anh hùng bất khuất chống ngoại xâm. Căm thù chiến tranh, yêu mến hòa bình, nỗ lực cống hiến cho một nền hòa bình, thịnh vượng của toàn nhân loại, những điều đó đã tạo nên sức cảm hóa, thuyết phục lớn lao của Bác. Bác Hồ đã được Hội đồng hòa bình thế giới phong cho danh hiệu cao quý là Chiến sĩ hòa bình, là Danh nhân văn hóa của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại vinh quang cho đất nước Việt Nam dân tộc Việt Nam. Các thế hệ tiếp nối đã đi theo con đường cách mạng đúng đắn mà Bác đã dẫn đường chỉ lối, biến khát khao cháy bỏng của Người thành hiện thực: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh để sánh vai với các cường quốc khắp năm châu.

Đọc Thêm Bài 🌿 Tả Về Bác Hồ Lớp 2 ❤️️15 Bài Văn Tả Bác Hồ Hay Nhất

Nếu như Xô – Viết tự hào vì có Mác – Lênin; nước Mỹ tự hào với Oasinhton thì Việt Nam tự hào biết mấy khi có Bác Hồ. Bác không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là một doanh nhân văn hóa của cả nhân loại. Hình ảnh Bác Hồ kính yêu luôn là hình mẫu lý tưởng để nhân dân ta noi gương, học tập.

Bác Hồ tên thật là Nguyễn Sinh Cung, quê ở Nghệ An. Là một nhà nho yêu nước, không cam chịu cảnh nước mất nhà tan, đất nước chia cắt, với hai bàn tay trắng Bác đã lên đường ra nước ngoài học hỏi. Người đi khắp năm châu bốn bể, học những cái hay, cái khoa học, cái mới về truyền dạy cho dân ta; người đọc và tìm tòi những cương lĩnh, nghiên cứu để rồi áp dụng vào tình thế đất nước để tim ra con đường cứu nước đúng đắn nhất, đưa nhân dân ta thoát khỏi ách thống trị lầm than.

Trong suốt cuộc hành trình ấy với bao gian nan, hiểm nguy, khó khăn bộn bề, có khi bị giặt bắt, dùng hình nhưng người chẳng nản trí. Người dùng tuổi trẻ và sức lực của mình để cống hiến cho dân tộc, mang lại ấm no yên bình cho nhân dân. Ta có thể kể đến các cống hiến vĩ đại trên con đường cứu nước gian nan của người như: Bản yêu sách 8 điểm; Bản án chế độ thực dân Pháp (1925); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946). Tất cả những gì Bác làm, từ những điều đơn sơ nhỏ nhặt nhất cũng đều xuất phát từ tấm lòng yêu nước thương dân bao la. Và không phụ sự kỳ công, khó nhọc, trăn trở dưới sự lãnh đạo tài ba của Bác, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng và giành chiến thắng, đánh đuổi được bè lũ xâm lược ra khỏi bờ cõi đất nước, trả lại vẹn toàn tổ quốc, hòa bình ấm no dân tộc.

Khi hòa bình lập lại, Hồ chủ tịch đứng ra điều hành đất nước với nhiều chính sách phát triển, đối nội và đối ngoại hợp lý để nâng cao đời sống nhân dân, ổn định và phát triển kinh tế. Hồ chủ tịch được nhân dân tin yêu với cái tên Anh hùng giải phóng dân tộc.

Một con người cứng rắn, dũng cảm trong đường lối quân sự, chính trị như thế nhưng rạo rực trong Bác lúc nào cũng là một tâm hồn thơ nhạy cảm, lãng mạn, một thi nhân văn hóa được thế giới công nhận. Thơ của Bác không nhiều, không dài nhưng lại rất cô đọng, súc tích và có giá trị. Tiếng thơ của Bác mang nhiều màu sắc đa dạng và phong thái khác nhau. Có lúc là tiếng thơ chiến đấu hừng hực:

Nhưng dù ở trong hoàn cảnh nào toát lên từ thơ Bác vẫn là nỗi lòng vì non sông nước nhà, và tâm hồn phóng khoáng, lạc quan, yêu thiên nhiên, tạo vật; say mê hứng thú với cái đẹp; trân trọng những gì dù là nhỏ nhặt và dung dị nhất. Thơ của Bác chính là sự kết hợp tinh túy giữa tinh hoa dân tộc và văn hóa thời đại, tạo nên một bản sắc đặc trưng rất riêng mang âm hưởng thi ca Hồ Chí Minh.

Không chỉ tài năng vĩ đại, Bác Hồ còn là tấm gương đạo đức sáng ngời cho lớp lớp người noi theo. Bác để lại ấn tượng trong lòng quân dân ta và bạn bè quốc tế bởi sự thanh bạch, liêm khiết và giản dị. Sự giản dị của Bác được thể hiện qua cách ăn, mặc sinh hoạt của Bác: tấm áo nâu sờn cũ và đôi dép cao su đã theo chân Bác đi khắp mọi nẻo đường; đi công tác xa Bác luôn dặn anh đầu bếp chuẩn bị cơm sẵn để nhân lúc nghỉ ngơi dọc đường ăn tránh gây phiền hà địa phương.

Là vị lãnh tụ vĩ đại nhưng Bác lại chọn cho mình một căn nhà sàn nhỏ đơn sơ nơi cuối vườn để nghỉ ngơi và làm việc. Bác luôn gần gũi với nhân dân, đi sâu vào cuộc sống dân tình để thấu hiểu lòng dân; yêu quý và chăm lo cho đời sống mọi người, các cháu thiếu nhi… Bác Hồ luôn đi đầu trong các phong trào, vận động nhân dân ta học và làm theo để phát triển đời sống kinh tế cá nhân và cộng đồng, ví dụ như: Phong trào diệt giặc đói; giặc dốt; phong trào tập thể dục thể thao; tết trồng cây. Mỗi câu chuyện về Bác lại thật xúc động, và thấm thía.

Kết tinh trong dáng người nhỏ bé ấy là biết bao vẻ đẹp tinh hoa. Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại dân tộc; vị cha già yêu thương của con em Việt Nam và là một tấm gương đạo đức sáng ngời. Dù Bác đã đi xa nhưng những tư tưởng chỉ đạo của Bác, những câu chuyện và lời dạy ấy vẫn được nhân dân ta tiếp nối và phát triển. Những tư tưởng đó sẽ là ngọn đèn sáng soi để Đảng, Nhà nước và nhân dân học tập, lao động, cố gắng, phấn đấu để đưa nước nhà tiến lên phát triển; xứng vai với các cường quốc năm Châu thế giới như lời Bác đã từng căn dặn.

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở Kim Liên huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội. Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân nên sớm có lòng yêu nước, nhiệt huyết cách mạng.

Năm 1911 Người đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc. Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long gần Hương Cảng, thông qua “Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt” của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hội nghị của Đảng tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cao trào cách mạng 1930 – 1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước đồng minh. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội Nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Đã họp quyết định tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8 năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt qua khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Từ năm 1965 đến năm 1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.

Có thể thấy, cả cuộc đời của Hồ Chủ tịch đều dành trọn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hồ Chí Minh chính là vị lãnh tụ đáng kính của nhân dân Việt Nam.

Xem Thêm 🌿 Tả Về Bác Hồ ❤️️15 Bài Văn Tả Chủ Tịch Hồ Chí Minh Hay Nhất

Văn mẫu thuyết minh về Bác ngắn hay sau đây sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập và chuẩn bị cho bài viết trên lớp của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Người ngay từ thời niên thiếu.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước.

Tháng 6 năm 1911, Người đi ra nước ngoài, suốt 30 năm hoạt động, Người đã đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những phong trào của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, hoạt động cách mạng và nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đây, Người đã nhận rõ đó là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941 Người về nước, triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận Việt Minh, gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Tháng 7 năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Géneva được ký kết. Miền Bắc được giải phóng. Miền Nam bị đế quốc Mỹ xâm lược biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Ngày 2/9/1969, mặc dù đã được các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng do tuổi cao sức yếu Người đã từ trần, hưởng thọ 79 tuổi. Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc, cho nhân dân, vì lý tưởng cộng sản, vì độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Hồ Chủ tịch là lãnh tụ cách mạng vô sản kiệt xuất, một chiến sĩ cộng sản lão thành, Danh nhân văn hóa của thế giới. Với dân tộc Việt Nam, Người là Cha, là Bác, là Anh, là “Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”…. Đất nước ta, dân tộc ta tự hào về Hồ Chủ tịch – con người giản dị và vĩ đại – tiêu biểu cho truyền thống bốn ngàn năm lịch sử vẻ vang.

Đầu thế kỉ XX, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành thấu hiểu nỗi nhục nô lệ dưới ách xâm lược của thực dân Pháp nên đã noi gương các sĩ phu tiền bối như Phạn Bội Châu, Phan Chu Trinh… tìm đường cứu nước. Rời bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) năm 1911, Nguyễn Tất Thành nung nấu ý chí là phải sang tận nước Pháp để tìm hiểu kẻ thù, từ đó có cách chống lại chúng.

Ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, người chiến sĩ cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc đã cống hiến rất nhiều cho phong trào đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thuộc địa bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới và trở thành người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1941, với vốn sống thực tế, với kinh nghiệm dày dặn và trình độ hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Lòng nhân ái của Hồ Chủ tịch thể hiện lí tưởng cao cả là một đời phấn đấu, hi sinh để mưu cầu độc lập tự do cho dân, cho nước: Tự do cho tổ quốc tôi, cơm áo cho đồng bào tôi. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Tình yêu thương con người của Bác sâu sắc và rộng lớn. Trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, Bác thương em bé mới nửa tuổi đã phải theo mẹ vào chốn lao tù (Cháu bé trong nhà lao Tân Dương – Nhật kí trong tù). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác thương các cháu nhi đồng phải sống khổ sở vì thiếu thốn, vì bom đạn: Nay vì vận nước gian nan, trẻ em cũng phải lầm than cực lòng. Bác luôn quan tâm và yêu thương các cháu với tình cảm chân thành, ruột thịt: Ai yêu nhi đồng, bằng Bác Hồ Chí Minh…

Bác thông cảm với người lao động vất vả, cơ cực, lo nỗi lo mất mùa, chia sẻ niềm vui được mùa với nông dân: Nghe nói năm nay trời đại hạn, Mười phân thu hoạch chỉ vài phân… Khắp chốn nông dân cười hớn hở, Đồng quê vang dậy tiếng ca vui.. (Nhật kí trong tù).

Bác sống giản dị, thanh bạch, không bao giờ nói về mình. Đức khiêm tốn, sự hài hòa giữa tư tưởng vĩ đại và phong thái tự nhiên, hồn hậu, gắn bó chan hòa với con người và thiên nhiên của Bác đã tạo nên sức thuyết phục lớn lao đối với dân tộc và nhân loại.

Hồ Chủ tịch là một nhân cách khiêm tốn, giản dị và vĩ đại. Tài năng và đức độ của Bác rất xứng đáng với những danh hiệu cao quý mà cả nhân loại đã tôn vinh: lãnh tụ cách mạng vô sản xuất sắc, chiến sĩ hòa bình, Danh nhân văn hóa thế giới… Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Bác là kết tinh tinh hoa của bốn ngàn năm lịch sử và thời đại. Bác Hồ là hình ảnh đẹp nhất về một Con Người cộng sản chân chính của mọi thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Người ngay từ thời niên thiếu.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước.

Tháng 6 năm 1911, Người đi ra nước ngoài, suốt ba mươi năm hoạt động, Người đã đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những phong trào của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, hoạt động cách mạng và nghiên cứu các học thuyết cách mạng.

Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941 Người về nước, triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận Việt Minh, gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Thực hiện chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Sam Cao, thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Tháng 8 năm 1945, Người cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và chủ trì Đại hội Quốc dân ở Tân Trào. Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, cử Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Cuộc đời của Bác được biết đến không chỉ bằng những công lao to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mà còn là bởi phong cách sống giản dị không giống với bất kì một vị nguyên thủ quốc gia nào trên thế giới. Vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh đến từ sự giản dị trong cuộc sống hằng ngày.

Hàng loạt những dẫn chứng cụ thể và toàn diện để chứng minh điều ấy. Với cương vị của một nhà lãnh đạo nhưng Bác Hồ lại “lấy chiếc nhà sàn nhỏ bé bằng gỗ bên cạnh chiếc áo làm “cung điện” của mình”. Chiếc nhà sàn “vỏn vẹn có vài phòng dùng làm nơi tiếp khách, nơi họp Bộ chính trị, nơi làm việc và ngủ”. Trang phục của Bác cũng đơn giản hết mực “với bộ áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ”. Món ăn hàng ngày thì vô cùng đạm bạc – toàn là món ăn dân tộc không chút cầu kì: “cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa”. Bác sống ở đó một mình với “tư trang ít ỏi là một chiếc va li con và một bộ quần áo, vài vật kỉ niệm”.

Dường như, ta có thể cảm nhận được hình ảnh của chính người nông dân Việt Nam trong con người Bác – một vị lãnh tụ của dân tộc. Lối sống giản dị của Người khiến mỗi người dân Việt Nam cảm nhận được sự gần gũi, thân tình không thể tìm thấy được trong bất kì một vị chủ tịch hay tổng thống nào trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tấm gương sáng ngời để các thế hệ sau học tập và làm theo.

Gợi ý ❤️️Thuyết Minh Về Tác Giả Trương Hán Siêu ❤️️12 Bài Văn Hay

Bài văn mẫu thuyết minh về Bác hay đặc sắc sau đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo những ý văn hay cũng như cách diễn đạt khéo léo, hấp dẫn thu hút người đọc.

Chủ tịch Hồ Chí minh là một vị lãnh tụ, một nhà cách mạng đại tài, người con là nhà thơ nhà danh nhân văn hóa thế giới. Trong cuộc đời người đã để lại cho đất nước con người Việt Nam rất nhiều truyền thống quý báu. Nhưng có lẽ cái đáng nhớ nhất ở người chính là tư cách đạo đức tinh thần Cần- Kiệm- Liêm- Chính- Chí – Công- Vô -Tư.

Đất nước chúng ta luôn tự hào về người, bởi người chính là sự kết tinh của vì sao tinh tú nhất. Người là ánh sáng, là niềm tin cho muôn dân soi vào. Ở bất kỳ vai trò nào người cũng hoàn thành vai trò, nhiệm vụ của mình một cách xuất sắc.

Trong vai trò một người lãnh tụ người đã dẫn dân tộc Việt Nam ra khỏi đêm tối nô lệ. Người lên đường bôn ba khắp năm châu để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc ta. Đó chính là con đường cách mạng theo đường lối Mác – Lê Nin.Nhờ con đường mà người tìm thấy mà dân ta thoát khỏi kiếp tối tăm. Tổ quốc ta trở thành nước độc lập, người dân của ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành.

Với cương vị một người cha già dân tộc người đã chăm lo, quan tâm tới đời sống của tất cả người dân. Bác đã lo lắng cho từng người già, trẻ nhỏ, từng người chiến sĩ. Biết bao nhiêu đêm Bác thức trắng, trằn trọc không ngủ khi lo lắng cho những người dân cho, số phận của dân tộc mình.

Trong vai trò một nhà văn, nhà thơ một danh nhân văn hóa Bác Hồ cũng đã để lại nhiều tác phẩm hay, gây được tiếng vang lớn như tập thơ “Nhật ký trong tù”, Cảnh khuya, hay “Bản tuyên ngôn độc lập”…những tác phẩm của Bác không chỉ hay về mặt nghệ thuật mà nó có tác động sâu sắc tới tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân. Nó còn là thanh gươm sắc bén nhằm thẳng vào những kẻ xâm lược, gây ra cuộc chiến tranh phi nghĩa, bất lương.

Trong cuộc sống hàng ngày, Bác là người vô cùng giản dị, nếp sống mộc mạc, chân thành, tiết kiệm của Bác là tấm gương sáng cho thế hệ chúng ta hôm nay phải noi theo. Mỗi bữa cơm của người chỉ vài miếng cá kho, rau luộc, tương cà…Người bảo đất nước ta còn nghèo phải tiết kiệm vì miền Nam thân yêu còn chưa được giải phóng. Bác chăn nuôi ao cá, tự trồng rau, nuôi gà…để tạo ra những thực phẩm thiết yếu phục vụ cho mình.

Bác hy sinh rất nhiều, cống hiến rất nhiều nhưng chưa bao giờ người tư lợi một điều gì cho riêng mình. Người sống an nhiên, ra đi thanh thản. Cái người băn khoăn mãi trước lúc lâm chung đó chính là việc quê hương miền Nam của chúng ta vẫn chưa hoàn toàn giải phóng. Đúng như hai câu thơ mà nhà thơ Tố Hữu đã viết tặng Bác Hồ:

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông, mọi kiếp người”

Trong bản Di chúc trước lúc ra đi người đã viết lại rằng “Tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng…”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi nhưng những tư tưởng chân lý của người vẫn còn sáng mãi. Các thế hệ nối tiếp người sẽ luôn phải phát huy và làm theo những lời người đã khuyên nhủ, dạy dỗ.

Chiến tranh đã đi qua gần nửa thế kỉ nhưng nỗi xót thương và niềm yêu kính của mỗi người dân Việt Nam dành cho Bác Hồ – vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – chưa bao giờ nguôi cạn. Nhớ đến người, những dòng người hướng về lăng Bác tưởng như không bao giờ dừng lại.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và quần thể lăng gồm quảng trường Ba Đình, khu nhà sàn, vườn cây,… sau hai năm xây dựng, ngày 19/8/1975 đã được khánh thành.

Mặt chính của lăng nhìn ra hướng đông là Quảng trường Ba Đình. Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21,6 mét. Lớp dưới kết cấu bậc nhiều cấp, có lễ đài dành cho đoàn chủ tịch khi mít tinh. Phần giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài, hành lang, cầu thang lên xuống. Phần trên là mái lăng được tạo dáng cách điệu bông sen nở. Mặt chính lăng có dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá hồng ngọc màu mận chín.

Lăng là nơi lưu giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Cha già dân tộc, người đã được UNESCO tặng danh hiệu Danh nhân Văn hóa thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc nhân kỷ niệm 100 ngày sinh (1890 – 1990).

Công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học và công nhân hai nước Việt Nam – Liên Xô tỏ lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và là sản phẩm của tình hữu nghị Việt – Xô.

Lăng Bác quay về hướng Đông để đón ánh mặt trời, trước cửa lăng là quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi đây, ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã chứng kiến những giờ phút thiêng liêng nhất của dân tộc khi Hồ Chí Minh đứng trước quốc dân đồng bào đọc “Tuyên ngôn Độc lập” công bố với thế giới nền độc lập lâu bền của dân tộc Việt Nam ta. 

Phía tây của Quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chủ tịch. Tại đây còn có Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn là nơi ở của Người, hồ cá, vườn cày, rặng dừa, những hàng rào dâm bụt. Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam:

Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17-5-1958 cho tới khi Người qua đời. Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.

Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vần Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ, song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê…

Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử. Nhắc đến lăng Bác, lòng người lại rưng rưng trong niềm thương nhớ:

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Cùng đón đọc bài văn thuyết minh về quê Bác lớp 8 hay và giàu cảm xúc được chúng tôi chia sẻ sau đây.

Làng Sen – quê nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một làng quê thơm ngát hương sen, đó chính là nơi người đã sống trong thời niên thiếu (1901-1906).

Có một ngôi làng mà những hình ảnh thân thương gần gũi đã đã in sâu vào tâm thức người Việt. Nơi ấy có những mái nhà tranh dưới những lũy tre xanh, có nhịp võng trưa hè cùng tiếng ru ầu ơ của mẹ, có câu dân ca mênh mang cùng đồng ruộng núi sông… Ngôi làng mang tên làng Sen vì luôn ngát hương sen; là quê hương của Bác Hồ kính yêu, người con ưu tú của dân tộc!

Làng Sen thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An- mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Từ thành phố Vinh đi theo Quốc lộ 46 khoảng 15km là tới làng Sen, quê Bác.

Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ của làng Sen gắn liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ như một miền ký ức đẹp và là tấm gương sáng cho mọi những thế hệ.

Đó là giếng Cốc, cây đa, đền làng Sen, nhà thờ họ Nguyễn Sinh… và đặc biệt là ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc- thân phụ Bác, nơi gắn bó với tuổi thơ của Bác Hồ, cũng là khởi nguồn cho một tinh thần yêu nước và ý chí lớn lao của người anh hùng dân tộc sau này.

Năm 1901, thân phụ Bác Hồ là Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng, là một niềm vinh dự với gia đình, họ tộc và cả làng Sen. Dân làng Sen đã dựng một ngôi nhà gỗ mái tranh 5 gian để đón vị Phó bảng vinh quy bái tổ.

Cả gia đình đã từ làng Hoàng Trù (quê ngoại Bác Hồ) trở về sống tại Làng Sen. Ngôi nhà này đã gắn với tuổi thơ Bác Hồ từ năm 1901 đến năm 1906 (trước khi theo cha vào Huế).

Dù đã đỗ đạt song gia đình cụ Phó bảng vẫn sống thanh đạm. Phần lớn các đồ đạc trong nhà đều do dân làng tặng, những kỷ vật tới giờ được gìn giữ gần như nguyên vẹn.

Ngôi nhà của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã gắn bó với một giai đoạn quan trọng đầy ý nghĩa thời niên thiếu của cuộc đời Bác Hồ từ năm 11- 16 tuổi.

Ngôi nhà là những ân tình làng xóm quê hương, là nơi chứng kiến quá trình học tập, trưởng thành; là nơi ghi dấu cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước và những nhận thức thời cuộc- bước tiền đề cho con đường cứu nước sau này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngôi nhà tranh lịch sử là cụm di tích quan trọng bậc nhất của Khu di tích lịch sử Kim Liên – được xây dựng từ những năm 60 thế kỷ trước, cùng nhiều hạng mục kiến trúc khác, được nâng cấp và tôn tạo nhiều lần.

Ngoài ra, chúng tôi còn chia sẻ thêm cho các em học sinh bài văn thuyết minh về Bác Hồ bằng Tiếng Anh ngắn gọn sau:

This essay is going to introduce Ho Chi Minh, one of the greatest leaders that Vietnam has ever produced over the course of more than 1000 years of building and defending our country, the person who is not only venerable to me but also to millions of Vietnamese people and other people all over the world.

He was born on May, 19th 1890 in Sen (Lotus) Village, Nam Dan district, Nghe An province, a province located in the middle part of Vietnam, which is about 6 hours driving from Hanoi. He had many different names during the course of his life; his birth name was Nguyen Sinh Cung; he was also known as Nguyen Tat Thanh and Nguyen Ai Quoc, which literally means a country lover or a patriot).

He used to be a Vietnamese Communist revolutionary leader who was the prime minister (1945-1955) and president (1945-1969) of the Democratic Republic of Vietnam. He was a central figure in the foundation of the Democratic Republic of Vietnam in 1945, as well as the People’s Army of Vietnam and the Viet Cong during Vietnam War.

He led the Viet Minh independence movement from 1941 onward, establishing the Communist-ruled Democratic Republic of Vietnam in 1945 and defeating the French Union in 1954 at the battle of Dien Bien Phu. He officially stepped down from power in 1965 due to health problems, but remained a highly visible figurehead and inspiration for those Vietnamese fighting for his cause—a united, communist Vietnam—until his death. After the war, Saigon, the former capital of the Republic of Vietnam, was renamed Ho Chi Minh.

Despite being the prime minister-cum-the president of the Democratic Republic of Vietnam, he lived a frugal and humble life. He didn’t choose to live in the Presidential Palace but a stilt house at the back of the palace, which is today known as the Presidential Palace Historical Site. His hobbies included reading, gardening, feeding fishes (many of which are still living) and visiting schools and children’s homes. He’s such a good role model for me to learn from.

Tạm dịch:

Bài luận này sẽ giới thiệu về Hồ Chí Minh, một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại nhất mà Việt Nam từng sản sinh ra trong hơn 1000 năm xây dựng và bảo vệ đất nước của chúng tôi, Người không chỉ có tôi tôn kính mà còn có hàng triệu người Việt Nam và những người khác trên khắp thế giới đều tốn kinh Người.

Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Sen (Lotus), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một tỉnh nằm ở miền Trung Việt Nam, cách Hà Nội khoảng 6 giờ lái xe. Người có nhiều tên gọi khác nhau trong suốt cuộc đời; tên khai sinh của Người là Nguyễn Sinh Cung; còn được gọi là Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Ái Quốc ( nghĩa đen có nghĩa là một người yêu nước).

Người từng là một nhà lãnh đạo cách mạng Cộng sản Việt Nam, là Chủ tịch nước (1945-1955) và là tổng bí thư (1945-1969) của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Người là một nhân vật chủ chốt trong nền tảng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945, cũng như Quân đội Nhân dân Việt Nam và Cộng sản trong Chiến tranh Việt Nam.

Người lãnh đạo phong trào độc lập Việt Minh từ năm 1941 trở đi, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945 và đánh bại Thực dân Pháp năm 1954 tại trận Điện Biên Phủ. Người chính thức về hưu vào năm 1965 do các vấn đề sức khỏe, nhưng vẫn là một nhân vật có thể nhìn thấy và tạo cảm hứng cho những người Việt Nam chiến đấu. Sau chiến tranh, Sài Gòn, cựu thủ đô của nước Cộng hòa Việt Nam, được đổi tên thành Hồ Chí Minh.

Mặc dù là Chủ tịch của nước nhưng Người sống một cuộc sống tiết kiệm và khiêm nhường. Người không chọn sống trong Dinh thư mà là một ngôi nhà sàn ở phía sau phủ Chủ tịch. Sở thích của Người bao gồm đọc sách, làm vườn, cho cá ăn (nhiều trong số đó vẫn còn sống) và đến thăm trường học và nhà trẻ em. Hồ Chủ Tịch thực sự là một người mẫu vĩ đại cho tôi học hỏi.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Tập 2 2 Dàn Ý & 2 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất

Qua đó, các em dễ dàng giới thiệu khái quát về cuốn sách, hình thức bề ngoài, bố cục, giới thiệu về nội dung, giá trị của cuốn sách Ngữ văn 8 tập 2 như thế nào, để nhanh chóng hoàn thiện bài văn thuyết minh của mình, ngày càng học tốt môn Văn 8:

1. Mở bài:

Giới thiệu chung về quyển sách giáo khoa.

Nơi xuất bản, do những ai biên soạn.

2. Thân bài:

Miêu tả khái quát về quyển sách giáo khoa từ ngoài vào trong (ví dụ: bên ngoài được trang trí như thế nào màu sắc ra sao in hình gì….).

Chúng ta có thể nói về kích thước hình dáng (VD: chiều cao, bề dày, chiều rộng……).

Sau khi giới thiệu xong từ bên ngoài ta bắt đầu mô tả bên trong sách như:

Sách gồm bao nhiêu trang; được chia thành mấy phần (phần tiếng việt…..)

Mỗi phần lớn lại chia thành bao nhiêu mục nhỏ, nội dung của mỗi mục ra sao…

Ta có thể lấy ví dụ về một hoặc nhiều phần như: Phần tiếng việt: cấu tạo bài gồm những gì, có ghi nhớ không…..

Chúng ta phải giữ gìn bảo quản sách thế nào cho nó khỏi hư (VD: phải bọc sách dán nhãn ….)

Không nên vứt hoặc ném vì có thể làm hỏng sách.

3. Kết bài:

Khẳng định lại ý nghĩa của quyển sách đối với mỗi người học sinh chúng ta.

Vì vậy chúng ta phải coi sách như người bạn thân của mình, phải nâng niu gìn giữ quý trọng vì nó chính là một báu vật mà ai cũng phải cần đến.

1. Mở bài

Giới thiệu và nêu giá trị của sách nói chung với cuộc sống con người.

Giới thiệu về SGK và tình cảm của em với cuốn SGK Ngữ văn 8, tập hai.

2. Thân bài

– Giới thiệu xuất xứ của sách:

SGK Ngữ văn 8, tập một được ra đời từ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

Các tác giả cuốn sách là những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành về văn chương của Việt Nam.

– Thuyết minh, giới thiệu về hình thức bề ngoài của sách:

Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17x24cm rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng.

Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền.

– Giới thiệu bao quát bố cục của sách:

SGK Ngữ văn 8, tập hai có 17 bài, tương ứng với 17 tuần.

Mỗi bài từ 3 đến 5 bài nhỏ trong đó thường là 2 văn bản, 1 bài Tiếng Việt và 1 bài Tập làm văn.

Quyển sách là sự phát triển kế tiếp SGK lớp 6 và lớp 7.

– Giới thiệu nội dung, giá trị của cuốn sách:

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học thuộc thể loại thơ, văn và kịch của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.

Phần Tiếng Việt gồm cả từ ngữ và ngữ pháp được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn, vừa cung cấp tri thức, vừa giúp học sinh luyện tập.

Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, và về văn nghị luận.

– Nêu cách sử dụng, bảo quản sách:

Để cuốn sách có giá trị sử dụng lâu bền, chúng ta cần giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách.

Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

3. Kết bài

Khẳng định giá trị, ý nghĩa lớn lao của quyển sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2 đối với học sinh.

Đối với học sinh, sách giáo khoa có vai trò vô cùng quan trọng trong công việc học tập. Một trong số đó là cuốn sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2.

Quyển sách có dạng hình chữ nhật đứng, khá dày và to hơn cuốn tập bình thường một chút. Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học của văn học Việt Nam cũng như văn học nước ngoài. Các tác phẩm văn học Việt Nam thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…). Các tác phẩm văn học nước ngoài như Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Về phần Tiếng Việt sẽ là phần kiến thức về ngữ pháp như các kiểu câu, hành động nói, hội thoại… được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn. Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, học sinh còn được tìm hiểu thêm về văn nghị luận.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 được làm bằng chất liệu giấy mềm mà chúng ta sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn. Vì vậy, học sinh cần có ý thức giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách. Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

Sách Ngữ Văn, tập 2 cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức quan trọng mà ở các lớp dưới vẫn chưa được học. Và không chỉ ở hiện tại mà ngay cả tương lai, quyển sách này vẫn luôn luôn là một người bạn đồng hành bổ ích và đáng tin cậy của học sinh.

Sách giống như một người bạn trong quá trình học tập của học sinh. Mỗi một cuốn sách đều cung cấp những kiến thức riêng thuộc nhiều lĩnh vực. Và cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 cũng vậy.

Sách Ngữ Văn 8, tập 2 là một trong bộ sách giáo khoa đưa vào giảng dạy chính cho môn Ngữ Văn lớp 8 trong học kỳ hai. Nhà xuất bản Giáo dục phát hành sách dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần qua các năm để thay đổi phù hợp hơn với chương trình học. Sách ra đời có nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn công phu. Đó là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy cô dạn dày kinh nghiệm trên cả nước. Nổi bật trong số đó phải kể đến Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn)… Chế bản do Công Ty Cổ Phần Thiết Kế và Phát Hành Sách Giáo Dục đảm nhận.

Bìa sau của sách có nền trắng đơn giản. Phía trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý của dân tộc và chất lượng sách. Phía dưới in tên các loại sách thuộc các môn học trong chương trình lớp 8 bằng màu đen: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai)…Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…). Góc phải dưới cùng dán tem đảm bảo và giá bán. Góc trái là mã vạch sản phẩm. Cả cuốn sách trang trí đơn giản mà rất sinh động.

Sách Ngữ Văn 8 tập 2 là quyển sách tiếp nối kiến thức lớp 6 và lớp 7 với hệ thống 17 bài, tương ứng với 17 tuần học. Mỗi bài lại có khoảng từ ba đến năm bài nhỏ cung cấp tri thức phong phú, hoàn thiện. Về nội dung, sách có cấu tạo ba phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và làm văn.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam, văn bản văn học nước ngoài. Văn bản văn học Việt Nam gồm các tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…). Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh. Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Các tác phẩm này sẽ giúp học sinh hiểu được một phần về nền văn học nước ngoài.

Advertisement

Nội dung tiếp theo là phần Tiếng Việt. Nội dung tìm hiểu về các kiểu câu, hội thoại, hành động nói, cách lựa chọn trật tự từ trong câu… Những bài học nối tiếp từ lớp 7 có vai trò nâng cao khả năng về ngôn từ, ngữ pháp cho học sinh để vận dụng vào viết văn là giao tiếp hàng ngày. Đồng thời giúp các em hiểu thêm sự giàu đẹp của tiếng Việt và bồi đắp thêm tình yêu tiếng nói dân tộc.

Ở phần làm văn, học sinh được rèn luyện, củng cố một số kĩ năng về văn bản thuyết minh. Chương trình Tập làm văn 8 nâng cao hơn lớp 7 trên nhiều phương diện. Bên cạnh đó, phần làm văn còn tìm hiểu thêm về kỹ năng viết văn nghị luận.

Sách Ngữ văn lớp 8 có vai trò, tác dụng lớn trong quá trình học tập môn ngữ văn của học sinh. Sách giúp học sinh tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ để thấy được giá trị của nghệ thuật. Học văn, tình cảm được bồi đắp, tâm hồn bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn làm dịu đi những áp lực căng thẳng của cuộc sống. Đặc biệt, sách có ý nghĩa giáo dục to lớn, rèn luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. Bồi đắp thêm những tình cảm, đức tính tốt đẹp như yêu thương và cảm thông với con người. Từ đó biết trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của mình hơn.

Sách Ngữ văn 8, tập 2 có là một trong những cuốn sách quan trọng trong quá trình học tập của mỗi học sinh. Vì vậy, mỗi người cần có ý thức giữ gìn cẩn thận.

Cập nhật thông tin chi tiết về 14 Bài Dàn Ý Thuyết Minh Chiếc Nón Lá Việt Nam trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!