Xu Hướng 2/2024 # 8 Bài Văn Phân Tích Nhân Vật Cám Trong Truyện “Tấm Cám” Hay Nhất # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 8 Bài Văn Phân Tích Nhân Vật Cám Trong Truyện “Tấm Cám” Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trong truyện “Tấm Cám” trái ngược với hình ảnh cô Tấm hiền lành, chịu khó, nhân vật Cám hiện lên trong truyện như một đại diện tiêu biểu cho cái ác, cái xấu trong xã hội. Các bạn cùng tham khảo bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện cổ tích Tấm Cám để tìm hiểu chi tiết về bản chất, tính cách cũng như kết cục của nhân vật này.

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 3

Tấm Cám là một trong những truyện cổ tích nổi tiếng nhất của Việt Nam. Câu chuyện mang nhiều yếu tố kì ảo. Nói về cuộc đấu tranh chống lại cái ác để giành lấy hạnh phúc. Truyện có hai tuyến nhân vật thiện và ác. Thiện với đại diện là Tấm và ác với đại diện là Cám. Nhân vật Cám là nhân vật ác, nhưng cái ác của Cám lại bị chi phối nhiều bởi người mẹ – cũng là dì ghẻ của Tấm.

Nhân vật Cám trong câu chuyện không có nhiều đôi thoại hay lời dẫn kể cụ thể nhiều về ngoại hình hay tính cách, chỉ được phác họa sơ qua là em cùng cha khác mẹ với nhân vật Tấm. Cám được mẹ cưng chiều từ nhỏ, tính cách bị ảnh hưởng từ người mẹ rất nhiều. Khi hai chị em Tấm Cám đi bắt tôm tép, trong khi chị Tấm chăm chỉ, cần mẫn bắt tôm cá thì Cám lại ham chơi, lười nhác, còn lừa Tấm, trút hết tôm tép từ giỏ đầy của Tấm sang giỏ của mình, ngang hiên không chút hổ thẹn mang chiến tích về khoe mẹ để giành lấy chiếc yếm đào.

Trong khi Tấm – người chị có tâm hồn vô cùng trong sáng và lương thiện luôn biết nhường nhịn em nhưng cô em lại không biết điều, luôn tìm cách lấy phần hơn, giành phần hơn với chị mình. Trong khi trái tim cô chị Tấm luôn hướng về những điều lương thiện thì trái tim cô em gái Cám chỉ toàn chứa đựng những điều đen tối và độc ác. Cám luôn ghen tị với chị. Lười nhác nhưng luôn lươn lẹo, bịp bợm để lấy được phần thắng về cho mình.

Mẹ con Cám luôn tìm cách hại Tấm, làm những điều xấu xa với Tấm. Công việc trong gia đình, Cám lừa cho Tấm hết, nào chăn trâu, căt cỏ, tất tần tật các công việc nhà. Không những thế, còn hùa vào với mẹ soi mói, hắt hủi, đay nghiến Tấm.

Khi Tấm được chọn làm hoàng hậu, Cám thấy ghen tị vô cùng. Mặc dù là hoàng hậu, nhưng Tấm vẫn rất giản dị, vẫn mang tâm hồn đơn thuần. Tấm không quên ngày giỗ bố, ngày về còn năng nổ đi hái cau, nhưng Cám lại thừa dịp đó để mưu hại chị. Cùng mẹ đang tâm lừa gạt Tấm trèo cây cau rồi ở bên dưới lấy dao đi chạy, khiến Tấm chịu cái kết đau.

Tấm muốn đi chơi hội nhưng mẹ con Cám không cho, còn làm bao chuyện gây khó dễ, đổ đấu thóc với đấu gạo trộn chung bắt Tấm nhặt sạch thóc ra thóc, gạo ra gạo mới cho phép đi chơi hội. Ngay cả khi Tấm được vào cung thì lòng ghen ghét đố kị của chúng không thể nào ngưng. Chúng năm lần bảy lượt giết hại Tấm, Tấm chết hóa thành chin vàng anh, mẹ con Cám cũng tìm cách bắt thịt chim vàng anh. Tấm biến thành khung cửi, mẹ con Cám cũng đem khung cửi đi đốt thành tro.

Mang tiếng cùng chung huyết thống, cùng cha, cùng sinh sống trong một mái nhà, lớn lên, trưởng thành cùng nhau mà Cám không có chút lòng trắc ẩn nào dành cho chị mình cả. Cám ích kỉ, chỉ biết nghĩ cho mình.

Nhưng cuộc đời vốn rất công bằng, những chuyện ác độc, trái với lương tâm của mẹ con nhà Cám cũng phải chịu kết cục xứng đáng. Hành trình của cái thiện dù có gian nan bao nhiêu nhưng chắc chắn vẫn có thể đánh bại được cái ác. Mẹ con Cám sau nhiều lần hại Tấm và cuối cùng cũng nhận lại cái chết đau đớn. Đó là bỏng nước nóng mà chết.

Vì không thể trắng như Tấm cho nên Cám đã nghe lời xúi bậy của người khác mà dội nước nóng vào người. Có thể nói rằng cái ác không bao giờ tồn tại được lâu và thường bị hủy diệt. Cái ác ấy ban đầu rất đắc thắng có thể thống trị những người khác song thì cái kết cục sẽ không bao giờ thoát khỏi cái chết. Hành trình cái ác rất ngắn ngủi.

Như vậy qua đây ta có thể thấy rằng cái thiện và cái ác của câu chuyện cổ tích Tấm Cám được thể hiện ngay ở những nhân vật trong truyện, cái thiện là Tấm và cái ác là Cám. Đồng thời ta thấy được ý nghĩa của câu chuyện rằng cái thiện luôn luôn trường tồn mãi mãi mà bất cứ một sự độc ác nào cũng không thể giết chết sức sống đó được. Cái ác kia thì sẽ bị hủy diệt mà thôi.

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 3

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 5

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 3Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 3

Nhắc đến “Tấm Cám” chắc hẳn người ta sẽ nghĩ đến ngay câu chuyện cổ tích quen thuộc đã gắn bó với tuổi thơ của biết bao nhiêu người dân Việt Nam với hình ảnh cô Tấm nết na, thảo hiền nhưng cuộc đời phải chịu nhiều sóng gió. Và một trong những tuyến nhân vật phản diện của câu chuyện cổ tích này mà đã để lại ấn tượng không kém trong lòng người đọc là nhân vật Cám – người em gái cùng cha khác mẹ của Tấm.

Trước hết, “Tấm Cám” là một câu chuyện cổ tích Việt Nam nổi tiếng thuộc thể loại truyện cổ tích thần kì, trong đó phản ánh những mâu thuẫn trong gia đình và cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cùng ước mơ cái thiện thắng cái ác của người Việt xưa.

Như mọi câu chuyện đều có hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện, trong “Tấm Cám”, nếu cô Tấm nết na, thảo hiền là nhân vật đại diện cho chính nghĩa, đại diện cho tầng lớp nhân dân lao động chân chất, lương thiện thì Cám và bà mẹ độc ác của mình là hiện thân cho cái xấu, cái ác hay cũng chính là tầng lớp cầm quyền luôn chèn ép, đày đoạ tầng lớp dân thường thấp hơn.

Qua đó, nếu khi còn nhỏ “Tấm Cám” đối với chúng ta chỉ đơn thuần là một câu chuyện cổ tích qua lời kể của bà, của mẹ để đưa chúng ta vào giấc ngủ thì khi đã trưởng thành hơn, chúng ta sẽ nhận ra được biết bao thông điệp, ý nghĩa ẩn giấu trong đó mà cha ông ta muốn nhắn nhủ đến con cháu đời sau và phân tích nhân vật Cám chính là phân tích những bất công, khổ cực từ xã hội mà cha ông xưa đã phải chịu đựng.

Cám may mắn hơn Tấm rất nhiều bởi cùng chảy chung một dòng máu, cùng gọi chung một tiếng cha nhưng Tấm không may mồ côi cả cha lẫn mẹ còn Cám vẫn an nhiên mà lớn lên trong vòng tay yêu thương và dung túng của mẹ mình. Người ta vẫn nói “Mấy đời bánh đúc có xương/ Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng”, vì lẽ thế mà trong khi ngày ngày Tấm phải làm hết tất cả mọi công việc nhà và bị mụ dì ghẻ đối xử như người ở thì Cám lại như viên ngọc quý được bà mẹ độc ác của mình nâng niu trên tay.

Được chiều chuộng như thế nên không có gì ngạc nhiên khi trong khi người chị cùng cha khác mẹ Tấm của mình lớn lên trở thành một người con gái thảo hiền, nết na thì Cám chẳng hay biết làm gì cả, rõ ràng là chẳng thể đạt được những chuẩn mực cơ bản của một người con gái trong xã hội phong kiến. Hay nói cách khác, Tấm xinh đẹp, nết na, đẹp cả người cả nết còn Cám hoàn toàn ngược lại, xấu người lại xấu cả nết.

Có thể nói rằng, ở Tấm hội tụ đầy đủ mọi ưu điểm còn vây quanh Cám chỉ toàn là khuyết điểm và những hành động khiến con người ta chán ghét, căm hận. Đầu tiên là sự việc mụ dì ghẻ sai hai chị em Tấm Cám ra đồng mò cua bắt cá và hứa sẽ thưởng cho người bắt được nhiều cua cá hơn một chiếc yếm đào. Trong khi Tấm chăm chỉ, mò từng con cua, bắt từng con cá với hi vọng về chiếm yếm đào là phần thưởng cho sự vất vả, nỗ lực của bản thân thì Cám với bản tính lười biếng của mình chẳng chịu làm lụng mà chỉ mải đuổi bướm, hái hoa.

Việc Cám lười biếng ấy cũng chỉ khiến độc giả ngao ngán nhưng hành động Cám lừa Tấm mà trộm hết tất cả tôm cá mà Tấm phải bỏ nhiều công sức mới bắt được thì thực sự đã khiến người đọc phẫn nộ. Có lao động mới biết trân trọng những thành quả mà mình đã phải bỏ bao công sức trong khi hành động đó của Cám là ăn cắp trắng trợn công sức của người khác, liệu ai có không phẫn nộ trước hành động ấy cho được?

Câu chuyện càng đi về sau thì những việc làm của Cám và bà mẹ của mình càng ngày càng độc ác. Từ lừa giết chú cá bống là người bạn duy nhất của Tấm đến cố tình làm Tấm không đi dự hội được rồi năm lần bảy lượt ra tay sát hại Tấm để đoạt lấy hạnh phúc mà đáng lẽ thuộc về Tấm, tất cả những hành động ấy đều thật độc ác, tỉ lệ thuận với mức độ độc ác của những hành động ấy là sự phẫn nộ, căm hận sâu sắc của độc giả dành cho Cám và bà mẹ độc ác của mình.

Nhưng rồi Cám đã phải trả giá cho những hành động độc ác của mình khi tự dội nước sôi mà chết. Đó là cái kết thích đáng nhất cho kẻ xấu bởi nếu cứ mãi nương tay, tha thứ cho cái xấu thì cái xấu sẽ mãi còn đó, tựa như cỏ dại chỉ còn một chút rễ cũng có thể mọc trở lại mà lan thành một đồng cỏ rộng, ngoài ra bản chất của cái xấu sẽ chẳng bao giờ có thể thay đổi được nên cách duy nhất chỉ có diệt trừ tận gốc nó mà thôi.

Cám là hiện thân cho cái ác, là những bất công, chèn ép từ xã hội lên những người dân thấp cổ bé họng trong xã hội cũ, kết cục bi thảm của Cám chính là khát khao ngàn đời của nhân dân ta về việc vùng lên đấu tranh diệt trừ tận gốc cái ác.

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 6

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 5Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 5

Truyện cổ tích Tấm Cám đã đi vào tiềm thức bao bạn nhỏ hình ảnh thân thương về người con gái với cái tên rất trìu mến, thân thương: cô Tấm. Nếu như Tấm mang đến cho người đọc bài học về đức tính hiền lành, nết na, nhân hậu thì Cám lại là lời tố cáo cho những kẻ sống ích kỷ, độc đoán đố kị.

Câu truyện kể về gia đình Tấm sau khi bố chết, Tấm ở với mẹ con dì ghẻ và Cám. Hết lần này đến lần khác Tấm bị họ hãm hại, ám sát. Nhưng sau tất cả, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, Tấm được hưởng cuộc sống hạnh phúc bên nhà vua, còn mẹ con Cám phải chịu cái chết thương tâm cho những gì mình đã gây ra.

Cám Tấm là hai chị em cùng cha khác mẹ. Bố mất, nhưng Cám may mắn hơn Tấm vì còn có mẹ. Nhưng đáng tiếc người mẹ ấy lại ác độc, tham lam nên đương nhiên bà cũng truyền dạy những tính cách ấy cho con mình. Khi ra đồng bắt cá tranh phần thưởng, Cám mải chơi, lọc lừa chị để lấy hết phần cá của chị mang về nhà trước nhận thưởng, khiến Tấm đau khổ khóc lóc.

May mắn trong giỏ của Tấm còn xót lại một con cá Bống, nghe lời Bụt, Tấm đem về nhà thả xuống giếng nuôi. Nhưng Cám lại cùng mẹ bắt Bống giết thịt. Lại một lần nữa Cám khiến chị phải khóc.

Ít lâu sau, nhà vua mở hội kén vợ. Cám được mẹ nuông chiều, lấy hết quần áo đẹp đi chơi, còn bắt Tấm phải nhặt hết thóc và lúa rồi mới được đi. Nhưng đồng hành với cô Tấm hiền lành, tội nghiệp luôn có ông Bụt đầy quyền năng và phép lạ. Còn người đồng hành với Cám lại là mụ dì ghẻ ác độc, xấu xa. Có thể thấy cuộc đời Tấm tuy thiệt thòi hơn Cám nhưng thực chất lại may mắn hơn Cám.

Với sự hậu thuẫn của Bụt, Tấm được kén làm vợ vua. Mẹ con Cám ganh tị, hết lần này đến lần khác, Cám nghe lời mẹ giết hại chị. Dù sao cũng là cùng một cha, nhưng dường như giữa hai chị em không có một chút tình thân nào. Cám sống theo sự thuần hóa của mẹ, trở thành kẻ ác độc, vô tâm. Chị chết, Cám vào cung thay chị làm vợ vua.

Nhưng tác giả cổ tích đâu để mọi chuyện kết thúc dễ dàng như vậy. Trong khi họ luôn tin rằng cái thiện ắt sẽ chiến thắng cái ác. Cái thiện là bất diệt. Tấm chết hóa thành chim vàng anh bay về quẩn quanh bên chồng. Cám lại về mách mẹ tìm cách giết vàng anh. Vàng anh chết, chỗ cám vứt lông mọc lên hai cây xoan đào. Duyên phận và sự bất diệt của cái thiện đã đưa vua đến bên gốc cây, gắn bó với cây như một người bạn thân thiết.

Thấy vậy, Cám lại về bàn với mẹ chặt hai cây xoan đi làm khung cửi. Lần này, Tấm mạnh mẽ hơn khi chửi thẳng vào mặt Cám:

Cám tuy sợ nhưng vẫn quyết tâm tiêu diệt Tấm đến cùng. Cám đốt khung cửi vứt tro ra thật xa. Những tưởng làm vậy Tấm sẽ không còn tồn tại nữa, nhưng tại chỗ đó lại mọc lên cây thị. Điều lạ lùng trên cây chỉ có duy nhất một quả. Bà lão đi qua thấy thị thơm bèn hái về để trong nhà. Ít lâu sau, bà phát hiện nàng Tấm trong đó, bà xé toang vỏ thị để Tấm ngày ngày sống với bà như hai mẹ con.

Nhà vua đi qua ghé vào chơi, nhận ra vợ mình, đưa về cung. Lần này, Tấm trở lại bằng xương bằng thịt của một con người thực sự. Điều đó càng làm mẹ con nhà Cám nổi lòng ganh ghét. Từ ganh gét đi đến sự mù quáng, ngu dốt, họ nghe theo lời Tấm đào hố đổ nước sôi vào để được xinh đẹp như Tấm.

Cám chết. Câu chuyện kết thúc nhưng bài học về lối sống ích kỷ vẫn còn mãi trong thông điệp mà tác giả dân gian muốn gửi gắm tới thế hệ sau. Cám vừa đáng thương vừa đáng giận. Đáng thương vì Cám là kết quả của một người mẹ ích kỷ, độc đoán. Nhưng lại đáng giận vì Cám không phân biệt được phải trái, đúng sai, luôn thuận lòng làm theo tất cả những tội ác mẹ bày ra.

Có ý kiến cho rằng, Cám đáng thương hơn Tấm. Vì cả hai đều mất cha. Cám tuy còn mẹ nhưng người mẹ ấy lại độc ác, tham lam, biến Cám trở thành công cụ của bà ta cho những mưu mô xảo trá của mình. Còn Tấm tuy không còn mẹ, nhưng đồng hành với Tấm luôn là bậc thần tiên hiền lành, đầy phép lạ.

Mụ dì ghẻ luôn đứng về phía con mình, chở che cho con nhưng cách làm của bà đã biến Cám thành kẻ sát nhân. Còn Tấm không có tình thương của mẹ, không được vòng tay mẹ bao bọc như Cám, nhưng mụ dì ghẻ kia làm sao có thể sánh với ông Bụt của cõi trời?

Nếu Cám một lần được gặp Bụt, liệu rằng Cám có tỉnh ngộ và không phải nhận lấy bi kịch đau thương như ở cuối truyện? Nếu cám là nạn nhân của lòng ích kỷ, của sự tham lam từ người mẹ, tại sao không cho Cám một cơ hội làm lại từ đầu? Và chỉ trừng phạt mụ dì ghẻ vì mụ mới chính là kẻ chủ mưu trong tất cả mọi kế hoạch hãm hại Tấm.

Nhưng trong quan niệm dân gian, cái ác luôn bị diệt trừ tận gốc. Những điều mẹ con Cám làm ắt phải nhận lấy hậu quả thích đáng. Còn Tấm vốn tính hiền lành, nết na nên tất nhiên được hưởng phúc dù có phải trải qua nhiều lần chất dưới tay Cám.

Dù sao đi nữa, qua nhân vật Cám, người đọc cũng thấm thía bài học về lòng nhân đức ở đời. Sống không nên tham lam, ích kỷ và độc đoán. Hãy sống yêu thương, chan hòa và đùm bọc lẫn nhau. Người dưng nước lã còn có thể cho nhau miếng ăn lúc khó khăn, huống chi người thân trong gia đình cùng gọi chung một người là cha.

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 6Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 6

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 7

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 6Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 6

Vốn là đất nước giàu truyền thống, giá trị đạo lý làm người, điều đó thấm dần vào trong mỗi áng văn, thơ của dân tộc. Dễ hiểu khi câu chuyện cổ tích Tấm Cám trở nên bất tử, mỗi nhân vật trong đó đều đọng lại trong ta nhiều suy nghĩ thiết thực. Cũng qua sự xây dựng nhân vật Cám đã đem đến cho chúng ta những suy nghĩ sâu sắc hơn về luật nhân quả trong đời sống, sâu trong đó chính là sự gửi gắm nỗi lòng khao khát mơ ước về cái ác luôn phải bị trừng trị và lên án và mơ ước về hạnh phúc công lý của nhân dân lao động Việt Nam xưa.

Với sự hiện diện của thế lực ác trái ngược, nhằm đẩy kịch tính câu truyện lên cao trào gây sự bức xúc mạnh trong lòng người đọc. Trong câu truyện, tác giả dân gian đã thể hiện những nhân vật dì ghẻ và Cám rõ nét về những điều xấu trong tâm hồn, sự ích kỷ, toan tính, xấu xa của họ. Câu truyện chủ yếu là sự mâu thuẫn chính diện của Tấm và Cám, vì Cám chính là người đã trực tiếp thực hiện những hành động xúi giục của người Mẹ, luôn muốn hãm hại Tấm- người con gái đại diện cho sự nhân hậu, hiền lành, xinh đẹp, nết na.

Người đời đã nói rằng “Khác máu tanh lòng”. Điều đó có vẻ đúng với câu truyện của cuộc đời Tấm đang phải trải qua. Do Mẹ mất sớm, Bố Tấm đã đi lấy vợ hai, hai người có con riêng là Cám được nuông chiều bởi mẹ mình từ trong bọc. Đáng tiếc, cô lại thừa hưởng những nét xấu xa trong tâm hồn người mẹ mình.

Sau khi người bố ra đi, Dì ghẻ và Cám càng ngày càng thể hiện rõ đã rắp tâm của mình chiếm trọn tài sản gia đình, còn đối xử với Tấm không ra gì. Qua năm tháng, họ chẳng thay đổi, vẫn ám ảnh, thậm chí muốn chôn vùi luôn cuộc đời Tấm.

Từ sự việc lần bắt cá để tranh phần thưởng từ người Mẹ, cho thấy rằng Cám nhỏ tuổi hơn, nhưng ranh ma, biết lừa lọc chị để cướp công nhằm che đậy sự lười biếng của mình chỉ mải hái hoa, bắt bướm ngoài đồng cả ngày trời, rồi chạy về trước. Bỏ mặc cô Tấm đáng thương, chăm chỉ, vất vả, thật thà cùng con cá bống ở ngoài đồng.

Lủi thủi Tấm đau khổ, mà khóc, nghe theo lời bụt giúp, cô đã tận tụy chăm sóc giúp Bống lớn lên trông thấy ở cái giếng sau nhà. Lần này, Bống đã không thể hãm chân được sự thâm độc, ghen ghét của mẹ con Cám, Bống bị hai người đàn bà đó giết làm thịt không nương tay.

Cũng là lúc Tấm lại phải cất tiếng khóc ai oán. Nhưng sự việc chưa hết, một cơ hội nữa lại đến với Tấm, như một sự giúp đỡ, cảm thông xứng đáng của Bụt đồng hành mỗi lúc cô cần. Hội lớn đã đến, ngày mà nhà vua tuyển chọn vợ, sự ích kỷ của Cám lại nổi rõ hơn, cô nhanh chóng chọn váy vóc đẹp, xúng xính đi trước, dì ghẻ còn hãm chân Tấm bằng mẻ thóc và đậu lẫn lộn, chỉ khiến cô thêm lo sợ, tủi nhục mà khóc nấc.

Mẹ con Cám độc ác tưởng chừng đã khỏi bận tâm về mối lo thêm một người tranh chức Hoàng Hậu. Tấm thiệt thòi đủ đường, nhưng lại được nguồn động lực từ một thế lực thần tiên thấu hiểu và nâng đỡ, sự may mắn vô bờ như một phần thưởng lớn cho cô, Tấm đường hoàng trở thành vợ của nhà Vua, cùng tình yêu đẹp đẽ bù đắp phần nào những tháng ngày vất vả cho cô. Lại một lần nữa, điều này đã nhân đôi sự hận thù trong lòng mẹ con Cám.

Cám vẫn chẳng bao giờ có thể hiểu được những hành động của cô sẽ ảnh hưởng đến tương lai sau này của cô và mẹ mình, nên vẫn lập ra những kế hoạch để giết hại chị để thỏa lòng đố kị, ghen ghét của mình. Cám bỗng trở nên xấu xa vô độ, gây bao sự uất ức đối với người đọc tự khi nào vì sự vô tâm, ác độc của cô.

Sau cái ngày giỗ cha định mệnh ấy là cả sự khóc thầm thương thay cho cô Tấm xấu số, Cám lại thản nhiên tiến cung vua thế chị. Sự trở về của Tấm lần này mạnh mẽ hơn bao giờ hết, bởi “tác giả dân gian” luôn tin trong trái tim họ tồn tại cái thiện ắt sẽ chiến thắng cái ác dù có bao lâu, cũng đã đánh dấu cho sự bắt đầu những chuỗi ngày đầy lo lắng trong Cám và người Dì ghẻ

Sự xuất hiện của Tấm trong sự hóa thân làm chim Vàng Anh quanh quẩn bên Vua, cùng câu nói ám ảnh, làm Cám trở tay không kịp, ngày càng tức giận, cùng Mẹ hãm hại như con cá bống năm xưa. Nhưng lần này đâu phải là hết, vì Cám chưa nhận được bài học nào, hai cây Xoan đào mọc lên, vươn tán rộng từ những chiếc lông chim kia. Điều đó lại lọt vào mắt Cám, họ lại lập mưu, mỗi lần như vậy lại càng lấn sâu vào vũng bùn tội lỗi. Cây đã bị chặt, nhưng khung cửi từ gỗ xoan ấy, lại làm cho Cám e sợ, vì mỗi khi dệt lại nghe lời đe dọa đanh thép từ Tấm.

Điều đó, ta đã thấy được rõ nhưng Cám đã quá bướng bỉnh, muốn rắp tâm tiêu diệt Tấm đến cùng. Một lần nữa, khung cửi bị đốt hóa thành tro bụi, để thỏa mãn ước vọng xấu xa, chà đạp sự sống người khác của Cám. Tấm lại phải trở về, nhưng lần này trong cây thị to lớn nhưng chỉ có đúng một quả. Bà lão bán nước tốt bụng, đã xin được quả thị, cũng đồng thời xin được người con gái hiếu thảo, đảm đang như Tấm.

Hai người sống cuộc sống bình thản, êm ấm cho đến một ngày nhà vua đi vi hành, nhân duyên đã đưa đôi vợ chồng hàn gắn. Tấm được tỏ lòng sau bao xa cách, và cùng trở về bên vua bằng con người xác thịt, và lại còn làm vua ngạc nhiên, vì nàng càng ngày càng xinh đẹp ra.

Có thể nói, bên trong Tấm là suy nghĩ của nhân dân, là người tốt nên được hưởng điều tốt lành nhất, được tái sinh thành người, được hưởng hạnh phúc trọn đời. Còn bên trong Cám chỉ toàn là điều xấu xa vô độ, xấu cả người cả nết từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành không hề thay đổi mà chỉ chất chồng, đến mức không thể cứu vãn được nữa, nên phải chịu nhận sự “Ác giả, ác báo”.

Ở chi tiết cuối truyện cho ta thấy rõ điều đó, điều đó đã làm cho hai con người kia căm ghét tột độ, cũng bởi họ vì quá ghen tị để được xinh đẹp giống như Tấm mà đã mù quáng, mất đi cả lý trí khi nghe lời Tấm tự đào hố đổ nước sôi để tắm, , để rồi tự đẩy mình đến con đường chết, có lẽ đó như một sự trả giá cay đắng bằng cả mạng sống của mình cho những điều sai lầm cả về nhân cách, cách đối xử của họ với người khác.

Và khi nói về vấn đề mâu thuẫn giữa hai người con gái này, sự gay gắt của Tấm cũng như đại diện cho công lý, cho toàn xã hội.Cám chết, điều đó đọng lại trong mỗi chúng ta những bài học vô giá về luật nhân quả, lời cảnh báo cho những ai đang còn sống ích kỷ, sự “ghen ăn tức ở” với người khác, không chịu khó tìm hiểu, yêu thương đùm bọc những người trong gia đình.

Cũng vì Cám được sinh ra bởi người mẹ đầy mưu mô, xảo trá, độc đoán, sự sai lầm trong cách dạy con, chỉ chăm chăm lo lắng cho con mình, mà không quan tâm đến người khác, đã vô tình biến Cám trở thành kẻ sát nhân.

Cám bất đắc dĩ vừa đáng thương, vừa đáng trách. Đáng trách bởi cô không hề tỉnh táo trong suy nghĩ đến hành động, không biết phân biệt, việc nào nên làm, việc nào không, đã làm ảnh hưởng đến nhân cách, luôn vòi vĩnh, làm theo răm rắp những tội ác mà Mẹ cô đưa ra, sự ngây ngô của cô đã trở thành công cụ tay sai đắc lực cho người Mẹ của mình làm điều xấu tổn hại đến Tấm không nương tay.

Dù cái thiện đã thắng cái ác, nhưng đâu đó vẫn có những suy nghĩ về sự khoan hồng, chủ nghĩa nhân đạo vẫn đầy ắp trong lòng người dân. Có lẽ nếu như công lý có mặt, cũng như được Bụt xem xét, có lẽ Cám sẽ không phải chịu những thứ cay nghiệt – cái chết kia, mà sẽ được hoàn lương, giảm nhẹ tội, giác ngộ, thức tỉnh con người, bởi người cần phải trừng trị thích đáng làm gương cho người đời có chăng chỉ là người Mẹ Cám, cũng là người dì ghẻ của Tấm, người chủ mưu đứng sau toàn bộ câu truyện.

Câu chuyện đã khép lại, văng vẳng lên trong ta vẫn là bài học về sự làm người tử tế, thiện lương, biết tu cái nhân, cái đức để làm mục tiêu sống cao thượng. Biết chia sẻ ngọt bùi với nhau, sống bằng tình người, thấu hiểu, để đưa xã hội càng ngày càng tốt đẹp lên. Và xin đừng giống như một cô Cám thứ hai, bởi nếu ta tham lam, ích kỉ, độc đoán thì ta sẽ nhận lại được những điều như vậy, thậm chí còn cay nghiệt hơn, vì ở đời phải luôn tin rằng luôn tồn tại luật nhân quả

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 7Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 7

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 4

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 7Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 7

Nhiều năm trước đây, lời bài thơ “Nghĩ về Tấm Cám” của Nguyễn Ngọc Hưng gây xôn xao dư luận vì góc nhìn mới mẻ của nhà thơ về nhân vật Cám trong truyện cổ tích “Tấm Cám”:

Bản thân nhân vật Cám trong truyện cũng gây ra nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, xét theo ý nghĩa răn dạy của văn học dân gian, nhân vật Cám trong truyện cổ tích “Tấm Cám” là minh chứng cho bài học đạo lí sống ở đời của cha ông ta.

Truyện cổ tích là thể loại thuộc văn học dân gian, có tính hư cấu, lưu giữ thông qua hình thức truyền miệng và rất gần gũi với đời sống người dân Việt Nam. Truyện cổ tích giống như những bài học đạo lí mà ông cha muốn truyền đạt lại cho con cháu, nó ẩn sâu sau ý nghĩa nội dung truyện và có tác dụng làm trong sạch xã hội, bồi dưỡng phẩm chất con người, đấu tranh cho cái bất công, xấu xa.

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam vô cùng đồ sộ với nhiều truyện dị bản đã góp phần giải thích nhiều hiện tượng, vấn đề trong xã hội. Tuy rằng truyện cổ tích có tuổi đời hàng trăm năm song vì tính đề cập tới các vấn đề nhức nhối trong xã hội nên nó luôn bảo toàn tính thời sự cho tới ngày này.

Truyện cổ tích “Tấm Cám” là một trong những truyện vô cùng quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam, từ trẻ thơ tới người già. Nhân vật Tấm, dì ghẻ, Cám, nhà vua, bà cụ… đã trở thành những tuyến nhân vật khác nhau, sống động tới mức gần như hiện hữu trong đời sống thực tế của chúng ta.

Câu chuyện xoay quanh những tình huống, những hành động, hội thoại xoay quanh ba nhân vật chính là Tấm, dì ghẻ và Cám. Trong đó, Cám là nhân vật tương phản, đại diện cho thế lực xấu xa, ác độc trong xã hội. Qua nhân vật này, nhân dân lao động muốn nhắc lại chân lí “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” và quy luật nhân quả “Ác giả ác báo” trong xã hội.

Cám là người con gái tuổi đôi mươi song không hề có chút nữ tính, đằm thắm mà ngược lại do được nuông chiều nên chỉ biết ăn diện, lười biếng, ích kỉ. Trái lại, Tấm là cô gái hiền lành, nết na, biết cam chịu. Tấm càng tốt đẹp bao nhiêu thì Cám lại xấu xa, tồi tệ bấy nhiêu.

Cám là kẻ gian xảo. Cám luôn ghen tỵ với chị Tấm, nhiều lần tìm cách lừa lọc để chiếm hết thành quả của Tấm. Để có được yếm đào đẹp, Cám đợi Tấm xúc đầy giỏ tép rồi giảo hoạt lừa Tấm “Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị nấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng” thế rồi nhân cơ hội đó Cám nhanh chóng cũng đã trút hết giỏ tép sang giỏ mình đem về nhà.

Không muốn cho Tấm đi trẩy hội, mẹ con Cám lúc này đây cũng đã lại bàn nhau trộn thóc với gạo bắt Tấm ngồi nhặt. Mẹ con Cám trở thành tầng lớp bóc lột, đại diện cho chế độ cường quyền trong xã hội.

Hơn hết, Cám là người độc ác. Những hành động độc ác của mẹ con Cám với Tấm bắt đầu từ khi Tấm còn nhỏ. Mẹ con Cám luôn tìm mọi cách hành hạ, bắt ép Tấm làm việc. Thấy Tấm có người bạn mới là Bống, Cám liền xui dì ghẻ bắt Bống ăn thịt. Thực chất mẹ con Cám không coi Tấm là một thành viên trong gia đình. Khi Tấm trở thành hoàng hậu, Cám vẫn dè bỉu, ghanh ghét tìm cách hãm hại Tấm, không cho Tấm có được hạnh phúc.

Mẹ con Cám bàn nhau lừa Tấm chèo cây hái cau rồi chặt đổ cây khiến Tấm mất đi tính mạng. Mẹ con Cám giết người hợp pháp bằng cách ngụy trang thành một vụ tai nạn. Mẹ con Cám còn cố giết hại Tấm nhiều lần nữa khi Tấm hóa thân thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị… để hoàn toàn hủy hoại linh hồn Tấm. Như vậy, mẹ con Cám là những kẻ độc ác, xấu xa, dã man nhất trong xã hội. Và có lẽ Cám còn là sản phẩm thế hệ mới của cái tà đạo. Cám còn quái thai, bệnh hoạn hơn cả mẹ đẻ của mình.

Chính vì những lẽ đó mà cuối cùng Cám phải chịu kết cục thích đáng. Sự trả thù của Tấm là cách mà người xưa lên tiếng mạnh mẽ nhất trước cái xấu. Đúng như quy luật nhân quả, Cám bị Tấm lừa lại chỉ vì mong muốn được đẹp như Tấm của Cám. Cám chết trong cái nóng của nước sôi dưới hố đất giống như một địa ngục trần gian trừng phạt kẻ xấu xa, độc ác.

Cám phải chịu nỗi đau xác thịt chia làm nhiều mảnh, không toàn thây mà Tấm từng trải qua nay Cám cũng phải trải qua. Người ta phê phán hành động của Tấm là quá tàn ác, nhưng bản thân tôi chỉ thấy một cô Cám ứng linh lên người quy luật nhân quả tự nhiên ở đời. Nhân dân ta đã rất công bằng!

Tóm lại, truyện cổ tích “Tấm Cám” có vai trò giáo dục sâu sắc. Cám chính là nhân vật luôn nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết sống hướng thiện, tránh làm điều ác. Mâu thuẫn, xung đột trong truyện là mâu thuẫn giữa thiện và ác, kết cục của Cám là lời khẳng định cho chân lí xấu xa luôn thua chính nghĩa.

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 8

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 4Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 4

Truyện “Tấm Cám” là một truyện cổ tích thần kì rất quen thuộc trong nhân dân ta. Nhiều nước bên Tây, bên Đông Nam Á cũng có những truyện kể tương tự như truyện “Tấm Cám”.

Người ác trong truyện này là hai mẹ con Cám. Cái xấu của Cám là ở bản tính lừa gạt. Cám lừa chị Tấm để trút hết tôm tép, chạy về nhà trước, chỉ cốt được lợi cho mình, mặc cho cô chị khốn khổ mang giỏ không về nhà, chịu sự đánh đập nhiếc móc của bà dì ghẻ. Sau hành động ấy, Cám trở thành cô bé nghe theo mẹ mà lao vào những tội ác. Không nghĩ ra được những mưu mẹo, nhưng đã thực hành những mưu mẹo ấy thì cũng đáng giận, đáng ghét rồi. Bà mẹ Cám thì thật là gian ác và tai ngược.

Bà ta cố tìm cách hại Tấm, hết cách này sang cách khác. Ta có cảm tưởng bà ta đứng sẵn đâu đó, hễ thấy Tấm ló đầu ra là để hành hạ, để không cho Tấm được xuất hiện giây phút nào trong cuộc sống nữa. Lừa cho Tấm đi chăn trâu xa để mẹ con ở nhà ăn thịt bống. Bắt tấm nhặt thóc lẫn với gạo để giam Tấm lại trong nhà. Xui Tấm trèo cau để chặt cây cho Tấm ngã. Cho con gái mặc quần áo giả dạng Tấm để lừa hoàng tử. Rồi lại xui làm thịt chim vàng anh, xui chặt cây xoan đào, xui đốt khung cửi cốt làm cho Tấm phải hết đường tái sinh.

Mụ ta là hiện thân của cái ác, cái ác đội lốt người. Tại sao bà ta ác như vậy? Một phần, vì bà ta là dì ghẻ. Ca dao có câu: “Mấy đời bánh đúc có xương – Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng? Bà ta muốn cho con mình sung sướng để được sướng lây. Bà ta không biết rằng làm như thế chỉ đẩy cô Cám vào cảnh khổ.

Cám tuy được hưởng nhiều thứ của Tấm, nhưng lúc nào cũng bị tiếng nguyền rủa dội vào tai. Đó là một hình phạt đối với Cám. Cuối cùng Cám chết và mẹ Cám cũng chết theo. Trời, Bụt đã trừng phạt mẹ con họ. Tấm chỉ chết tạm thời, chỉ là một sự hoá thân, chết mà vẫn sống. Còn mẹ con Cám thì chết vĩnh viễn, chết mãi mãi, chết trong sự khinh ghét của chúng ta, của mọi người.

Truyện cổ tích “Tấm Cám” còn hay ở chỗ: Trong truyện, cuộc sống của đất nước Việt Nam ta được hiện lên rất sinh động. Trong truyện có cảnh mò cua bắt ốc, cảnh chăn trâu, có quán nước bán hàng, có những hội hè đình đám, có đám giỗ cha, có cơi trầu mời khách. Thật là một đất nước có nhiều phong tục đẹp. Không một truyện cổ tích nào có nhiều hiện tượng phong tục phong phú như truyện này. Các loài vật, các cây cỏ, các dụng cụ đều được đưa vào trong truyện.

Có con cá nhỏ bé hiền lành như con cá bống, có con chim nhảy nhót như chim vàng anh. Có con chim sẻ nhặt thóc, có khung cửi kẽo cà kẽo kẹt, có ông hoàng tử khi ở trong cung sang trọng, khi ra ngồi quán nước với bà lão bình dân… Thật là rất Việt Nam. Cả một đất nước hiền lành, đủ cả con người, cả chốn cung đình, cả nơi thôn dã, cùng với bao nhiêu sắc màu, cảnh vật thiên nhiên. Học truyện “Tấm Cám”, nên biết điều đó, cũng như phải nhớ ý nghĩa của truyện là: “ở hiền gặp lành”.

Truyện “Tấm Cám” còn có một điều hay nữa mà rất nhiều truyện cổ tích không có hoặc có rất ít. Đó là khi kể chuyện, người ta dẫn thêm những câu ca, câu hát. Đấy là một đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam. Những lời văn gây một không khí sinh động cho câu chuyện thêm phần đằm thắm. Hãy đọc lại những câu rất vui như của gà: “Cục ta cục tác, cho ta nắm thóc, ta bới xương cho”. Hoặc những câu rất cảm động như: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh chui vào tay áo”. Cái hồn cổ tích, cái chất Việt Nam nằm trong những câu ca, điệu nói ấy.

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 1

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 8Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 8

Trong kho tàng truyện cổ tích dân gian của nước ta có nhiều truyện cổ hay nhưng truyện cổ tích Tấm Cám luôn có sức sống vô cùng mãnh liệt, gắn liền với tuổi thơ của mọi thế hệ Việt Nam. Truyện cổ tích Tấm Cám thể hiện cuộc chiến không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác trong cuộc sống xã hội thời xưa.

Trong đó có hai nhân vật chính đại diện cho hai phe thiện và ác. Phe thiện chính là nhân vật Tấm người luôn chịu áp bức, bóc lột người chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Nhân vât Cám là nhân vật đại diện cho tầng lớp bóc lột, cho những cái xấu cái ác tồn tại trong xã hội. Là một nhân vật luôn tìm cách cướp đi công sức thành quả lao động của người khác.

Những trang viết của truyện cổ tích Tấm Cám thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc của chuyện. Nó thể hiện sự chiến thắng tuyệt đối của cái thiện với cái ác. Những cái ác cuối cùng sẽ bị tiêu diệt, còn cái thiện sẽ được gặp nhiều may mắn, gặt hái được thành quả và hạnh phúc. Đồng thời nó thể hiện sự vùng lên mạnh mẽ của của tầng lớp bị áp bức bóc lột, của những người dân thấp cổ bé họng luôn luôn bị đè nén, cướp bóc.

Nhân vật Cám là một nhân vật đại diện cho cái ác, Cám có mọi đức tính xấu, lười lao động, thích hưởng thụ, thường xuyên nghĩ ra những mưu mô xảo quyệt để bóc lột thành quả của những người lương thiện tốt bụng như Tấm. Khi mẹ của Cám sai Tấm và Cám đi mò cua bắt ốc, nhưng Cám vốn ỉ lại, lười làm nên chỉ mải chơi không chịu mò cua bắt tép, nên khi trời tối trong giỏ của Cám chẳng có gì cả. Nhưng Cám vốn đa mưu túc kế, nên Cám đã nói với Tấm rằng: Chị Tấm ơi chị Tấm đầu chị lấm. Chị hụp cho sâu kẻo về mẹ mắng.

Thể hiện sự khôn ngoan, mưu mô thâm hiểm của Cám. Khi Tấm xuống ao tắm, Cám đã trút giỏ tôm tép của Tấm vào giỏ mình rồi chạy về nhà lấy công với mẹ, để mặc Tấm ngơ ngác, lo lắng với cái giỏ rỗng. Mọi tội trạng Tấm phải gánh chịu, phải nghe những lời chửi bới đánh đập của mẹ kế.

Khi Tấm được nhà vua để ý rồi cưới làm Hoàng Hậu, do đố kỵ với hạnh phúc của Tấm rồi lòng tham nổi lên Cám đã có âm mưu táo bạo hơn, không chỉ là việc cướp một giỏ tôm tép bình thường nữa, mà nó là một tội ác lớn lao hơn. Cám âm mưu giết Tấm để cướp vị trí hoàng hậu của nàng.

Ngày giỗ cha, Tấm về giỗ cha báo hiếu với gia đình nhưng Tấm hiền lành không thể ngờ rằng Cám đang chờ cô với âm mưu lớn. Khi Tấm trèo lên cây cau hái quả thì Cám và mẹ mình ở dưới chặt gốc cây cau khiến cho Tấm ngã xuống ao mà chết.

Cuộc chiên đấu với cái thiện và cái ác chính thức bắt đầu. Sau khi chết Tấm hiểu ra mọi vấn đề, do chết oan nên cô không siêu thoát đầu thai kiếp khác mà linh hồn hóa thành chim vàng anh. Cám do sự thông minh, quỷ quyệt của mình nên sớm nhận ra con chim vàng anh kia chính là linh hồn Tấm. Cám âm mưu giết chim vàng anh ăn thịt.

Điều này cho thấy Cám vô cùng độc ác không hề ân hận trước hành động giết chị cùng cha khác mẹ, mà ngược lại còn ác tới tận cùng không quay đầu hối cải. Cám âm mưu giết chim vàng anh là giết Tấm lần hai. Cám không chỉ giết Tấm một lần mà giết Tấm tới hai ba lần, từ chim vàng anh, khung cửi, cây xoan đào… hễ Tấm hóa thân thành cái gì thì Cám đều âm mưu giết hại. Sự độc ác của Cám là điều không thể chối cái, Cám không bao giờ biết sai, không bao giờ cảm thấy lương tâm cắt dứt ân hận, mà tội ác chồng chất lên nhau.

Chính vì vậy, để tồn tại bắt buộc cái thiện trong cuộc sống phải tìm cách mạnh mẽ vươn lên. Chính vì vậy, Tấm đã tìm cách để lấy lại những gì mình đã mất, tìm lại công lý, cho mình. Sau mỗi lần bị Cám giết hại, Tấm không còn yếu đuối, ngồi khóc nức nở chịu nhịn nhục nữa mà đã kiên cường đứng lên, chống trả lại cái ác, đòi lại công bằng cho chính mình.

Cuối cùng thì Tấm đã lấy lại được vị trí của mình, đòi lại được sự công bằng trong cuộc sống. Còn Cám phải chịu quả báo, chịu thiệt mạng bởi những tội ác mà cô ta gây ra. Cám là một kẻ cho tới chết vẫn không đền hết tội, không chịu hối cải, sống lương thiện mà cô ta vẫn luôn độc ác, độc ác tới tận lúc chết. Vì vậy, việc Tấm trả thù Cám, lừa Cám tìm tới cái chết là một kết quả xứng đáng cho con người mưu mô, nham hiểm, luôn muốn cướp đoạt thành quả hạnh phúc của người khác.

Trong cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác, cái thiện luôn luôn chiến thắng, thể hiện niềm tin mong muốn của người nông dân ta thời xưa luôn đứng về phía công lý, lẽ phải.

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 2

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 1Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 1

Truyện cổ tích luôn giữ một có vị trí quan trọng trong văn học dân gian nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Đằng sau những chi tiết hư cấu, kì ảo, mỗi câu chuyện cổ tích đều gửi gắm bài học sâu sắc về đạo đức, ứng xử, lẽ công bằng trong xã hội. Một trong những truyện cổ tích nổi tiếng nhất có thể kể đến là truyện Tấm Cám. Trong truyện cổ tích Tấm Cám, ngoài nhân vật Tấm thảo hiền, xinh đẹp đại diện cho cái thiện, cái tốt thì còn có nhân vật Cám độc ác, tàn nhẫn, là đại diện tiêu biểu cho cái ác, cái xấu trong truyện.

Nhân vật Cám là em gái cùng cha khác mẹ của Tấm. Cám may mắn hơn Tấm khi sinh ra có đủ cả cha lẫn mẹ, có chị Tấm cũng nhường nhịn, yêu thương. Hơn thế, Cám còn được mẹ nuông chiều và luôn cho cô những điều tốt đẹp nhất. Sự may mắn trong hoàn cảnh không những không giúp Cám trở nên tốt đẹp, lương thiện mà lại làm nảy sinh sự ích kỉ, độc ác. Từng lời nói, hành động của Cám trong truyện đều khiến cho người đọc cảm thấy bất bình, giận dữ.

Đầu tiên, có thể thấy Cám là một người lười lao động. Có lẽ tính cách ấy cũng xuất phát từ sự nuông chiều của mẹ ruột. Khi mẹ của Cám sai hai chị em đi xúc tép thì Cám chỉ mải chơi, không chịu làm, đến lúc trời tối thì trong giỏ đựng của Cám vẫn trống không. Không chỉ lười lao động, Cám còn là cô gái mưu mô, toan tính và xảo quyệt. Để giành được phần thưởng là chiếc yếm đào của mẹ, Cám đã lừa Tấm để lấy hết tôm tép- thành quả một ngày lao động vất vả của nàng.

Lời nói tưởng chừng như lời quan tâm nhưng thực chất lại là sự toan tính đầy lạnh lùng của Cám. Lợi dụng sự tin tưởng của Tấm, Cám đã trút hết tôm tép trong giỏ chị về trước nhận thưởng từ mẹ mà không quan tâm chị của mình sẽ đau khổ như nào khi biết giỏ tép đã bị mất. Hành động và lời nói của Cám vô cùng mâu thuẫn, sự quan tâm mà Cám dành cho Tấm là giả dối, điều đó càng tàn nhẫn hơn với một người vốn thiếu thốn tình yêu thương từ nhỏ như Tấm.

Khi Tấm may mắn gặp gỡ, được vua yêu thương và cưới làm hoàng hậu. Cám ghen tỵ với sự hạnh phúc của chị mình mà sinh lòng ghen ghét. m mưu giết Tấm để cướp ngôi hoàng hậu càng cho thấy Tấm độc ác và tham lam đến tột cùng. Không còn là giỏ tép, con tôm nữa mà đây là sinh mạng của một người, người đó lại là người thân của mình mà Cám tàn nhẫn ra tay thì càng ác độc biết bao. Cám đã thừa cơ hội vào ngày giỗ cha, Tấm trở về báo hiếu để thực hiện âm mưu nhẫn tâm ấy.

Lợi dụng lòng tin và sự thật thà của Tấm, Cám cùng mẹ chặt gốc cây cau khiến nàng ngã xuống ao mà chết. Hành động vô nhân tính của Cám thật đáng lên án. Lúc này đây, không còn là cuộc chiến trong một gia đình nữa mà là cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, giữa cái lớn lao và cái thấp hèn trong xã hội.

Sau khi Tấm chết, nàng mới hiểu rõ hơn tâm địa độc ác của mẹ con Cám, cô đã thành chim vàng anh để cảnh báo:

Trước lời cảnh báo của vàng anh, Cám nhận ra đó là linh hồn Tấm trở về, quyết giết chim, hại Tấm thêm lần nữa. Tấm chết hóa thành khung cửi, cây xoan đào, thế nhưng, hết lần này đến lần khác, Cám vẫn không buông tha nàng mà quyết tâm hủy diệt tất cả sự hồi sinh của Tấm. Tội ác chồng chất, chưa một lần Cám nhìn lại chính mình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm mà ân hận hay mặc cảm tội lỗi.

Dân gian xưa có câu “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” quả không sai, cuối cùng Cám phải trả giá đắt cho tội ác của mình. Khi Tấm mạnh mẽ vùng đậy, đấu tranh để đòi lại cái thuộc về mình cũng là lúc mẹ con Cám bị trừng trị đích đáng, cái chết xảy đến là cái mà Cám đáng được nhận. Cám chết cũng là lúc cái ác bị tận diệt, cái thiện chiến thắng, lên ngôi.

Qua nhân vật Cám, tác giả dân gian đã gửi đến mỗi chúng ta bức thông điệp sâu sắc: Sống phải biết yêu thương, bao dung và giúp đỡ người khác, trân quý tình thân và trân trọng những gì mình đang có. Đừng vì sự ích kỉ, tham lam của bản thân mà làm hại đến người khác. Hãy yêu thương nhau khi còn có thể, đặc biệt là với những người thân trong gia đình mình, bởi:

Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 2Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” số 2

Mỗi hình tượng nhân vật đều góp phần phản ánh giá trị tư tưởng và thông điệp mà người sáng tạo gửi gắm tới người đọc, nhân vật Cám trong truyện cổ tích Tấm Cám là điển hình cho câu nói “Ác giả ác báo”, “gieo gió gặp bão”. Qua phân tích nhân vật Cám, chúng ta thấy bức thông điệp sâu sắc: Sống phải biết yêu thương, bao dung và giúp đỡ người khác, trân quý tình thân và trân trọng những gì mình.

Đăng bởi: Hiếu Nguyễn Nghĩa

Từ khoá: 8 Bài văn phân tích nhân vật Cám trong truyện “Tấm Cám” hay nhất

10 Bài Văn Phân Tích Nhân Vật Phùng Trong “Chiếc Thuyền Ngoài Xa” Của Nguyễn Minh Châu

Trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, chính nhân vật Phùng là người đã phát hiện ra câu chuyện về gia đình người đàn bà hàng chài. Cũng chính anh là người đã tiếp tục theo dõi câu chuyện, đưa nó ra pháp luật để rồi qua đó, cả anh và Đẩu, cả người đọc có thêm được những phát hiện mới mẻ về cuộc sống. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 3

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn xuôi nổi tiếng của dân tộc Việt Nam 1945, mỗi tác phẩm của ông đều thể hiện một quan điểm nhân sinh và có triết lý sống sâu sắc. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” thông qua cái nhìn của nhiếp ảnh Phùng đã xây dựng được một tình huống truyện bất ngờ và chứa đựng nhiều nghịch lý.

Tình huống truyện thông qua cách nhìn nhận của nhân vật nhiếp ảnh gia Phùng. Phùng là một người nghệ sĩ có tâm có tài với nghề theo yêu cầu của cấp trên anh đi công tác vùng biển là chiến trường xưa của mình để chụp những bức ảnh làm lịch. Chính trong chuyến đi này nhân vật Phùng đã nhận thức được những điều mà trước đây anh chưa nhận thức được. Cảm xúc của nhân vật Phùng thể hiện thông qua cái nhìn của anh về số phận của người đàn bà và những con người lao động nơi đây, thể hiện một cái nhìn nhân văn sâu.

Trước hết, nhân vật Phùng là người có một tâm hồn nghệ sĩ, sau buổi sáng anh đã chụp một bức tranh vô cùng đẹp đẽ, thể hiện cảnh đắt trời cho, một tác phẩm nghệ thuật mà Phùng tìm kiếm đã lâu. Hình ảnh nắng ban mai, với chiếc thuyền in một nét mơ hồ, bầu trời sương mù trắng pha chút hồng hồng do mặt trời chiếu vào, thật sự là một bức ảnh tuyệt vời.

Với tâm hồn nghệ sĩ của mình, Phùng cảm nhận được bức tranh kia tựa danh họa thời cổ, rồi anh cũng cảm thấy niềm hạnh phúc ngập tràn, bối rối, trái tim như có một ai đó thắt chặt vào. Phùng thấy được cái khoảnh khắc trong tâm ngần của tâm hồn và cảm nhận được sự chân thiện mỹ của bức tranh toát ra. Anh thấy trong tâm hồn mình được thanh lọc, trở nên tinh khiết và trong trẻo vô cùng. Từ đó, anh nhận thức được rằng chính bản thân cái đẹp cũng là điều vô cùng nhân văn là đạo đức. Bằng con mắt và tâm hồn nghệ sĩ của mình, Phùng đã cho người đọc một quan niệm mới về cái đẹp. Đó chính là việc cái đẹp có thể thành lọc tâm hồn của một con người, hướng con người tới những điều hoàn mỹ, tốt đẹp hơn.

Nhân vật Phùng không chỉ là người có tâm hồn nghệ sĩ mà còn là người có tâm hồn vô cùng nhân văn, lương thiện và tốt bụng. Phùng đồng cảm với những số phận con người gặp bất hạnh trong cuộc sống, bởi trong con người anh có đức tính của một người chiến sĩ. Chính từ bức ảnh đẹp đẽ chiếc thuyền ngoài xa kia, Phùng đã bước ra và gặp một cặp vợ chồng bất hạnh. Một người đàn bà với nửa thân áo dưới ướt sũng do ngâm nước, đôi mắt thâm quần, trũng sâu vì thức đêm, thân hình của người đàn bà thô kệch vạm vỡ như những người đàn bà vùng biển khác.

Một người đàn ông vô cùng dữ tợn luôn miệng chửi bới nhiếc móc vợ, anh ta còn dùng chiếc dây lưng của mình đánh vợ không thương tiếc. Một cuộc sống nhọc nhằn lam lũ xảy ra trước mắt Phùng. Sự cam chịu của người phụ nữ kia khiến Phùng cảm thấy vô cùng tò mò, và thương cảm vô cùng. Họ là những con người lao động, lam lũ nghèo khổ hiện thân của những người dân ven biển của làng chài này. Những cảnh tượng đau lòng cứ liên tục xảy ra trước mắt anh.

Người chồng đạp vợ một cái vô cùng dã man rồi liên tục chửi bới những câu khó nghe”Chúng mày chết đi cho ông nhờ” nhưng, người đàn bà vẫn cam lòng chịu đòn không phản kháng lại, sự nhẫn nhịn chịu đựng đã thành thói quen ăn sâu vào trong tiềm thức, trái tim của người phụ nữ. Đứa con trai lớn của gia đình nhìn thấy bố đánh mẹ tàn nhẫn, có lẽ nó đã phải chứng kiến cảnh này nhiều lần rồi. Nó xông lên can ngăn bố thì bị bố cho ăn mấy cái tát. Một người chiến sĩ như Phùng đã nhìn thấy nhiều cảnh bom rơi, đạn nổ, nhiều sự hy sinh của các đồng đội mình.

Nhưng hôm nay nhìn thấy cảnh tượng bạo hành trong chính người thân ruột thịt của một gia đình trong thời kỳ hòa bình lòng Phùng không khỏi se sắt, trào dâng những cảm xúc nghẹn ngào khó tả. Nhân vật Phùng là một con người vô cùng tân tiến và theo kịp với xu thế của thời đại anh cũng biết thay đổi mình với hoàn cảnh mới dù đã trải qua những năm tháng chiến tranh, nhưng anh không khư khư giữ lấy nó phải thay đổi mình cho phù hợp hoàn cảnh sống.

Nhân vật Phùng đã rất vui mừng khi chụp được bức ảnh vô cùng quý giá, một bức tranh để đời tác phẩm trời cho nhưng khi chứng kiến hoàn cảnh của người đàn bà làng chài những con người sống trên chiếc thuyền đẹp đẽ kia Phùng nhận thức ra một điều còn quan trọng hơn, một triết lý mà toàn diện, mà nhân vật Phùng muốn gửi gắm tới tất cả người đọc.

Đó là mọi việc cần phải nhìn nhận một cách toàn diện thấu đáo. Có những thứ bên ngoài đẹp đẽ nhưng bên trong lại không phải như vậy, chỉ khi chúng ta tới gần với nó, chạm được vào bên trong mới cảm nhận hết được cái đẹp thật sự, cuộc sống thật sự của cái đẹp.

Nghệ thuật là những thứ bắt nguồn và gắn liền với cuộc sống của con người. Nghệ thuật như vậy mới đích thực là nghệ thuật.Nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa chính là đại diện góc nhìn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đây là nhân vật không thể thiếu bởi nó giúp cho người đọc đến gần với tác phẩm hơn.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 10

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 3

Nguyễn Minh Châu được coi là một trong những cây bút viết truyện ngắn hàng đầu của Việt Nam thời kỳ đổi mới. Trong số những tác phẩm của ông có truyện ngắn “Chiếc thuyền ngòai xa” in đậm phong cách tự sự – triết lý của ông. Với ngôn ngữ giản dị, đời thường truyện kể lại chuyến đi thực tế của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng với những chiêm nghiệm sâu sắc về thực tế nghệ thuật và cuộc sống của anh. Nhân vật Phùng trong tác phẩm điển hình cho kiểu xây dựng nhân vật độc đáo của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đó là kiểu nhân vật nhận thức với những cuộc đấu tranh tâm lý rất phức tạp.

Cũng như trong những sáng tác của Nam Cao có nhân vật Thứ trong “Giăng sáng”, Hộ trong “Đôi mắt” hay Độ trong “Đời thừa” là những nhân vật thể hiện những phát ngôn về nghệ thuật của nhà văn Nam Cao. Thì nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” cũng được nhà văn Nguyễn Minh Châu xây dựng là nhân vật thể hiện phát ngôn của mình. Tác giả giới thiệu nhân vật Phùng là một người nghệ sĩ say mê cái đẹp và có trách nhiệm với chính nghề nghiệp của mình. Trước khi là một người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng từng là một người lính đấu tranh với quân thù ngoài chiến trường ác liệt, vào sinh ra tử trên mặt trận để bảo vệ chính nghĩa cũng như bảo vệ chính cuộc sống của mình.

Sau khi hòa bình lập lại anh là một người nghệ sĩ, một nhiếp ảnh gia với tâm hồn say mê cái đẹp và tinh thần trách nhiệm cao với nghề nghiệp của mình. Trong tác phẩm Phùng được anh trưởng phòng kỹ lưỡng chọn ra giao cho một nhiệm vụ quan trọng là hoàn thành bộ ảnh cho cuốn lịch năm ấy. Anh đã có trong tay 11 tấm hình tuyệt đẹp về cảnh sắc thiên nhiên nên khi được giao nhiệm vụ anh quyết định về vùng biển miền trung để chụp tấm thứ 12 còn lại cho bộ lịch hoàn chỉnh. Đây chính tỏ Phùng không phải là một người giản đơn hay qua loa với công việc của mình. Tác cũng muốn nói lên phẩm chất đáng quý của người dân lao động.

Phùng là người nghệ sĩ tài năng biết thưởng thức và say mê cái đẹp, khi anh phát hiện được bức tranh thiên nhiên giàu tính nghệ thuật: “Trước mặt Phùng là khung cảnh thiên nhiên như một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”, “mũi thuyền in một nét mơ hồ”, “vài bóng người lớn và trẻ em ngồi im phăng phắc trên mũi thuyền khum khum như hướng vào bờ”. Đây như một cảnh đắt trời cho, Nguyễn Minh Châu như sử dụng bút lực thật mạnh mẽ, tác giả như có độ am hiểu sâu về nghệ thuật hội họa, nhạy cảm trước vẻ đẹp của nghệ thuật khi miêu tả được vẻ đẹp tuyệt đỉnh “toàn bích” của một cảnh đẹp thông qua một câu văn như thế này.

Câu văn tiếp theo là những hình ảnh cụ thể: “mũi thuyền troi trong bầu sương mù”, “vài bóng người lớn và trẻ con”, có hình ảnh mắt lưới và những tấm lưới. Đây là những hình ảnh cụ thể tuy nhiên độc đáo ở chỗ nhà văn miêu tả cảnh vô cùng huyền ảo bởi có màu của sương huyền ảo lại thêm những ánh nắng ban mai chiếu vào, cảnh tĩnh bởi con thuyền đang im phăng phắc như cũng động bởi con thuyền đang từ từ tiến thẳng vào bờ. Phùng phải là một người nghệ sĩ tài năng mới có sự cảm nhận trong cái đẹp và chớp được một bức ảnh “toàn bích” như thế.

Phùng là người nghệ sĩ rung động và thực sự rung động trước cái đẹp, anh liên tưởng đến một câu nới đó chính là: “Cái đẹp là đạo đức”, “tưởng chính mình đang vừa khám phá ra cái trân lý của sự hoàn thiện, khám phá ra khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Phùng là một người nghệ sĩ chân thực bởi lẽ anh hạnh phúc khi được sáng tạo, khi được lao động, khi cảm nhận được cái đẹp lãng mạn và hài hòa giữa thiên nhiên và cuộc đời anh như được thanh lọc, tinh khôi. Phùng còn là một người nhân hậu khi tận mắt chứng kiến một cảnh tượng lạ lung đó là trên chiếc thuyền đẹp nhu mộng kia bỗng bước xuống một người đàn bà vô cùng xấu xí và một người đàn ông thô bạo. Người đàn ông kia kéo người đàn bà đánh đập không thương tiếc.

Ban đầu Phùng rất ngạc nhiên nhưng khi nhận ra tình huống ấy anh vứt chiếc máy ảnh ra một bên và nhảy vào định cứu giúp cho người đàn bà xấu số nhưng thằng con trai của chị đã nhanh hơn. Phùng chỉ biết đứng ngoài chứng kiến cảnh tượng ấy. Phùng chợt nhận ra một điều rằng đằng sau cái vẻ đẹp dường như toàn bích kia lại tồn tạ một cái ác, cái xấu xa đến vô đạo đức, những đau khổ, bất công vẫn luôn tồn tại thường trực trong chính cuộc sống mà Phùng nghĩ là tươi đẹp, màu sắc kia khi nó bị che phủ bởi những cái đẹp ấy. Qua đây nhà văn thể hiện thông điệp của mình muốn gửi gắm đến người đọc đó chính là: đừng bao giờ nhầm lẫn giữa hình tượng bên ngoài và vật chất bên trong và đừng vội đánh giá con người ở vẻ bề ngoài xấu xí của họ.

Qua việc xây dựng thành công nhân vật Phùng tác giả Nguyễn Minh Châu muốn mang đến cho người đọc một thông điệp về giá trị của lòng nhân đạo trong cuộc sống: Cần phải biết sống và sáng tạo vì con người, nghệ thuật chân chính là thứ nghệ thuật phải xuất phát từ con người, cuộc đời của chính họ và nó phải quay trở lại để phục vụ cho đời sống, cứu rỗi nhân sinh đây mới chính là vẻ đẹp chân chính và nghệ thuật chân chính của người nghệ sĩ.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 10

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 2

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 10

Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất của văn học ta hiện nay. Ông đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Phùng, một nghệ sĩ khao khát khám phá, sáng tạo ra cái đẹp, người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư về nhân cách và đời sống con người.

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).

Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài, lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con lão che chở người mẹ đáng thương. Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện. Ở đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao cảm thông và ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh hiểu:không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời. Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.

Phùng trong truyện vừa là nhân vật chính đồng thời lại là người kể chuyện. Mọi diễn biến của tác phẩm đều được soi chiếu qua lời kể và suy nghĩ của anh. Trong tác phẩm, Phùng đã có những phát hiện quan trọng về cuộc sống và nghệ thuật. Trước hết là nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật. Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm khi mặt trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng.Phùng bộc lộ rung động trước ” Một cảnh đắt trời cho” mà ” suốt đời cầm máy chưa bao giờ thấy”. Nó đẹp ” như bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” Cảnh đó được nhìn từ xa nên ” Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ sĩ.Anh khẳng định ” toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp,một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”.Phùng thực sự rung động ” Đứng trước nó tôi trở nên bối rối.Trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và ” phát hiện ra khoảnh khắc trắng ngần của tâm hồn”. Phùng là một nghệ sĩ trên đường săn tìm cái đẹp.Anh thực sự biết quan sát lựa chọn cái đẹp của thiên nhiên,cảnh vật,con người.Sự rung động của người nghệ sĩ đã đến đúng lúc.Sự rung động thực sự khi đứng trước cái đẹp.Cái đẹp tự nhiên ” đắt giá”, “trời cho”,mới thực sự làm rung động lòng người. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời. Phùng còn nhận ra trong suy nghĩ của mình ” chẳng biết ai đó lần đầu phát hiện ra bản thân cái đẹp là đạo đức”.Đó là cái đẹp phải kết hợp với cái tâm,cái tài kết hợp với cái thiện.

Nhận thức thứ 2 của Phùng là về bạo lực gia đình. Từ chiếc thuyền đẹp như mơ, Phùng thấy bước ra một đôi vợ chồng làng chài mệt mỏi, xấu xí, thô kệch..” Người đàn bà đứng lại, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. ” Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ,mặt đỏ gay,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp lên lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng ngiến vào nhau ken két.Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn ” Mày chết đi cho ông nhờ.Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. ” Người đàn bà có vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề kêu một tiếng,không chống trả,cũng không tìm cách trốn chạy. Bạo lực trong gia đình thuyền chài ấy diễn ra thường xuyên ” Ba ngày một trận nhẹ,năm ngày một trận nặng”. Bạo lực gia đình là vấn đề tồn tại trong xã hội.Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được.ở đâu có bạo lực gia đình thì nạn nhân của nó là người vợ,người mẹ và những đứa con tội nghiệp. Bạo lực là dấu hiệu của sự đau khổ,rạn nứt của hạnh phúc gia đình.Nó làm tổn thương bao mối quan hệ của đời sống tình cảm con người. Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe dò phá mìn của mĩ trên bãi cát.Phải chăng cuộc chiến đầu giành độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn,mang lại niềm vui cho mọi người. Nhưng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra: Đói kém,bệnh tật,bạo lực gia đình …

Từ sự thật phũ phàng trên bãi biển về chiếc thuyền đánh ca đẹp như mơ, nghệ sĩ Phùng đã dần dần vỡ ra bao điều về cuộc sống của những người dân chài lưới. Biết bao cảnh đời cứ phơi bày ra trước mắt: Một người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Người đàn ông đi sau. Tấm lưng rộng và cong như một con thuyền. Mái tóc tổ quạ.Lão đi chân chữ bát,hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ. Cặp vợ chồng làng chài là nạn nhân của cái nghèo khổ, vất vả lao động cật lực mà vẫn ngặt nghèo vì miếng cơm manh áo vì đông con. Người đàn bà thú nhận: ” giá tôi đẻ ít và chúng tôi sắm được cái thuyền rộng hơn”.Thì ra đẻ nhiều,thuyền nào cũng từ mười đến hơn mười đứa.Đây là nguyên nhân của sự đói nghèo. Rồi thiên tai, trời làm động biển ” vợ chồng con cái phải ăn xương rồng chấm muối” Cái lí ở đời ” ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn,cho nên phải gánh lấy cái khổ.Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống như mình trên đất được”. Do con người, do thiên tai do cái lẽ ở đời đã ăn sâu,bám bám rễ hàng ngàn đời nay mà người đàn bà phải chịu đau khổ.Người đàn ông vì vất vả cực nhọc,không biết đổ cái bực tức, uất ức vào đâu, chỉ còn biết trút lên người vợ.

Cậu bé Phác thương mẹ nhưng hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ. Nó chỉ nghĩ thương mẹ bị đánh mà sẵn sàng bỏ quên tình phụ tử. Xét cho cùng, Phác cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ xem cử chỉ của nó thì thấy: ” Cái thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt”. Hành động nhất thời của Phác ” Như viên đạn” bắn vào người bố và lúc này ” đang xuyên qua tâm hồn” người mẹ.Tình cảnh thật đau lòng. Làm thế nào để xoá đi những chuyện đau lòng trong gia đình này.

Cuối truyện Đẩu đi gặp người đàn ông. Phùng đi gặp thằng Phác. Kết quả như thế nào, tác giả còn bỏ ngỏ. Chỉ biết bức ảnh anh chụp có chiếc thuyền lưới vó và suy nghĩ của Phùng ” bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh,đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch,tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá,nửa thân dưới ướt sũng,khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm”.Phải chăng đây là sự trăn trở trước cuộc sống còn nhiều điều khó khăn, vất vả của người làm nghệ thuật. Đó là mối quan hệ giữa văn chương với cuộc đời.

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa qua những phát hiện của Phùng về vẻ đẹp của thiên nhiên, về sự thật cay đắng, đầy bi kịch, nghèo khổ của những con người lao động bằng nghề chài lưới, đã bộc lộ những lo lắng, trăn trở của nhà văn về nhân cách, đời sống con người, bộc lộ lòng thương cảm, trắc ẩn, trân trọng những vẻ đẹp trong tâm hồn người dân lao động. Truyện đậm chất tự sự, triết lý, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 8

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 2

Chiếc thuyền ngoài xa – một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Tác phẩm cho thấy sự đổi mới trong nội dung sáng tác của ông. Không còn đi vào những anh hùng đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn mà thay vào đó là cuộc sống của những còn người bình thường, đi sâu vào thế sự đời tư. Nhân vật người đàn bà hàng chài là nhân vật đặc sắc, gửi gắm những quan niệm nhân sinh của tác giả.

Hình ảnh người đàn bà hàng chài trên bờ biển được giới thiệu chạc bốn mươi tuổi, cao lớn, thô kệch, rỗ mặt và trên khuôn mặt lộ rõ sự mệt mỏi, tái ngắt. Chị mặc một tấm áo bạc phếch, rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng những nước. Dù bị đánh đập dã man song chị không hề phản ứng, không một tiếng kêu, không một sự trống trả. Chị cam chịu, nhẫn nhục đến mức người đọc phải bất bình. Ngày từ đầu tác phẩm tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc về một người đàn bà xấu xí, quê kệch cuộc sống lam lũ, vất vả và tính cách cam chịu đến khó hiểu. Bề ngoài không một chút phản ứng khi bị chồng đánh, nhưng chị lại ngồi thụp xuống, khóc và van xin thằng Phác khi nó giằng lấy chiếc thắt lưng từ tay người cha. Với chi tiết nhỏ này tác giả đã cho thấy người đàn bà này không hề đơn giản là người lạc hậu, quê kệch mà còn là người có nội tâm mâu thuẫn, phức tạp.

Nếu hình ảnh người đàn bà trên biển quê kệch cam chịu thì khi đến tòa án lại là một người phụ nữ khác hẳn. người đàn bà đến tòa án với dáng vẻ lung túng, sợ sệt, tất cả hành động đều toát lên sự quê kệch, sợ hãi. Bước vào phòng, người đàn bà tìm vào góc phòng để ngồi, phải đến lần thứ hai sau lời mời của Đẩu, người đàn bà mới dám rón rén ngồi vào mép ghế, cố gắng thu mình lại. Ngôn ngữ của người đàn bà hết sức ngập ngừng, lúng túng, điều đó càng tô đậm hơn sự e dè, sợ hãi ở chị.

Sự ngập ngừng kia chỉ là vẻ bề ngoài, sau khi lấy lại được bình tĩnh, hiểu được bản chất người đối thoại với mình, người đàn bà đã có sự thay đổi nhanh chóng, ngày càng tỏ ra sắc sảo. Trước hết là sự thay đổi về ngôn ngữ, Nếu như ban đầu xưng “con” tỏ thái độ tôn kính, nhúng nhường, thì sau đó đổi cách xưng hô: “Chị cảm ơn các chú”, khi nghe Đẩu nói: “chủ trương nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hòa thuận” khiến người đàn bà hiểu ra rằng, những kẻ đại diện cho pháp luật kia cũng chỉ là những kẻ hời hợi, nắm được cái vỏ mà không nắm được bản chất bên trong. Bởi vậy, sự sợ hãi, lũng túng đã mất, người đàn bà lấy lại bình tĩnh, trong cách xưng hô đã đặt mình ngang ngang với một vị chánh án và một nhân chứng. Sự thay đổi ấy cho thấy, người đàn bà có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh, là người phụ nữ chủ động, sắc sảo.

Không chỉ thay đổi về ngôn ngữ mà còn có sự đổi ngôi kì lạ: người đàn bà hàng chài vốn đến để nghe giáo huấn, thì nay bà trở thành người phân tích, giảng giải; còn Phùng và Đẩu vốn là người đại diện cho pháp luật lại trở thành những kẻ ngây ngô, hời hợt trước lí lẽ sắc sảo của người phụ nữ kia. Bằng sự chủ động, kiên quyết lại cũng rất mềm mỏng người đàn bà đã đưa ra một loạt lí lẽ để Đẩu và Phùng hiểu vì sao bà không thể bỏ chồng. Trước hết là do, bà là người phụ nữ xấu xí, cơ hội có gia đình và có con là điều không tưởng, bởi vậy, khi có người đàn ông chấp nhận lấy và sinh con cùng bà, đó là hạnh phúc quý giá người đàn bà không thể đánh mất. Không chỉ vậy, bà còn ý thức được lỗi ở chính mình, khi đẻ quá nhiều khiến cuộc sống càng cơ cực, chật vật hơn.

Và sau khi phân tích hoàn cảnh riêng, người đàn bà phân tích hoàn cảnh chung: Thực tế cuộc sống không ổn định như trên đất liền mà phải đối mặt với phong ba bão táp, biển động, sóng lớn, bởi vậy rất cần có một người đàn ông chèo chống cho gia đình. Nhưng lí do quan trọng nhất chính là tình yêu thương bao la bà dành cho những đứa con. Bà chấp nhận hi sinh hạnh phúc cá nhân, chấp nhận để chồng đánh đập tàn nhẫn cốt để đàn con gần chục đứa của bà được sống, được ăn no mà không bị chết đói. Nói đến đó “trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười khi nghĩ đến những niềm vui nhỏ bé mà gia đình bà từng có và đặc biệt khi nghĩ đến cảnh đàn con được ăn no”. Nguyễn Minh Châu đã làm toát lên vẻ đẹp của sự bao dung, vị tha, đức hi sinh và tình mẫu tử thiêng liêng trong tâm hồn của người đàn bà có vẻ ngoài xấu xí, quê mùa. Đồng thời bà cũng có cái nhìn bao dung với chồng, dù đó là kẻ vũ phu, sẵn sàng lôi bà ra để đánh đập mỗi khi hắn thấy khổ quá. Bà vẫn bào chữa cho chồng bằng cách nhắc lại quá khứ khi chồng bà còn là người nông dân hiền lành, chất phác. Bà thấu hiểu thói vũ phu này không phải là bản chất mà là sản phẩm của khó khăn, cơ cực dồn lên vai người đàn ông.

Vượt qua những lí do cụ thể của hoàn cảnh cá nhân, lí luận của người đàn bà đã đạt đến độ khái quát, triết lí. Bà ý thức rất rõ cái nghèo, cái khổ, lạc hậu trong cuộc sống của mình nhưng không từ bỏ nó bởi cuộc sống này tồn tại rất nhiều nghịch lí, không phải điều gì ta cũng có thể thay đổi, đôi khi người phải học cách chấp nhận và sống chung với nó.

Bằng một loạt các lí lẽ từ cụ thể đến khái quát, từ gắn với số phận riêng, hoàn cảnh riêng đến những lí do chung cho số phận người dân miềm biển người đàn bà thuyết phục hoàn toàn Phùng và Đẩu để cho đi từ ngạc nhiên đến lặng lẽ thở dài chấn nhận và đồng tình. Người đàn bà đã cho tháy ẩn đằng sau khuôn mặt xấu xí, thô kệch, sự lam lũ, ít học là một tâm hồn sâu sắc, giàu tình yêu thương, là vốn sống là sự trải nghiệm sắc sảo, bà đã khiến cho cả Phùng và Đẩu buộc phải nhận thức lại về con người và cuộc đời.

Bằng ngòi bút chân thực, sắc sảo Nguyễn Minh Châu đã lách sâu để khám phá những góc khuất, góc tối trong tầm hồn còn người. Người đàn bà hàng chìa hiện ra là hình ảnh đại diện cho những con người vô danh, nghèo khổ, lam lũ nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý khiến họ trở nên không hề nhỏ bé mà là hiện thân của những gì đẹp đẽ nhất.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 4

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 8

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn thường đưa những câu chuyện, trải nghiệm thực tế của bản thân vào những tác phẩm văn học của mình. Vì thế, những tác phẩm của ông thường mang đến cho người đọc những cảm giác rất gần gũi, thân quen và chân thật. Trong cuộc sống mưu sinh, bộn bề kiếm tìm hạnh phúc thực sự, ông đã viết nên tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”. Nổi bật trong câu chuyện là hình tượng nhân vật Phùng – một nghệ sĩ nhiếp ảnh luôn tôn thờ và tha thiết được sống cùng cái đẹp.

Trong thời chiến tranh, người lính luôn là đề tài truyền biết bao cảm hứng dành cho các thi sĩ, nhà văn. Đối với Nguyễn Minh Châu, ông lấy cảm hứng để xây dựng nhân vật Phùng đã từng là một người lính, giờ là một phóng viên ảnh luôn khao khát cái đẹp.

Mở đầu câu chuyện bằng một tình huống đầy bất ngờ. Theo chỉ thị của trưởng phòng, Phùng đã tới một vùng biển từng là chiến trường xưa của anh để chụp những bức ảnh cho tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển. Tại nơi đây, đã có biết bao cảm xúc tràn về, những kỉ niệm cùng cảnh đẹp của đất trời đã khiến cho tâm hồn anh bị choáng ngợp. Sau biết bao ngày suy nghĩ, kiếm tìm ý tưởng, đề tài, anh đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và hết sức vừa ý. Đôi mắt anh đã bắt gặp một khung cảnh tuyệt vời “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. … trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Anh cảm thấy tâm hồn mình trở nên mộng mơ, trong trẻo biết bao. Đã biết bao lâu rồi, anh không tìm được cái đẹp đến nhường nào.

Thế nhưng, từ sau chiếc thuyền ngoài xa ấy, anh đã thấy một đôi vợ chồng hàng chài, lão đàn ông với dáng hình cộc cằn thẳng tay đánh vợ chỉ để giải tỏa nỗi thống khổ uất ức của mình. Một người đàn bà xấu xí, héo mòn được che chở bởi thằng con trai của bà – thằng Phác. Ngay lập tức, anh đã “vứt chiếc máy ảnh xuống đất và chạy nhào tới”. Cái đẹp của cảnh vật chẳng thể che mờ những mảng tối của cuộc sống. Vẻ đẹp của Phùng càng được tỏa sáng nhờ tấm lòng nhân hậu, đầy lòng trắc ẩn. Câu chuyện chưa dừng lại ở đó, ba ngày hôm sau Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Với tính cách của người lính, những người đã từng đổ biết bao công sức mồ hôi, máu và nước mắt để bảo vệ đất nước, mong cho nhân dân có được cuộc sống hạnh phúc ấm êm thì khung cảnh này thật đi ngược với những mong ước, mục tiêu của các anh. Chính vì thế, Phùng đã “nện cho hắn một trận ra trò”. Anh cũng bị thương và được đưa về trạm y tế của tòa án huyện. Tại đây, người đàn bà nghèo khổ kia đã một mực van xin cho người chồng kia rằng “quý tòa đừng bắt con phải bỏ nó”. Khi con người ta phải chịu tù đày áp bức, tưởng rằng tự do sẽ là điều họ khao khát nhất. Thế nhưng, sau khi nghe câu chuyện của bà, Phùng và độc giả mới có thể hiểu được những uẩn khúc, lý do của những mảnh đời ấy.

Người đàn bà ấy luôn sẵn sàng chịu đựng khó khăn, đói nghèo vì chồng vì con. Với trách nhiệm là một người vợ, người mẹ đã truyền cho bà biết bao sức mạnh để đối diện với cuộc sống. Có những ngày “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng chưa bao giờ bà tìm cách trốn chạy. Bà biết dù bà có rũ bỏ tất cả thì cũng không thể dứt bỏ được mối dây liện hệ với những đứa con của bà. Bạo lực gia đình luôn là một vấn đề nhức nhối trong xã hội, con người ta cứ phải luẩn quẩn trong vòng vây của những mối quan hệ gia đình mà chẳng có cách nào thoát khỏi nó. Những tổn thương mà người phụ nữ và những đứa trẻ vô tội phải chịu đựng, được che lấp ẩn chứa sau cái đẹp mà Phùng đã nhìn thấy. Bỗng nhiên, anh ý thức được rằng: hạnh phúc vẫn luôn gắn liền với khổ đau, cái đẹp luôn tiềm ẩn cái ác, cái xấu.

Sống trong hoàn cảnh khó khăn, cơm áo gạo tiền, con người ta vẫn luôn mưu cầu hạnh phúc. Biết bao dự định, giá như người ta muốn thực hiện. Giá như “tôi đẻ ít và chúng tôi sắm được cái thuyền rộng hơn” của người phụ nữ ấy, giá như người đàn ông ấy có đầy đủ điều kiện để nuôi vợ chăm con của lão, có khi nào lão không trở thành một người như vậy. Có hàng vạn hàng nghìn lý lẽ mà người ta đưa ra để lý do giải thích cho cuộc đời họ, khi pháp luật nghiêm minh bảo vệ họ thì vẫn chẳng đủ để thay đổi được cuộc đời mà họ đã lựa chọn. Tác giả đã cho nhân vật Phùng được can thiệp, giúp đỡ những con người ấy nhưng họ từ chối. Phải chăng, con đường đấu tranh cho nhân quyền và thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ còn trở ngại, gian nan hơn cả cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.

Những trăn trở, suy nghĩ trong lòng Phùng chắc hẳn cũng chính là những dòng cảm nghĩ chung cho cả dân tộc. Li hôn liệu có thể giải quyết được những hậu quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Biết bao khó khăn, bão tố ngoài biển khơi cũng chẳng thể nào so sánh được với những chơi vơi, sóng gió của cuộc đời.

Chiếc thuyền ngoài xa qua lăng kính nghệ thuật của nhân vật Phùng, đã tô điểm nên cảnh đẹp của đất trời Việt Nam. Sâu xa trong những bức hình ảnh, những bi kịch, đắng cay vẫn đang ngày đêm diễn ra ở cuộc sống đời thường của những người lao động nghèo. Bằng tâm hồn của người lính, bằng lòng nhân hậu yêu trọng cái đẹp, hòa bình của người làm nghệ thuật, Phùng đã gắn kết những câu truyện, mảnh đời trong văn chương tới cuộc sống đời thực trở nên gần gũi, chân thật biết bao.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 4

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 7

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 4

Văn học hiện thực – lãng mạn 1930-1945 khá nổi bật với tuyến nhân vật tư tưởng Điền trong “Giăng sáng” hay Hộ trong “Đời thừa” của văn Nam Cao. Các nhân vật luôn có sự đấu tranh nội tâm để nhận thức và triết lí sống. Tôi khá bất ngờ khi một lần nữa bắt gặp tuyến nhân vật này trong văn học hiện đại thời kì Đổi mới. Đó là Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Nhân vật Phùng mang nhiều ý nghĩa về quan niệm nghệ thuật và triết lí nhân sinh của nhà văn.

Phùng là người nghệ sĩ tài năng, có lòng say mê với nghề và trách nhiệm với công việc của mình. Với nhiệm vụ của Trường phòng giao phó, Phùng quyết tâm chụp được những bức ảnh chất lượng nhất để hoàn thiện bộ lịch năm ấy. Sau nhiều ngày “phục kích” trên bãi biển cách Hà Nội 600km, Phùng phát hiện ra bức tranh thiên nhiên tựa “cảnh đắt trời cho”, “tuyệt mĩ và toàn bích”. Chỉ một người nghệ sĩ tài năng và nhạy cảm trước cảnh đẹp mới có thể nhận ra bức tranh như thế, một “bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”, “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng vào mặt bờ”… Phùng là người nghệ sĩ chân chính khi được khám phá và sáng tạo, khi được cảm nhận cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và cuộc đời. Phùng dường như được Nguyễn Minh Châu gắn cho sứ mệnh của người nghệ sĩ: phát hiện và mang lại cái đẹp đến với cuộc đời.

Phùng là người nghệ sĩ có tấm lòng bao dung, không chấp nhận sự bất công nhưng lại có cái nhìn quá đơn giản về cuộc sống. Chứng kiến cảnh tượng người đàn bà bước ra từ con thuyền ngư phủ và bị chồng đánh, Phùng liền vứt chiếc máy ảnh xuống đất để nhào tới bênh vực người đàn bà. Phùng không chịu thờ ơ trước cái bất công, trước nỗi đau của người khác. Phùng còn đề nghị chị ly hôn để tự giải thoát hoàn cảnh bản thân. Khi nghe lời giãi bày của người đàn bà ở toà án huyện đặc biệt là lời van xin khẩn thiết, Phùng không thể hiểu được, Phùng không lí giải được.

Chính điều này đã cho thấy Phùng là người có cái nhìn cuộc sống còn đơn giản, không hiểu được cái lí của con người phải sống cuộc đời trong vòng vây cái đói nghèo, không hiểu được tình thương đan cài với sự thù hận, giữa niềm vui với nỗi buồn. Phùng dường như dần vỡ lẽ: lòng tốt trong cuộc đời là thứ đáng quý nhưng chưa đủ, phải gắn nó với từng hoàn cảnh và mối quan hệ khác nhau.

Nguyễn Minh Châu là nhà văn thường xây dựng kiểu nhân vật tư tưởng tự nhận thức, nhân vật Phùng cũng thuộc tuyến nhân vật này. Phùng là người nghệ sĩ luôn có ý thức hoàn thiện nhân cách. “Xách máy đi lang thang đến tận khuya”, chi tiết này gián tiếp chứng tỏ nhận thức của Phùng đã thay đổi và anh ta để cho tâm hồn mình hòa vào một cảnh ít thi vị “trời bắt đầu nổi sóng”, “những mảng mây đen xếp ngổn ngang trên mặt biển đen ngòm”, “chiếc thuyền đang chống chọi với sóng giữa phá”… Người nghệ sĩ đã không còn chỉ tha thiết với thiên nhiên mỹ lệ mà còn biết hướng ống kính đến cuộc sống lam lũ, mưu sinh của con người, trăn trở với nỗi nhọc nhằn của cuộc sống cơ cực. Truyện kết thúc trong nỗi trăn trở của Phùng về hình ảnh người đàn bà cứ hiện ra sau mỗi lần anh nhìn bức ảnh chiếc thuyền ngoài xa. “Mãi mãi về sau”, cụm từ này nhấn mạnh người nghệ sĩ sẽ phải mãi đau đáu về một kiếp nhân sinh.

Tóm lại, thông qua nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu điển hình cho kiểu nhân vật tự nhận thức và mang thông điệp nhân đạo mới mẻ của nhà văn. Sau cùng, Phùng đã thay nhà văn tuyên ngôn: Nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, xuất phát và quay lại để phục vụ cuộc sống.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 1

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 7

Trong thể loại văn xuôi viết về người dân Việt Nam trước năm 1945 có rất nhiều tác phẩm để đời. Với cuộc sống cùng cực dưới ách thống trị của bọn chúa đất ở miền núi, chúng ta có “Vợ chồng A Phủ”, hay chủ nghĩa anh hùng đậm chất sử thi – “Rừng Xà nu”… Nhưng sau đó, năm 1986, xã hội có sự thay đổi, nước ta xóa bỏ bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường vì thế văn học cũng có bước chuyển mình. Đề tài thế sự và đạo đưc được các nhà văn xoáy sâu vào khai thác. Và “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm tiêu biểu cho thời kỳ ấy.

Được coi là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất”( Nguyên Hồng), Nguyễn Minh Châu- cây bút tiên phong của văn học Việt nam thời kỳ đổi mới đã có nhiều tác phẩm ấn tượng. Một trong những tác phẩm thành công của ông là “Chiếc thuyền ngoài xa”. Truyện ngắn được sáng tác năm 1983 đến năm 1987 in trong truyện ngắn cùng tên. Truyện ngắn tiêu biểu cho cảm hứng đời tư thế sự, tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học thời kì đổi mới. truyện ngắn có một tình huống truyện hết sức độc đáo. Tình huống ấy được thể hiện qua nhãn quan của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Nhân vật này được coi là nhân vật thể hiện triết lý cũng như quan điểm của tác giả, là phương tiện để tác giả mang suy nghĩ của mình đưa đến cho người đọc.

Tình huống truyện trong tác phẩm là tình huống nhận thức, một tình huống bất ngờ và đầy nghịch lý. Tình huống nhận thức này là được dành cho nhân vật Phùng. Phùng là nghệ sĩ nhiếp ảnh, theo yêu cầu của trưởng phòng, anh tới một vùng biển từng là chiến trường xưa của anh để chụp những bức ảnh cho tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển. Tại đây anh đã nhận thức được nhiều điều. Cảm xúc của nhân vật này qua những phát hiện của mình đã thể hiện nội tâm cũng như suy nghĩ của anh, giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp nơi con người này.

Trước hết, anh là người có tâm hồn nghệ sĩ.Sau mấy buổi sáng “phục kích”, anh đã chụp được “cảnh đắt trời cho”. Đó là cảnh ban mai vùng ven biển, với “mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Với tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đắm say, ca tụng cảnh đẹp như “bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”. Rồi anh cảm thấy tràn ngập niềm hạnh phúc”bối rối, tái tim như có gì đó bóp thắt vào”. Anh thấy được cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân- thiện-mĩ của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trở nên trong trẻo và thanh khiết. Từ đó, anh nhận thức “bản thân cái đẹp là đạo đức”. Bằng con mắt và tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đã đưa đến cho người đọc một quan niệm về cái đẹp. Đó chính là cái đẹp là phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái hoàn mĩ.

Không chỉ là người có tâm hồn nghệ sĩ, nhân vật Phùng còn là một người tốt bụng, có lòng đồng cảm với mọi người, mang những đức tính của một người chiến sĩ. Điều này được thể hiện qua phát hiện thứ hai của anh. Từ chiếc thuyền đẹp như ngư phủ kia, bước ra một cặp vợ chồng: người đàn bà xấu xí mỏi mệt, người đàn ông thô kệch dữ dằn. Họ là những con người hiện thân cho sự lam lũ, nhọc nhằn, nghèo khó của người dân hàng chài. Sẽ không có gì nếu cảnh tượng nghiệt ngã này không xảy ra trước mắt anh. Người chồng đánh đạp vợ một cách dã man, vừa đánh vừa chửi “mày chết đi cho ông nhờ”, “chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Người vợ thì cam chịu trận đòn, không hề phản kháng lại. Đứa con thương mẹ, xông vào đánh lại bố thì bị ăn hai cái tát. Một cảnh bạo lực gia đình diễn ra ngay trước mắt Phùng. Mặc dù đã chứng kiến biết bao cảnh đau thương trên chiến trường nhưng anh vẫn không khỏi kinh ngạc trước sự việc này. Nó hoàn toàn trái ngược với cảnh đẹp thơ mộng nơi đây. Với anh- một người đã trải qua bao nhiêu khó khăn, vượt qua thời kì khó khăn của chiến tranh, anh không thể để cảnh bạo hành này tiếp tục diễn ra. Anh đã nói chuyện này với chánh án Đẩu- bạn của anh. Anh mong muốn mình có thể giúp gì được cho người đàn bà nghèo khổ kia. Quả là một người chính nghĩa. Anh luôn đứng về lẽ phải, muốn bảo vệ lẽ phải và phê phán tố giác những điều xấu, điều ác.

Ngoài ra, nhân vật Phùng còn là người chịu thay đổi suy nghĩ cho phù hợp với hoàn cảnh, không bảo thủ, chấp nhận những cái sai của mình. Ngay từ ban đầu, khi chụp được “cảnh đắt trời cho”, anh đã cho rằng cái đẹp là đạo đức, có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Nhưng khi chứng kiến cảnh bạo hành bên chiếc xe tăng hỏng cùng với những tâm sự của người đàn bà hàng chài, anh đã nhận ra những điều mới. Anh nhận thức được là phải nhìn nhận mọi việc một cách toàn diện Triết lý mà Phùng nhận ra cũng chính là thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm. Nghệ thuật không chỉ bắt nguồn từ cuộc sống mà phải gắn liền với cuộc sống.

Nhân vật Phùng là nhân vật không thể thiếu trong tác phẩm này của Nguyễn Minh Châu. Anh vừa là nhân vật tạo tình huống, vừa là nhân vật gắn kết các sự kiện truyện với nhau, thể hiện thông điệp mà tác phẩm muốn gửi gắm. Là một người có tâm hồn chiến sĩ và nghệ sĩ, Phùng đã để lại nhiều ấn tượng tốt trong lòng người đọc.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 1

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 5

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 1

Nguyễn Minh Châu thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cùng với nhà văn Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu có những đống góp quan trọng đối với nền văn học kháng chiến chống Mỹ và nền văn học thời kì đầu đổi mới. “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này” (Nguyễn khải).

Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu. Đây là một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đời tư, thế sự của Nguyễn Minh Châu sau 1975. Tác phẩm thuộc kiểu truyện luận đề và nhân vật Phùng là người phát biểu các luận đề ấy. Qua nhân vật Phùng và các nhân vật khác nhà văn đề cập đến tính trung thực của người nghệ sĩ, nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và hiện thực cũng như những vấn để phức tạp của cuộc sống, kể cả bi kịch số phận con người.

Vốn là một người lính chiến đã từng vào sinh ra tử, Phùng căm ghét mọi sự áp bức bất công. Anh sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện và lẽ công bằng. Anh thực sự xúc động ngỡ ngàng trước trước vẻ đẹp mát mẻ tinh khôi của con thuyền và biển cả lúc bình minh. Đó là sự rung đông của người nghệ sĩ trước cái đẹp trên cuộc đời này và nó thúc đầy anh khao khát đi tìm. Phùng là con người nghệ sĩ có tài năng. Ở anh lại có một tâm hồn mơ mộng và luôn khát khao hướng tới một cái đẹp toàn bích, toàn thiện. Sự từng trải qua cuộc đời người lính càng khiến anh biết quý trọng cuộc sống và nâng niu từng vẻ đẹp mà anh có được. Anh tin rằng còn có những vẻ đẹp khác đang bị ẩn giấu, che khuất. Với trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính, anh phải đi tìm, phát hiện và làm cho nó tỏa sáng.

Bắt gặp cuộc sống của một gia đình làng chài tưởng chừng như bình yên mà lại vô cùng khốc liệt khiến anh vô cùng sửng sốt. Một con người nhạy cảm như Phùng làm sao tránh khỏi nỗi tức giận khi phát hiện đằng sau cảnh đẹp của chiếc thuyền ngoài xa là sự bạo hành của cái xấu, cái ác. Mới đầu, chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ và người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng, Phùng hết sức “kinh ngạc”. Anh “há mồm ra mà nhìn”. Rồi như một phản xạ tự nhiên, anh “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”.

Hành động ấy đã nói lên được rất nhiều điều đáng để suy ngẫm. Thứ nhất, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa. Nó đang ở một khoảng cách đủ để tạo nên một vẻ đẹp huyền ảo. Nhưng sự thật cuộc đời thì lại ở rất gần. Thứ hai, đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời. Bởi lẽ, nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. “Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp hãy là một con biết yêu ghét vui buồn tức trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người”(Trăng sáng – Nam Cao).

Nguyễn Minh Châu đã không có tạo nên những mảnh đời đối lập. Song, cứ tự nhiên, cuộc đời lại vẽ lên những bức tranh màu đầy ảm đạm. Cuộc sống của gia đình trên con thuyền chật hẹp cứ từng lớp, từng lớp được phơi bày trước mắt Phùng. Anh đi từ trạng thái này đến trạng thái khác, vừa hân hoan, vừa hết sức đau thương, vừa mãn nguyện vừa xung đột mãnh liệt. Nam Cao cũng đã từng khắc họa hình ảnh người nghệ sĩ trong điểm nhìn nghệ thuật đầy xung đột. Điền là một nhà văn, nhà giáo nghèo. Mặc dù cuộc sống vất vả, khó khăn nhưng tâm hồn Điền lại đẫm thơ văn lãng mạn. Những đêm trăng sáng, Điền ngắm trăng và mơ mộng một cuộc sống khác, đối lập với cuộc sống hiện tại của Điền. “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than” (Trăng sáng – Nam Cao).

Đằng sau mỗi vẻ đẹp trắng lệ luôn ẩn giấu một nỗi đau nào đó của trần thế. Điều quan trọng là người nghệ sĩ có nhìn thấy hoặc dám nhìn thẳng vào nó để phản ảnh hay không. Đó là thử thách lớn đối với cả Điềm và Phùng khi họ bất ngờ bị đặt vào tình thế gây cấn để phản ngộ. Điều mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng “ngộ” ra khi chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo chính là tình người ẩn sâu trong trái tim đầy đau khổ của người đàn bà kia. Nếu quan sát từ “ngoài xa” thì khung cảnh con thuyền và mặt biển mờ sương thật đẹp, thật mơ mộng. Thậm chí nó đạt đến sự “toàn bích’’, hiếm khi được may mắn bắt gặp. Nhưng khi tới gần, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng mới nhận ra đằng sau khung cảnh đẹp ấy chứa bao nghịch cảnh đau lòng. Người chồng đánh vợ một cách tàn nhẫn. Đứa con trai thì cầm dao xong vào bố. Cuộc sống ấy đối vói người đàn bà chẳng khác gì địa ngục thế nhưng không thể rời bỏ được, ….

Như vậy, giữa nghệ thuật và cuộc đời có một khoảng cách quá xa khiến người nghệ sĩ có sự ngộ nhận. Phải chăng qua tình huống này, nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi tới người đọc một thông điệp sâu sắc. Để phản ảnh đúng về bản chất của cuộc sống, con người. Người nghệ sĩ đích thực không thể đứng ngoài xa để quan sát mà phải sống gắn bó với hiện thực đời sống, phải nhìn nhận sự vật một cách đầy đủ, toàn diện. Mặt khác, muốn có được một bức ảnh nghệ thuật đẹp theo đúng nghĩa của nó thì trước hết phải làm cho cuộc sống đẹp đẽ, mới mẽ với những con người có tâm hồn trong sáng, tinh khôi.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 9

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 5

Các nhân vật trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu thường là người chuyên chở tư tưởng, quan điểm của tác giả về nghệ thuật và cuộc đời. Phùng trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là một nhân vật như vậy. Thông qua nhân vật này tác giả thể hiện rõ những quan niệm của mình về nghệ thuật cũng như cách nhìn cuộc sống của ông.

Trước hết, Phùng thể hiện quan điểm về nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Trước hết anh là một người yêu nghề và có trách nhiệm với công việc được giao. Ngay sau khi được thủ trưởng yêu cầu chụp một bức ảnh để hoàn thiện bộ lịch năm nay, Phùng không ngần ngại mà mang máy ảnh của mình lên đường ngay. Anh trở về chiến trường xưa, một làng chài ven biển, mong có thể tìm được một bức ảnh ưng ý. Cả một tuần lễ, anh miệt mài tìm kiếm để tìm cho ra bức tranh trời cho. Anh muốn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mình được giao.

Không chỉ vậy, Phùng còn là một người nghệ sĩ tài năng. Trời không phụ lòng người, sau cả một tuần lễ miệt mài tìm kiếm cuối cùng cái khoảnh khắc trời cho ấy cũng đến với anh. Bức tranh tuyệt mĩ hiện ra trước mắt Phùng: “thuyền in một nét mơ hồn lòe nhòe vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Và bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi…”. Không chần chừ thêm một giây phút nào, Phùng giơ máy ảnh lên bấm liên thanh. Bức tranh là sự hòa quyện tuyệt vời giữa đường nét và ánh sáng. Bức tranh đó đã làm Phùng thỏa mãn, bức tranh tuyệt mĩ, như mực tàu đó chính là điều người nghệ sĩ đang tìm kiếm bấy lâu nay.

Không chỉ là một người nghệ sĩ tài năng, mà Phùng còn là người biết rung cảm trước cái đẹp. Trước bức tranh tuyệt mĩ đó, Phùng đã thực sự bị làm cho rung động, và anh liên tưởng đến câu nói “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Và trong giây phút đó, anh tưởng như “mình vừa khám phá thấy cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn”. Anh cảm thấy hân hoan hạnh phúc không chỉ bởi đã hoàn thành công việc được giao, mà cao hơn chính là anh đã dùng trọn vẹn tâm hồn mình để khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp giữa thiên nhiên và cuộc đời. Đó là vẻ đẹp trong sáng, thánh thiện đến vô ngần. Vẻ đẹp đó khiến cho tâm hồn Phùng được gột rửa, thanh lọc trở nên đẹp đẽ hơn.

Với bức ảnh chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm đến bạn đọc một thông điệp nghệ thuật quan trọng. Nghệ thuật luôn bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cuộc sống. Người nghệ sĩ phải lao động nghiêm túc, miệt mài và không ngừng sáng tạo mới có thể tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị.

Không chỉ phản ánh quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, Phùng còn thể hiện cái nhìn về cuộc sống của nhà văn. Sau bức tranh tuyệt mĩ kia điều Phùng nhìn thấy chính là khung cảnh vô cùng tàn nhẫn, người chồng lặng lẽ dùng dây lưng đánh túi bụi vào người phụ nữ cao lớn, mặt rỗ. Chị lặng im không hề phản kháng. Đằng sau cái đẹp toàn thiện, toàn bích kia lại có một khung cảnh hiện thực đến đau lòng. Điều đó làm cho Phùng không khỏi bất ngờ, choáng váng. Anh nhanh chóng, vứt chiếc máy ảnh – điều quan trọng nhất đối với một nhiếp ảnh gia, đến để cứu người phụ nữ kia. Nhưng chưa kịp ra đến nơi, anh đã thấy thằng Phác xông ra che chở cho người mẹ.

Không chỉ chứng kiến bạo hành trong một lần, mà Phùng còn lần thứ hai chứng kiến người chồng ra tay đánh đập dã man người vợ. Người đàn bà vẫn nhẫn nhục chịu đánh, không một lời kêu than, oánh trách. Lần này anh không ngạc nhiên như lần đầu, hành động mau lẹ và quyết liệt hơn, anh xông thẳng vào can ngăn, để chấm dứt hành động tội ác của người chồng. Đồng thời anh cũng nhận ra rằng, đằng sau bức tranh tuyệt mĩ ấy vẫn còn tồn tại cái xấu, cái ác và bi kịch.

Ngoài ra, Phùng còn là người luôn có ý thức để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Là người nhìn ra bức tranh với vẻ đẹp toàn bích, lại cũng là người chứng kiến cảnh bạo hành, rồi được nghe người đàn bà tâm sự, Phùng nhận thức được nhiều điều trong cuộc sống. Thì ra đằng sau bức tranh danh họa đó là biết bao thân phận éo le, bước ra khỏi chiến tranh họ chật vật, khổ sở để mưu sinh. Phùng càng hiểu hơn người đàn bà kia, đằng sau sự xấu xí lại là một tâm hồn thánh thiện, một tình mẫu tư thiêng liêng. Vì con người phụ nữ ấy sẵn sàng hi sinh bản thân mình. Quá trình tự nhận thức đó chính là quá trình Phùng không ngừng hoàn thiện nhân cách của chính mình.

Trong cuộc sống luôn tồn tại những xấu tốt đúng sai, đôi khi không thể phân định rạch ròi. Mỗi chúng ta khi nhìn nhận bất cứ vấn đề gì cũng cần có cái nhì đa chiều, để phát hiện đúng bản chất của cuộc sống đa chiều. Qua nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu đã truyền tải những thông điệp ý nghĩa về con người và nghệ thuật. Những thông điệp đó có giá trị nhân đạo sâu sắc. Đối với nghệ thuật, người nghệ sĩ phải không ngừng sáng tạo, tu dưỡng. Đối với cuộc sống đa đoan, phức tạp phải nhìn nhận kĩ lưỡng, nhiều chiều để đưa ra những nhận xét đúng đắn nhất.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 6

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 9

Nguyễn Minh Châu với tác phẩm tiêu biểu cho cả phong cách lẫn nghệ thuật là Chiếc thuyền ngoài xa”là thuộc trong số những nhà văn mở đường tài năng, tinh anh nhất cho văn học nước ta hiện nay. Quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường đã được thể hiện rõ ở. “Chiếc thuyền ngoài xa”. Ở tác phẩm này ông thật sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và Phùng là một nhân vật như thế.

Trong tác phẩm này, nhân vật Phùng là một người quý trọng và say mê nghề nghiệp nhiếp ảnh của mình, anh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Chính vì muốn tìm tới những điều mới lạ và đẹp đẽ cho nên Phùng đã tìm về vùng ven biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Để có được những khoảnh khắc và bức hình ăn ý, Phùng đã bỏ ra thời gian là một tuần lễ suy nghĩ tìm kiếm, phục kích mới chụp được một bức ảnh ưng ý, một cảnh đắt trời cho.

Phùng còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn người nghệ sĩ trở nên khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”. Là người yêu cái đẹp khi mà được chứng kiến được chạm vào vẻ đẹp ấy thì quả là một điều tuyệt vời khó có thể diễn tả nổi.

Trong tác phẩm này, anh không chỉ là người yêu cái đẹp mà thờ ơ với mọi thứ mà còn là người căm ghét áp bức bất công, dám đối diện với cái ác và hành động chống lại cái ác. Sau phút ngỡ ngàng thấy cái ác, diễn ra ngay trước mắt, Phùng đã phản xạ một cách tự nhiên như một người yêu sự công bằng. Anh vội vàng vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy đến ngăn cản người đàn ông vũ phu. Là người từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người. Anh vẫn giữ quan điểm từ thời chiến tranh “cái xấu ắt là từ phía địch”, vì thế anh đã ngộ nhận “gã đàn ông vũ phu kia hẳn là từng đi lính ngụy”, rồi đặt ra một câu hỏi “ lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?”, Anh cho rằng hành động của anh là hành động của một người anh hùng “tôi nện hắn ta bằng tay không nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay của một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay của một người lính đã từng mười năm cầm súng”..

Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã giúp Phùng hiểu ra nhiều điều. Lúc đầu anh phẫn nộ sau đó lại cảm thông chua xót cho số phận của người đàn bà. Bỗng nhiên Phùng hiểu ra đằng sau vẻ đẹp lãng mạn của chiếc thuyền là sự thật đầy tăm tối, gai góc của cuộc đời. Cuộc sống luôn chứa đựng những mặt sần sùi không phải khi nào cũng là màu hồng. Người đàn ông độc ác kia cũng chỉ là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, người đàn bà thô kệch, xấu xí đầy cam chịu ấy chính là người hiểu sâu sắc lẽ đời. Đồng thời ai cũng nhận ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, Nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống mà phải chính là cuộc sống, gắn bó mật thiết với cuộc sống.

Sau khi khắc họa và tạo tình huống cho truyện, Phùng nổi bật với tấm lòng âu lo, trắc ẩn về con người. Khi nhiệm vụ đã hoàn thành anh đã khoác chiếc máy ảnh đi lang thang tới tận khuya để suy ngẫm. Phùng nhìn thấy một chiếc thuyền lưới vó đang đậu giữa phá trong cơn gió bão cấp 11. Đó chính là biểu tượng của tấm lòng âu lo, trăn trở của Phùng về cuộc sống nhân sinh, cũng chính về tấm lòng đó mà Phùng luôn nhìn thấy người đàn bà lam lũ bước ra từ bức tranh hoàn toàn tĩnh vật.Là người luôn luôn khát khao bùng cháy tìm tới và khát khao cái đẹp, nhưng anh không về thế mà quay lưng lại với sự thật cuộc đời cho dù sự thật ấy phũ phàng, trần trụi. Điều đáng quý nhất ở Phùng là tấm lòng dành cho con người trong cuộc sống, cái nhìn của anh về người đàn bà hàng chài, chị em thằng Phát vì thế thấm thía niềm cảm thông trân trọng. Những tưởng câu chuyện chỉ có bề nổi như vậy nhưng đằng sau ấy là cả một dụng ý của tác giả, cũng ẩn ý cho cách nhìn đời nhìn người một cách khác biệt sâu sắc.

Đọc truyện ngắn, Phùng hiện ra cùng với những nét đẹp của một nghệ sĩ đam mê cái đẹp, yêu tha thiết sự công bằng. Qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện, anh nhận ra được nhiều điều về hiện thực cuộc sống và từ đó có những phát hiện mới mẻ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Cuộc đời và nghệ thuật có mối quan hệ gần gũi với nhau không tách rời nhau.

Bài văn phân tích nhân vật Phùng số 6

Những bài học nhận thức của nhân vật Phùng cũng chính là những bài học của độc giả, thông qua đây, người đọc có thể hiểu hơn về nhân vật này và về những triết lí mà tác giả muốn gửi gắm trong câu chuyện. Đồng thời người đọc cũng học tập được nhiều điều từ nhân vật Phùng đó là tình cảm, sự quan tâm đối với những người xung quanh và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Đăng bởi: Trần Mạnh Duy

Từ khoá: 10 Bài văn phân tích nhân vật Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Nhân Vật Cụ Mết Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 12

Dàn ý chi tiết phân tích nhân vật cụ Mết

I. Mở bài

– Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên, với nhiều tác phẩm đặc sắc.

– Rừng xà nu là khúc sử thi văn xuôi hiện đại tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, con người và truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

– Một trong những nhân vật mang đậm chất sử thi là cụ Mết.

II. Thân bài

– Ngoại hình:

+ Quắc thước: “râu dài đến ngực mà vẫn đen bóng”, “vết sẹo ở má phải láng bóng”, cụ là người đã trải qua nhiều thăng trầm

+ “bàn tay nặng trịch như kìm sắt”, “ngực căng như một cây xà nu lớn”, …mang dáng dấp của anh hùng trong sử thi Tây Nguyên.

– Cụ là người quắc thước và nghiêm nghị:

+ Giọng nói “ồ ồ dội vang trong lồng ngực ”: vừa thể hiện sức mạnh thể chất vừa thể hiện sức mạnh quyền uy của người chỉ huy.

+ Mỗi câu nói như một chân lí “không có gì mạnh bằng cây xà nu trên đất ta”, “cán bộ là Đảng, Đản còn, núi nước này còn”, “chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo”.

– Cụ Mết có tình yêu quê hương sâu sắc

+ Dẫn Tnú ra máng nước đầu làng gội rửa, để nhắc nhở những ai đi xa nhớ về ngườn cội, quê hương.

+ Tự hào về tất cả mọi thứ trên quê hương: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”.

+ Vì muốn bảo vệ quê hương nên luôn tìm hướng đi đúng đắn cho buôn làng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”.

– Là người giàu tình yêu tình yêu thương:

+ Hết lòng thương yêu và tin tưởng Tnú – chàng trai trẻ có số phận bi tráng: nồng hậu đón Tnú trở về, xót thương khi nhìn những ngón tay còn hai đốt của Tnú, luôn động viên anh: “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”

+ Xúc động khi kể lại cho dân làng nghe câu chuyện của Tnú, cụ “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt”

+ Nhận được muối, dù ít ỏi cụ vẫn chia đều cho mọi người trong buôn làng.

– Cụ Mết là người biết nhìn xa trông rộng: dự trữ lương thực đủ ăn để đánh giặc, biết rõ được sức mạnh chưa đủ khi chưa có vũ khí nên không liều mạng xông ra cứu Tnú,…

– Cụ chính là người chỉ đường dẫn lối. Là chỗ dựa tinh thần cho dân làng.

– Nhận xét: Cụ Mết là biểu tượng thế hệ anh hùng đi trước, hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, hội tụ vẻ đẹp con người Tây Nguyên, mang dáng vẻ của người anh hùng với sức mạnh phi thường trong sử thi.

III. Kết bài

– Nêu cảm nhận của bản thân về hình ảnh cụ Mết.

– Khái quát nghệ thuật: với kết cấu truyện lồng trong truyện, đầu cuối tương ứng đặc sắc, ngôn ngữ đậm chất sử thi, nhưng cũng mộc mạc giản dị, xây dựng hình tượng, …

– Thông qua câu chuyện của dân làng Xô Man, tác giả đã đặt ra vấn đề có ý nghĩ lớn lao với dân tộc: Để cho sự sống của đất nước và nhân mãi trường tồn thì không có cách nào hơn là đoàn kết đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù.

Cảm nhận về nhân vật cụ Mết – Mẫu 1

Nguyễn Trung Thành là nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại. Tác phẩm của ông gắn liền với con người và vùng đất Tây Nguyên. “Rừng Xà nu” là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông viết về con người và vùng đất Tây Nguyên được sáng tác vào năm 1965 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Qua truyện ngắn ta thấy được sự anh hùng quả cảm của người dân Tây Nguyên. Cụ Mết là trưởng bản của dân làng Xôman. Tuy không xuất hiện ở đầu tác phẩm nhưng mỗi lần xuất hiện đều toát lên vẻ oai hùng, sự quả cảm của người cầm đầu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Ngay từ khi xuất hiện ấn tượng mạnh mẽ của người già làng đó là hình ảnh bàn tay trắc nịch nắm chặt lấy tay Tnú Như một cái kìm. Ông cụ với khuôn mặt quắc thước râu dài tới ngực. Những vết sẹo trên người láng bóng, ngực căng lên như những cây xà nu đang đứng hiên ngang trước gió bão. Từ những chi tiết đó ta phần nào hình dung ra một người cường tráng, khỏe mạnh, oai hùng. Một con người từng trải, kiên cường và không sợ bất cứ thứ gì.

Nhân vật cụ Mết hiện lên với nét tính cách cá biệt. Giọng nói của ông được tác giả miêu tả ồ ồ vang cả núi rừng Tây Nguyên. Giọng nói như sấm truyền, ngôn ngữ giản dị, dứt khoát thể hiện được sự quyết đoán của người đứng đầu. Tiếng nói ấy vang lên khi hô hào người dân Xô man đứng lên nổi dậy đấu tranh, tha thiết nghiêm trang khi nhắc nhở con cháu người dân làng Xô man:” Nghe rõ chưa? Nhớ lấy! Ghi lấy” Mỗi lần giao việc cho ai, cụ không bao giờ khen mà chỉ nói “Được” để động viên khích lệ, không ngừng cố gắng. Nhưng mỗi lần cụ nói đều chắc nịch thể hiện mệnh lệnh.

Không chỉ là người tù trưởng tài ba, kiên cường, cụ Mết còn là người con yêu thương quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương. Khi Tnú trở về, cụ dẫn ra đầu làng để dội rửa nhắc nhở luôn phải nhớ về quê hương. Cụ luôn tâm niệm nhắc nhở con cháu: “Đảng còn, núi nước này còn” một lòng kiên trung với cách mạng với Đảng và nhà nước. Tình yêu đó cũng chính xuất phát từ tình yêu quê hương.

Vẻ ngoài quắc thước nghiêm nghị nhưng sâu trong con người đó lại là tình yêu thương con người, yêu thương đồng bào. Tnú trở về sau 3 năm xa quê hương, cụ đã chào đón nồng nhiệt, tạo cho Tnu cảm giác như trở về với gia đình. Kể cho dân làng nghe về câu chuyện gia đình Tnú mà cụ không kìm nổi tiếc thương xúc động. chính hành động, cử chỉ nhỏ ấy đã cho thấy được tấm lòng bao la nhân hậu của cụ Mết.

Trong vai trò của một người già làng thời đánh Mỹ, cụ Mết hiện lên là một cây xà nu lớn vững chãi là chỗ dựa tinh thần cho dân làng, đồng bào Xô man. Cụ luôn trung thành với Đảng, một lòng kiên trung theo cách mạng. Không những thế, cụ Mết còn là người có tầm nhìn xa trông rộng, biết chăm lo cho cuộc chiến đấu chung của dân làng. Luôn giữ được sự tỉnh táo, sáng suốt, đưa ra những đường lối đấu tranh đúng đắn cho dân làng. Với trí tuệ sắc sảo của một người đứng đầu cụ Mết không chỉ gợi nhớ lại sự kiện đau thương, chiến thắng oanh liệt một thời mà còn khẳng định một chân lí đúng đắn: “Chúng nó đã cầm súng thì chúng ta phải cầm giáo”.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu”, cụ Mết hiện lên là một già làng, tộc trưởng vô cùng oai hùng. Cụ Mết chính là linh hồn của người dân Xô man đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh thắng lợi, đi theo con đường cách mạng đúng đắn. Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện không nhiều nhưng đã lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc, một vị anh hùng truyền lửa tựa như cây xà nu hiên ngang trước giông bão cuộc đời.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 2

Ta có thể nhận thấy rằng ngay khi vừa xuất hiện, ấn tượng về một vị già làng mạnh mẽ đã thể hiện trong chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”. Tác giả Nguyễn Trung Thành như đã vẽ những nét vẽ ngoại hình về một cụ già “quắc thước … mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng … ngực căng như một cây xà nu lớn” . Và những câu văn như đã khắc họa hình ảnh của một già làng sắc sảo, kiến nghị, vững chãi qua đó nói lên được vẻ tiềm tàng sức mạnh thể chất, tràn trề uy lực tinh thần, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ với cộng đồng.

Và dường như ở hầu như nét miêu tả nào ở cụ Mết cũng có tính cá biệt. Qua chính những cách nói như ra lệnh, ngôn ngữ giản dị mà dứt khoát thể hiện sự quyết đoán của những người đứng đầu. Hay cả những việc cụ không bao giờ khen, khi vừa ý nhất cũng chỉ nói “được” là tính cách của những người luôn yêu cầu cao ở người khác cũng như ở chính mình. Có thể thấy đặc biệt ấn tượng ở cụ Mết mà người đọc có thể nhận thấy đó chính là giọng nói, đó là “tiếng nói ồ ồ đội vàng trong lồng ngực”, tiếng nói ấy hoặc “vang” khi hô hào dân làng Xô Man nổi dậy đánh giặc hoặc “trầm và nặng” như tiếng vọng của núi rừng. Và đó chính như lời phán truyền của quá khứ khi kể chuyện về cuộc đời Tnú, về lịch sử oanh liệt của làng, tiếng nói ấy tha thiết trang nghiêm khi nhắc nhở dân làng và con cháu: “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy!…”

Hình ảnh cụ Mết được hiện lên là người có tình yêu sâu sắc, sự gắn bó máu thịt với quê hương

Khi mag nhân vật Tnú đi xa về, cụ đã dẫn anh ra máng nước đầu làng dội rửa, bằng việc ấy, cụ như muốn nhắc nhở người con xa quê. Và cho dù có đi tới phương trời nào cũng phải ghi nhớ và trân trọng nguồn cội thiêng liêng của quê hương. Nói chuyện với Tnú thì dường như ở cụ luôn tự hào khẳng định bằng cách nói tuyệt đối, cũng có thể có phần hơi cực đoan, thái quá, cách nói quen thuộc của lòng yêu: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta” và câu “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Dường như đối với cụ Mết, quê hương hiện lên thật đẹp đẽ và lớn lao, thiêng liêng và thân thuộc. Đó chính là hình ảnh dòng nước trong nguồn, hạt gạo trên nương cho tới những cánh rừng xà nu bạt ngàn, mạnh mẽ và cường tráng biết bao nhiêu

Và ta như thấy ở cụ Mết luôn luôn tâm niệm và dặn dò con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Như vậy, người đọc cũng có thể thấy tấm lòng trung thành với Đảng và cách mạng của cụ Mết cũng xuất phát từ tình yêu sâu sắc với rừng núi quê hương. Và như chính như bên trong con người có vẻ ngoài quắc thước, nghiêm nghị ấy lại là một trái tim trĩu nặng tình thương yêu đối với dân làng

Nhất là khi Tnú trở về thăm làng sau ba năm đi lực lượng, cụ Mết đã đón anh bằng tấm lòng yêu thương nồng hậu của một người cha, và cụ Mết đã quyết định anh ở nhà cụ trong đêm về làng, động viên khích lệ anh rằng “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”. Chính chi tiết này ta như có thể thấy được cụ Mết dường như đã đem đến cho Tnú- một người con bất hạnh của dân làng Xô Man thấy được một cảm giác ấm áp của gia đình khi trở về làng. Và khi ngồi ăn cơm với Tnú, nhìn hai bàn tay cụt đốt của anh, “ông cụ đặt chén cơm xuống giận dữ”, đó chính là một trong những biểu hiện sâu sắc nhất của nỗi đau đớn xót thương cho Tnú. Và dường như những nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo không thể nguôi ngoai. Và việc khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú,mặc dù câu chuyện đã xảy ra tới ba năm nhưng dường như ở cụ cũng không kìm nổi sự tiếc thương vô hạn và đau đớn và xúc động, cụ Mết thật “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt” như muốn che giấu lòng mình vậy. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộ trái tim nhân hậu và tình yêu sâu sắc của cụ với dân làng.

Và khi nhận được gói muối quý giá từ những người đi xa về cụ Mết đã luôn luôn chia đều cho các bếp trong làng, để dành cho những người đau ốm. Đó chính là vị mặn của những hạt muối nhỏ bé cũng là vị mặn đậm đà của tình yêu thương trong trái tim người già làng.

Có thể thấy được trong vai trò của một già làng thời đánh Mỹ, cụ Mết kiên cường, vững chãi như một cây xà nu lớn. Và hình ảnh cụ Mết chính là chỗ dựa tin cậy của dân làng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ với dân làng. Và hình ảnh cụ Mết lại luôn luôn giữ cho mình tình yêu, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng. Câu nói nổi tiếng và chất chứa tình cảm của cụ với Đảng là “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”

Có thể nhận thấy ở trong làng, cụ cũng là người đứng đầu biết nhìn xa trông rộng, biết lo cho cuộc chiến đấu chung của dân làng. Cụ cũng như đã ân cần và động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh Mỹ phải đánh dài”. Qua nhân vật cụ Mết dường như cũng đã thể hiện vai trò của một già làng tỉnh táo, sáng suốt để có thể kiềm chế nổi những đau đớn và căm hờn ngay trong giây phút khốc liệt nhất,và quan trọng hơn nữa là đã tìm ra con đường đúng đắn nhất lãnh đạo dân làng nổi dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù. Có thể thấy được trước cái chết của vợ con Tnú, trước cảnh Tnú bị bắt trói, tra tấn dã man kai thì cụ Mết đau đớn nhưng tỉnh táo, không để tình cảm chi phối. Cụ Mết dường như cũng đã nhắc đi nhắc lại: “Tao cũng chỉ có hai bàn tay không. Tao quay vào rừng… tìm bọn thanh niên… tìm giáo mác”. Có thể thấy chính lý trí sáng suốt cần thiết của một già làng, một người đứng đầu, và cụ còn là người chịu trách nhiệm với sự sống còn của cả cộng đồng đã giúp cụ Mết cùng với dân làng chiến đấu và chiến thắng quân giặc tàn bạo.

Cùng với những sự trí tuệ sắc sảo của một người đứng đầu, cụ Mết không chỉ nhắc tới sự kiện đau thương và chiến thắng oanh liệt của dân làng trong đêm ấy như một kỷ niệm. Ở cụ đã khái quát, dường như cũng đã đúc kết và khắc sâu quy luật tất yếu của cuộc chiến tranh cách mạng là“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Có lẽ chân lý ấy đã được rút ra từ chính những trang sử đầy máu và nước mắt của làng Xô Man, thông qua giọng kể “trầm và nặng” của già làng là cụ Mết. Chắc chắn nó sẽ trở thành lời phán truyền thiêng liêng của lịch sử cho các thế hệ con cháu.

Cụ Mết chính là một hình tượng nhân vật đẹp gợi nhớ hình ảnh những già làng, tộc trưởng trong sử thi, thần thoại, truyền thuyết, và dường như có cả trong những bản trường ca Tây Nguyên xưa. Sử dụng bút pháp miêu tả đặc sắc của nhà văn Nguyễn Trung Thành đã cùng sự chi phối của khuynh hướng sử thi trong nền cảm hứng chung của văn học giai đoạn 1945 – 1975 dường như ta như cũng đã khiến chó nhân vật không chỉ hiện lên với những phẩm chất ưu tú của cộng đồng mà còn là nhân vật có cá tính riêng đặc sắc. Và cũng chỉ qua việc thông qua nhân vật cụ Mết, Nguyễn Trung Thành đã ca ngợi lòng yêu nước, ca ngợi những người anh hùng và cả tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong thời đánh Mỹ. Và lớn hơn đó cũng đồng thời khái quát chân lý lịch sử lớn lao của thời đại, lý giải sâu sắc cũng như rất thuyết phục con đường giải phóng nhân dân, đất nước.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 3

Mỗi mảnh đất trong cuộc kháng chiến của dân tộc đều gắn liền với hình ảnh riêng của mỗi nhà văn. Nếu như nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với mảnh đất miền Nam ruột thịt, thì Tây Nguyên là nơi ghi dấu nhiều kỉ niệm, nhiều hình ảnh đẹp trong ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Tiêu biểu cho các sáng tác đó là tác phẩm Rừng xà nu(1965) được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, tác phẩm là sự ghi dấu về hiện thực của nhân dân đồng bào Tây Nguyên anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mĩ, cuộc chiến không chỉ là của riêng thế hệ trẻ dân làng Xô-man Tnú, Rít, Mai, bé Heng… Mà còn là sự lãnh đạo của người đứng đầu làng là Cụ Mết. Một hình tượng của cây xà nu đại thụ – một biểu tượng chung cho sức mạnh và sự bền bỉ trong chiến tranh và là biểu tượng linh hồn riêng của làng Xô-man.

Cụ Mết không xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm nhưng sự xuất hiện của cụ qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành cũng thực sự để lại những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. “Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt… Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng!.. ngực căng như một cây xà nu lớn…” Nhà văn đã tập chung miêu tả ngoại hình từ ngay những dòng văn đầu tiên nói về cụ. Qua đó cụ Mết hiện lên với một thân hình khỏe mạnh, hùng tráng; bộ râu dài tới ngực mà vẫn đen bóng cho thấy cụ mang dáng dấp đúng của một người già làng; đôi mắt sáng xếch ngược hiện lên một con người có trí tuệ tinh nhanh và uy cường. Với chút miêu tả đó nhà văn cũng đã phần nào chứng tỏ được Cụ Mết là sức mạnh của núi rừng Tây Nguyên. Nhưng không chỉ dừng lại đó nhà văn còn miêu tả về giọng nói của cụ Mết với một giọng nói “ồ ồ, dội vang trong lồng ngực” không chỉ minh chứng cho sức ngân vang của cụ mà còn khẳng định sự lãnh đạo và chỉ huy được đám đông làng Xô-man. Cách nói của cụ như ra lệnh; không bao giờ cụ khen tốt hay giỏi nếu vừa ý thì nói “Được!”. Mệnh lệnh chiến đấu phát ra chắc nịch đó được thể hiện trong đêm Tnú bị giặc đốt mười ngón tay, “Chém! Chém hết!” của cụ như tiếng sấm bên tai không chỉ thúc giục tinh thần trong mỗi người xông lên cứu Tnú, mà còn phần nào đã khiến cho bọn thằng Dục bị đòn bất ngờ và có phần khiếp sợ. Nhưng giọng nói cụ Mết cũng thật đầm ấm, trang nghiêm, linh thiêng như một huyền thoại – đó là khi cụ Mết kể về câu chuyện của Tnú cho dân làng Xô-man. Mọi người vây quanh đống lửa trong không gian của nhà ưng và nghe cụ kể về Tnú với “tiếng nói rất trầm”. Qua đó, bạn đọc có thể thấy cụ Mết hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh dân tộc của các đồng bào vùng Tây Nguyên, là niềm tự hào của cộng đồng dân làng Xô-Man. Giọng nói của cụ như là tiếng của cội nguồn,của núi rừng, của lịch sử, lời nói của cụ là sấm truyền sử thi, đó còn như những phán quyết của lịch sử, là sức mạnh hào hùng của thời đại.

Trong mối quan hệ với Đảng và Cách mạng, cụ Mết càng là sợi dây gắn kết dân làng với lí tưởng, chỉ dẫn của Đảng, bởi cụ luôn có niềm tin sâu sắc vào những đường lối của Đảng, tinh thần này càng được giáo dục một cách nghiêm khắc cho đám đông làng Xô-man để khắc cốt ghi tâm. Đã có lần cụ từng khẳng định niềm tin ấy: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn.” Nhưng quan trọng hơn là cụ Mết đã đưa chân lí đó vào thực tiễn của cuộc đấu tranh chống bọn đế quốc Mĩ bằng những chân lí thật giản dị: “Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống kể lại cho con cháu: Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo!…” Nhờ vào ý thức luôn giáo dục truyền thống vẻ vang của làng cho các thế hệ tiếp cận đó mà dân làng Xô-man giữ được truyền thống kiên cường bất khuất, khả năng giữ bí mật tuyệt đối, để làng Xô-man mãi tự hào khi trong suốt 5 năm kháng chiến chưa có cán bộ nào bị giặc bắt hay bị giết trong cánh rừng xà nu này. Nhưng để hiểu vì sao cụ Mết lại có niềm tin sâu sắc vào Đảng thì đó chính là nhờ vào sự am hiểu tường tận và giành giọt đường lối kháng chiến. Không chỉ là phương châm kháng chiến lấy bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng (chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo). Mà đặc biệt hơn cụ còn am hiểu về cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc: “đánh thằng MĨ phải đánh lâu dài”. Ngoài ra, qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành ta còn thấy được tính kỉ luật cao trong con người cụ Mết qua cách chỉ huy dân làng khi trốn vào rừng lánh giặc chờ đợi thời cơ tiến hành khởi nghĩa: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông”. Chính vì thế, cụ Mết được nhà văn miêu tả với hình tượng một cây xà nu đại thụ trong rừng xà nu, luôn là bóng lớn cho dân làng Xô-man chống bọn đế quốc Mĩ, góp phần vào sự thành công của cuộc cách mạng trong cả nước.

Khi nói đến nhân vật cụ Mết trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, không thể không nói đến phẩm chất cao quý của cụ đối với Tnú, đối với dân làng Xô-man. Qua ngòi bút của nhà văn, cụ Mết hiện lên là một con người có lòng yêu dân làng, yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Đối với Tnú, cụ luôn lấy anh làm tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo, để học tập anh mà một lòng theo cách mạng, tiêu biểu cho sự giáo dục của cụ là bé Heng – bé Heng đã tiếp thu truyền thống của anh Tnú qua cách giáo dục của cụ Mết. Trong lòng cụ, Tnú hiện lên chân thật với “đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Cụ thương những người dân làng Xô-man như người thân trong nhà với một sự đùm bọc, lãnh đạo che chở cho tất cả các thành viên. Từ đó, mà cụ trở thành người cha tinh thần, người truyền ngọn lửa tự do, và là linh hồn cuộc khởi nghĩa đồng khởi của dân làng Xô- man.

Cụ Mết không phải là nhân vật chính trong ngòi bút của nhà văn.Nhưng qua tác phẩm,ta cũng thấy được vai trò to lớn của cụ Mết trong việc tô thắm hình tượng nhân vật Tnú với lối kể chuyện lồng trong chuyện qua chuyện một đêm của làng Xô-man. Hình ảnh cụ Mết khiến ta liên tưởng tới nhân vật chú Năm trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”.Hai con người ở hai vùng miền nhưng trong cùng một thời đại, là thế hệ đi trước, là lịch sử, là người giữ lửa và truyền ngọn lửa cho các thế hệ trẻ, là tinh thần của dân tộc góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cả nước vào một ngày giải phóng hoàn toàn đất nước, dân tộc được tự do.

Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện ít qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nhưng những gì nhà văn miêu tả về người già làng với một lòng theo Đảng, tin tưởng cách mạng càng làm thêm giá trị cho tác phẩm Rừng xà nu có sức âm vang tới hôm nay và mai sau. Trong lòng bạn đọc, cụ Mết mãi là hình tượng bất tử của cây xà nu đại thụ vươn sức bảo vệ cho thế hệ trẻ phát triển để thực hiện thắng lợi thành công cuộc cách mạng dân tộc này.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 4

Nguyễn Trung Thành là một nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại, cách mạng của dân tộc Việt Nam. Những tác phẩm của Nguyễn Trung Thành thường gắn liền với những số phận người con vùng Tây Nguyên. Những người dân chất phác, hiền hậu, nhưng vô cùng anh dũng, kiên cường, luôn một lòng một dạ hướng về sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, căm thù cái ác, căm thù giặc sâu sắc.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu” bên cạnh những nhân vật anh hùng như Tnú, Mai, là những người đại diện cho lớp trẻ, kiên cường, bất khuất, như những cây xà nu non tới lúc trưởng thành. Thì nhân vật cụ Mết lại là hình ảnh đại diện của cây xà nu cao lớn trường thành, vững trãi, đã trải qua những thời kỳ giông bão, để trở nên hiên ngang, không gì có thể lung lay được.

Cụ Mết là một nhân vật góp phần làm cho tính sử thi trong tác phẩm trở nên đậm nét hơn. Cụ Mết giống như người già làng, trưởng bản kiên cường, là linh hồn của bản làng của núi rừng Tây Nguyên, là người dẫn dắt lớp trẻ đứng lên tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi kiếp nô lệ, hướng những người trẻ đi theo những giá trị chân chính.

Ngay từ khi xuất hiện, người đọc đã cảm nhận được rằng cụ Mết là người vô cùng mạnh mẽ thể hiện trong những chi tiết mà tác giả nêu ra “Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”.

Tuy đã qua thời kỳ xuân xanh không còn ở tuổi trai tráng lực lưỡng nhất nhưng cụ Mết vẫn giữ được uy lực của một người già làng, trưởng bản, một con người cả cuộc đời hiên ngang, quen dầm mưa dãi nắng, được núi rừng tô luyện cứng như đá, kiên cường, quắc thước….Không sợ bất kỳ một thế lực nào, hiên ngang, sừng sững..

Cụ Mết như những cây xa nu đã trưởng thành dù mưa bão cũng không làm lung lay được. Mưa bão chỉ có thể quật ngã làm đổ những cây non, những cây không đủ sức chống đỡ với bão táp, còn những cây xà nu trưởng thành thì không có gì làm nó gục ngã.

Trong tính cách của mình cụ Mết cũng là người vô cùng đặc biệt. Thông qua những câu nói vô cùng uy lực khi ra lệnh cho mọi người. Dù chỉ là những câu nói giản dị, nhưng chứa đựng tinh thần quyết đoán của người đứng đầu. Cụ Mết không có thói quen khen ngợi người khác, tâng bốc người ta lên mây xanh, mà mỗi khi hài lòng một việc gì đó cụ Mết chỉ gật gù cái đầu và nói ‘được”.

Tiếng nói của cụ Mết là những âm thanh vô cùng vang động “tiếng nói ồ ồ dội vang trong lồng ngực” là tiếng nói của một người ngay thẳng, không bao giờ nói hai lời.

Cụ Mết cũng là người vô cùng yêu quê hương đất nước, yêu bản làng núi rừng Tây Nguyên của mình. Cụ cũng là người có trái tim vô cùng nhân hậu, khi cha mẹ của Tnú mất đi bỏ Tnú ở lại thế giới trần gian một mình. Chính cụ Mết đã mang Tnú về nuôi, coi Tnú như con cháu trong nhà dạy cho Tnú biết săn bắn, biết sống như những cây xà nu hiên ngang sừng sững.

Khi T nú đi xa trở về cụ Mết thường dẫn anh ra suối tới những chỗ có máng làm bằng tre trở nước từ thượng nguồn về cho T nú gội đầu để gợi cho anh những kỷ niệm của quê hương, của mảnh đất thân thương gắn liền với mỗi người dân ở đây.

Trong những câu chuyện của mình kể cho T nú nghe cụ Mết luôn thể hiện cho T nú thấy sức mạnh của cây xà nu của làng. Muốn cho T nú thấy rằng anh cần phải yêu mảnh đất này, cần sống như những cánh rừng xà nu kia, kiên cường, bất khuất dù mưa gió, súng đạn có bắn phá xuống thì cánh rừng xà nu vẫn luôn vươn lên xanh tốt, như sức sống mãnh liệt của những người con núi rừng Tây Nguyên.

Cụ Mết cũng là người yêu cách mạng, giác ngộ cách mạng sâu sắc chính vì vậy mà ông cụ luôn dặn con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn” đây là những câu nói của một con người có lòng trung thành với tuyệt đối với con đường cách mạng mà mình đã chọn. Ông yêu quê hương của mình và cũng chính vì yêu nên ông muốn bảo vệ nó cho tới cùng, để bảo vệ quê hương mảnh đất thân yêu này thì chỉ con đường duy nhất là con đường theo cách mạng.

Khi Tnú đi bị giặc dùng nhựa xà nu đốt cháy mười đầu ngón tay của anh, cả bàn tay nay chỉ con hai ngón. Anh trở về làng cụ Mết đón anh bằng tấm lòng của một người cha, vô cùng thương yêu Tnú ông cụ còn động viên tinh thần cho anh “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”.

Trong những câu nói của mình ông đều thể hiện một tinh thần vô cùng quyết tâm, không chịu khuất phục, không vì thế mà lùi bước, trở thành người tàn phế. Ông dạy Tnú tinh thần kiên cường, hiên ngang dù cái chết có thể cận kề bất cứ lúc nào.

Câu nói của cụ Mết cũng giúp cho Tnú giải tỏa được những muộn phiền ở trong lòng, khi anh cảm thấy cuộc đời mình không phải như thế đã trở thành vô dụng. Anh có thể làm rất nhiều việc khác, vẫn có thể tiếp tục chiến đấu, cống hiến sức mình cho cách mạng, cho con đường bảo vệ quê hương mà anh đã chọn.

Cụ Mết thương Tnú như thương con trai mình. Ông cụ chăm sóc Tnú từ bé, nên khi nhìn con trai mình bị đốt mười đầu ngón tay trong bữa cơm. Ông cụ giận dữ ném chén cơm xuống. Đó là nỗi lòng căm thù, hận tới tận xương tủy lũ giặc tàn ác đã khiến cho Tnú của ông bị như vậy.

Mỗi lần ông cụ nhắc lại chuyện cũ, những tội ác mà lũ giặc đã gây ra thì những giọt nước mắt của ông lại rơi xuống, ông cụ lấy tay lau những giọt nước mắt một cách vụng về, như đang cố kìm nén nỗi xúc động trong lòng mình.

Không chỉ là trụ cột về tinh thần, của dân làng Xô Man cụ Mết còn là người có con mắt chiến lược nhìn xa trông rộng. Cụ luôn lo lắng cho những cuộc chiến của người dân, luôn động viên người dân làng phải biết tích lũy lương thực vì cuộc kháng chiến chống Mỹ còn dài, không phải kết thúc trong ngày một ngày hai được.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu” cụ Mết chính là hình tượng vô cùng đẹp như một tộc trưởng, già làng vô cùng oai hùng. Cụ Mết chính là linh hồn là người dẫn dắt dân làng Xô Man đi theo con đường chính đạo, đi theo con đường giải phóng dân tộc, giác ngộ cách mạng căm thù cái ác.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 5

Trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nếu được hỏi nhân vật nào là một chứng nhân lịch sử đi cùng những biến cố thời đại và con người của dân làng Xô Man thì có lẽ câu trả lời chính là cụ Mết. Dù không xuất hiện nhiều hay được miêu tả nhiều trong câu chuyện tuy nhiên cụ Mết lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc đời của Tnú, của quá trình đấu tranh của dân làng Xô Man.

Cụ Mết là một già làng, có thể nói là trưởng làng của buôn làng Xô Man. Cụ là người đàn ông mạnh mẽ, nghị lực và đầy khí phách. Khí phách của cụ đã được tác giả miêu tả qua ngoại hình: cụ có khuôn mặt quắc thước, đôi mắt đen sáng, râu dài tới ngực và có bộ ngực cường tráng, tiếng nói vang ồ ồ trong lồng ngực. Cách miêu tả ngoại hình của cụ Mết cũng cho thấy đây là một con người rất mạnh mẽ, dứt khoát và đầy khí thế. Cụ là người đứng đầu buôn làng Xô Man, đóng vai trò cầm cân nảy mực, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của người dân trong buôn làng.

Cụ Mết cũng là nhân vật được miêu tả đậm chất sử thi, tính sử thi được biểu hiện thông qua con người cụ từ ngoại hình, tính cách đến hành động của cụ. Cụ rất nghiêm nghị, quắc thước. Khi Tnú về thăm làng, cụ yêu cầu mọi người ngồi vây quanh mình, im lặng để cụ kể chuyện về cuộc đời của Tnú. Và tất cả mọi người kể cả người già, kể cả trẻ nhỏ quả nhiên đã ngồi lặng im lắng nghe từng câu nói của cụ Mết.

Khi Tnú chứng kiến vợ con mình chết và chính bản thân anh cũng lao ra để rồi bị giặc tra tấn thì cụ Mết chính là người cầm quân, dẫn đầu buôn làng tiến lên chiến đấu. Tiếng nói của cụ Mết như là một hiệu lệnh mà tất cả bà con trong buôn làng đều nghe theo. Cụ hô hào mọi người đứng dậy và bản thân cụ là người đi đầu, trực tiếp lao vào quân địch mà chiến đấu.

Mỗi khi ai đó làm tốt một việc gì, cụ chỉ gật đầu khen “được” đó là một câu nói chất chứa nhiều cảm tình nhưng cũng đầy hi vọng vào tương lai, muốn con cháu của buôn làng phát huy hơn nữa, không tự kiêu mà bỏ quên nhiệm vụ. Con người cụ Mết là vậy nên luôn được Tnú kính trọng, được cả dân làng Xô Man kính trọng. Tnú khi về cũng đến thăm và chào hỏi cụ, lắng nghe cụ nói với một thái độ cung kính. Dân làng thì chỉ chờ và làm theo những hiệu lệnh của cụ. Coi cụ như một hình mẫu mực thước để tất cả cùng noi theo.

Con người cụ Mết, cũng giống như Tnú cũng như những cánh rừng xà nu đều hiên ngang bất khuất, mang đậm dấu ấn sử thi kiên cường vững chãi trước bão tố cuộc đời, trước hoàn cảnh lịch sử đầy tai biến.

Cụ Mết một lòng trung thành với Đảng, với cụ Hồ, với cách mạng. Khi thấy Tnú về và đạt được những chiến tích nhất định trong chiến đấu, cụ mừng lắm, cụ luôn tỏ thái độ tôn kính đối với Bác, với cộng sản. Cụ dù tuổi đã cao nhưng vẫn là một cây xà nu đại thụ giữa cánh rừng xà nu đại ngàn của núi rừng Tây Nguyên.

Nếu không có cụ Mết có lẽ câu chuyện về cuộc đời Tnú, về buôn làng Xô Man sẽ không được kể hoặc sẽ được kể trên một phương diện khác, cái nhìn khác. Cụ Mết chính là người giữ lửa, truyền lửa, truyền tinh thần yêu nước, nhiệt huyết cách mạng đến tất cả các thành viên trong buôn làng Xô Man. Cụ cũng là một biểu tượng anh hùng, một con người sử thi đối với câu chuyện Rừng xà nu nói riêng và đối với cả buôn làng Xô Man nói chung.

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 6

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành qua những cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông viết rất nhiều tác phẩm gắn liền với những con người và mảnh đất núi rừng Tây Nguyên hoang sơ hùng vĩ. Thể hiện sự gắn bó của nhà văn với những con người nơi đây.

Tiêu biểu cho phong cách của tác giả chính là truyện ngắn “Rừng xà nu” được xuất bản năm 1965 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Truyện ngắn thể hiện sự anh hùng kiên cường quả cảm của những người dân Tây Nguyên. Hình ảnh những người dân làng Xô Man mà đứng đầu chính là cụ Mết chính là hình tượng cây xà nu anh hùng đại thụ vượt qua nhiều trận bom rơi, đạn nổ nhưng vẫn kiên cường hiên ngang trong gió bão.

Cụ Mết chính là linh hồn của người dân làng Xô Man, là người soi đường cho những thế hệ trẻ đi theo con đường yêu nước, con đường cách mạng của dân làng. Nhân vật cụ Mết được coi như già làng trưởng bản của làng Xô Man, cụ Mết không xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm nhưng mỗi lần xuất hiện đều toát lên vẻ oai hùng, của một người lãnh đạo cầm đầu, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc. Một bàn tay chắc nịch nắm lấy vai Tnú như một kìm sắt, khi anh nhìn cảnh Mai và con mình bị hành hạ, Tnú định từ gốc cây chạy ra nhưng bàn tay cụ Mết đã giữ anh lại.

Ông cụ có khuôn mặt quắc thước ấy râu dài tới ngực, đen bóng đôi mắt ông sáng lên, những vết sẹo trên người cũng láng bóng, ngực căng lên như một cây xà nu lớn trưởng thành qua gió bão. Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cụ Mết bằng những câu văn miêu tả một vị anh hùng, một già làng tộc trưởng được vạn người kính trọng. Qua những nét vẽ đó ta thấy được cụ Mết là người vô cùng cường tráng, khỏe mạnh có diện mạo quắc thước, minh mẫn thể hiện sự nhanh nhẹn trong hành động lời nói và trí tuệ.

Trong nhân vật này chứa đựng sự trưởng thành của một con người từng trải đã trải qua nhiều nắng gió của thời gian, của những khó khăn vất vả tạo thành một con người kiên cường bất khuất không sợ gì. Trong giọng nói của cụ Mết tác giả Nguyễn Trung Thành miêu tả cụ có giọng nói ồ ồ vang rộn cả núi rừng Tây Nguyên. Những lời nói của cụ tựa như sấm truyền. Mỗi lần cụ nói như ra lệnh không bao giờ khen tốt hay giỏi với bất kỳ ai mà chỉ nói những lời nói mang tính chất khích lệ như “Được”. Nhưng mỗi lời ông cụ nói đều chắc nịch thể hiện một mệnh lệnh.

Trong lúc Tnú bị bọn thằng Dục tay sai bắt và tra tấn dã man lúc chúng tẩm nhựa xà nu vào mười đầu ngón tay Tnú và đốt trong khoảnh khắc ấy từ “Giết” của cụ Mết vang lên như một lời sấm truyền. Cụ đã chính tay giết chết tên Dục rồi cùng dân làng Xô Man cứu Tnú thoát khỏi vòng vây sự tra tấn của kẻ thù. Khi Tnú cùng quẫn, bất động vì vợ con bị giết chết, mười đầu ngón tay bị thiêu đốt còn hai nhưng cụ Mết chính là người đã cho anh sức mạnh, cho anh thêm nghị lực để tiếp tục đứng lên chiến đấu với kẻ thù. Cụ Mết nói “Không có tay cũng có thể dùng súng giết giặc”.

Cụ Mết luôn trung thành với Đảng với cụ Hồ Chí Minh đó là tình cảm sâu sắc mà cụ dành cho quê hương thể hiện sự trung thành của một người con dân tộc. Tác giả Nguyễn Trung Thành khi nói tới nhân vật cụ Mết đều dùng những từ ngữ vô cùng thành kính sâu sắc thể hiện sự yêu mến quý trọng của tác giả với nhân vật này.

Đối với Tnú hay những đứa trẻ trong làng Xô Man thì cụ Mết luôn là một tấm gương sáng để cho thế hệ sau phải noi theo. Tình yêu quê hương, trung thành với cách mạng của Tnú, của bé Heng, bé Dít đều do cụ Mết truyền lửa. Cụ Mết chính là người cha già của dân làng Xô Man, là người soi sáng tinh thần, truyền ngọn lửa tự do cho những người dân nơi đây.

Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện không nhiều trong tác phẩm Rừng xà nu nhưng lại là nhân vật vô cùng quan trọng, thông qua những gì mà nhà văn miêu tả về nhân vật này thì cụ Mết chính là già làng với tinh thần yêu nước sâu sắc một lòng tin tưởng vào cách mạng, vào Bác Hồ. Cụ Mết đã đọng lại trong lòng người đọc bởi hình ảnh mạnh mẽ, anh hùng, một người truyền lửa cho những người dân làng Xô Man, cụ tựa như cây xà nu trưởng thành hiên ngang, kiên cường trong gió bão.

Advertisement

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 7

Trong thời đại chống Mĩ, chủ nghĩa yêu nước là nội dung xuyên suốt trong văn học Việt Nam. Nó bùng cháy mạnh mẽ và phát triển lên một bước mới thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bởi vậy, trong các tác phẩm không chỉ xuất hiện của những cá nhân anh hùng, xuất chúng mà còn xuất hiện cả tập thể anh hùng. Trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành bên cạnh nhân vật Tnú còn nổi bật lên tập thể anh hùng làng Xô Man, trong đó nổi bật hơn cả là nhân vật cụ Mết.

Cụ mết chính là con người thuộc thời đại “Đất nước đứng lên”, cụ đã trải qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ để tiếp tục cùng con cháu và thế hệ trẻ vùng lên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ hào hùng. Cụ vừa là biểu tượng cho quá khứ vẻ vang, rực rỡ, vừa là người giữ và truyền lửa cho thế hệ sau.

Dù đã cao tuổi những cụ Mết vẫn giữ được vẻ quắc thước như xưa, cụ vẫn là cây xù lớn của buôn làng, bàn tay cụ trắc nịch, khỏe khoắn,… Dù chỉ là một vài chi tiết, những tác giả đã cho thấy, dù cụ mất đã già nhưng vẫn có thể lực vô cùng dẻo dai, cường tráng, diện mạo của cụ dường như vượt qua được sức tàn phá mạnh mẽ của thời gian; diện mạo này cũng phần nào chứng tỏ vai trò trụ cột, chống đỡ như cây xà nu lớn của cụ Mết với dân làng Xô Man.

Ẩn đằng sau vẻ đẹp khỏe khoắn, dẻo dai là vẻ đẹp phẩm chất ngời sáng của cụ. Trước hết cụ là người có tình yêu Đảng, yêu cách mạng sâu sắc, điều này được thể hiện trong cả cuộc đời đấu tranh bền bỉ, kiên cường của cụ Mết, mà chứng tích để lại chính là vết sẹo hằn in trên má.

Cụ Mết đã một lòng theo Đảng, cách mạng để đi từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mĩ trong vai trò trụ cột, chỉ huy, lãnh đạo dân làng Xô Man. Tình yêu với Đảng, cách mạng còn được thể hiện qua những lời nói giản dị mà đầy ý nghĩa: “Đảng còn. Núi nước này còn”. Không khoa trương ồn ào, nhưng bằng chính lối tư duy mộc mạc, ngôn ngữ tự nhiên, đã thể hiện tình yêu Đảng sâu sắc của cụ, đồng thời khơi dậy tình yêu đó trong lòng mỗi người dân làng Xô Man.

Không chỉ vậy cụ còn là người có kinh nghiệm sống, bản lĩnh và từng trải. Chính những điều ấy khiến cho cụ luôn đưa ra những quyết định đứng đắn, sáng suốt trong những thời điểm quan trọng nhất. Cụ cũng là người đã nhận ra: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, cũng chính cụ đã vượt qua được sự nôn nóng của Tnú để quay vào rừng, sau đó cùng thanh niên, trai tráng quay trở lại cứu Tnú. Kinh nghiệm bản lĩnh sống của cụ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của dân làng Xô Man.

Cụ cũng là người luôn tìm cách giữ lửa, truyền lửa và động viên thế hệ mai sau tiếp bước con đường của thế hệ cha anh. Và vai trò quan trọng nhất của cụ Mết cũng là phẩm chất nổi bật nhất chính là việc cụ đưa ra những đúc kết và thay tác giả phát ngôn cho những chân lí của thời đại, cộng đồng.

Từng lời chậm rãi, nhưng dõng dạc, chắc nịch: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, thể hiện sự nhạy bén của cụ trước sự đổi thay của thời đại. Bởi chỉ với bàn tay không Tnú đã không cứu được vợ con, bản thân cũng bị giặc hành hạ tàn bạo; bởi chỉ có bàn tay không nên rất nhiều người dân đã ngã xuống. Cụ đã nhận thức được rằng, thời đại đã thay đổi, quân xâm lược ngày càng sử dụng những vũ khí tối tân với cách đánh tinh vi hơn, bởi vậy chỉ với bàn tay không thì ta chắc chắn sẽ thất bại.

Câu nói của cụ đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết là phải chuyển từ đấu tranh tự phát, sang đấu tranh tự giác, đấu tranh vũ trang với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo. Điều đó không chỉ có ý nghĩa quan trọng với cuộc đấu tranh của người dân Tây Nguyên mà nó còn là chân lí của thời đại, kết tinh từ trí tuệ của cộng đồng. Cụ Mết đã thay tác giả phát ngôn chân lí đó. Bằng sự trải nghiệm và kinh nghiệm sống dày dặn, cụ làm cho nhận thức đó trở nên sâu sắc và có giá trị hơn.

Với dân làng Xô Man, cụ Mết chính là linh hồn, chỗ dựa vững chắc cả về sức mạnh lẫn tư tưởng, nhận thức. Cụ vừa là hiện thân của quá khứ hào hùng để trở thành tấm gương sáng cho thế hệ sau, vừa là một người dìu dắt, giúp đỡ, thúc đẩy lịch sử đấu tranh của làng Xô Man và nhân dân Tây Nguyên mỗi lúc một hào hùng hơn.

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 8

Nếu như trong tác phẩm “Người lái đò” của nhà văn Nguyễn Tuân đã vẽ nên một nhân vật ông lái đò dũng cảm, hiên ngang chiến đấu với sức mạnh của thiên nhiên, thì cụ Mết của tác giả Nguyễn Trung Thành trong tác phẩm Rừng xà nu được nổi bật lên bởi sự vững chắc, rắn rỏi được tạc nên bởi núi rừng Tây Nguyên.

Không được tập trung khai thác như nhân vật Tnú, thế nhưng cụ Mết vẫn gây được những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả. Ngay từ khi xuất hiện, một vị già làng dưới ngòi bút của tác giả được thể hiện qua những chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”, hay “mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng… ngực căng như một cây xà nu lớn”. Bằng nghệ thuật miêu tả, hình ảnh cụ Mết hiện lên đầy oai hùng, vững chãi, tràn đầy sức mạnh cả về sức khỏe lẫn tinh thần.

Không chỉ thế, núi rừng mạch nguồn Tây Nguyên đã làm nên cho cụ một giọng nói “ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Những lời cụ nói như ra lệnh, không bao giờ cụ khen tốt hay giỏi nếu vừa ý thì nói “Được”. Lời nói của cụ đã truyền sức mạnh vào trong những bài giảng về lịch sử oanh liệt của dân làng Xô Man, tiếng nói thiết tha trang nghiêm khi răn dạy con cháu “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy”.

Đặc biệt, sức mạnh ấy đã được bùng nổ khi cụ ra mệnh lệnh chiến đấu khi hay tin Tnú bị giặc đốt cháy mười ngón tay: “Chém! Chém hết”. Giọng nói của cụ là tiếng của cả dân tộc, là tiếng nói của lịch sử, đã dẫn dắt biết bao thế hệ lớn lên, trưởng thành và biết chiến đấu vì đất nước.

Cụ Mết còn là một người có tình yêu sâu sắc, gắn bó máu thịt với quê hương. Cụ dạy Tnú, cùng các thế hệ sau rằng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn núi nước này còn”. Cụ luôn nhắc nhở những người con xa quê rằng: dù đi tới phương trời nào cũng phải luôn ghi nhớ và trân trọng về cội nguồn dân tộc.

Cụ luôn tự hào vì được sinh ra và lớn lên cùng với nắng gió Tây Nguyên, cùng với những rặng xà nu bạt ngàn luôn hiên ngang trước sóng gió. Cụ khẳng định rằng: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Với cụ Mết, từng giọt nước ta uống, từng bát cơm ta ăn mà đất nước mang lại đều thật đẹp đẽ và đáng trân trọng biết bao.

Chính vì những tư tưởng ấy, cụ đã dẫn dắt dân làng Xô man cùng những bài giảng giáo dục hết sức vẻ vang về lịch sử dân tộc. Cụ am hiểu về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc “đánh thằng Mỹ phải đánh lâu dài”. Đặc biệt hơn nữa, cụ là một người có tính kỉ luật rất lớn khi tổ chức, chỉ huy dân làng lánh vào rừng đợi thời cơ đánh giặc: “Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa, ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông”.

Trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cụ đã trở thành một chỗ dựa vững chắc cho dân làng Xô man. Cụ động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh mỹ phải đánh dài”. Tuy trong lòng cụ sục sôi vì nỗi căm thù quân giặc, nhưng cụ vẫn giữ bình tĩnh, sáng suốt để tìm ra con đường đúng đắn nhất để lãnh đạo dân làng chiến đấu. Tinh thần của cụ luôn hừng hực, khí thế tựa như những đại đại thụ Xà nu tại chốn rừng Tây Nguyên.

Với vẻ ngoài hào kiệt, uy nghi là thế, cụ lại mang trong mình một trái tim dạt dào tình yêu thương với dân làng. Khi Tnú được trở về chỉ với những đốt tay còn sót lại sau khi bị giặc đốt, cụ kìm nén những cảm xúc đau buồn để khích lệ anh “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”.

Khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú, cụ cũng không kìm nổi sự căm phẫn tiếc thương, cụ thương cho những người con, người cháu vô tội của cụ đã bị giết bởi những tên giặc mạn rợ, cụ thương cho cuộc đời của Tnú, cụ “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt”. Trải qua biết bao sự mất mát, chia ly bởi bom đạn, cụ vẫn phải rơi những giọt nước mắt bởi dân làng, người thân của cụ. Chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộc trái tim nhân hậu, yêu thương đồng bào của cụ. Cụ đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm trái tim, xoa dịu nỗi đau của biết bao con người. Cụ Mết chính là linh hồn của cả một dân tộc Việt Nam và dân làng Xô Man nói riêng.

Hình ảnh cụ Mết tuy ít xuất hiện trong bài, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Trung Thành, nhân vật cụ Mết với những phẩm chất ưu tú hơn người, đã mang trọn những tinh thần kiên cường, bất khuất của nhân dân Tây Nguyên. Trong lịch sử của chúng ta, không có ít người như cụ Mết, thế nhưng hình ảnh của cụ già làng sánh vai cùng cây xà nu đại thụ trong Rừng xà nu sẽ sống mãi cùng mọi thế hệ.

Văn Mẫu Lớp 6: Viết Bài Văn Đóng Vai Nhân Vật Kể Lại Một Truyện Cổ Tích Dàn Ý & 26 Bài Văn Mẫu Lớp 6

Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích

Tài liệu sẽ bao gồm dàn ý và 26 bài văn mẫu lớp 6, cung cấp những bài văn mẫu hay nhất. Các bạn học sinh có thể tham khảo nội dung chi tiết ngay sau đây.

1. Mở bài

Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu chuyện định kể.

2. Thân bài: Kể lại diễn biến câu chuyện

– Xuất thân của các nhân vật.

– Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.

– Diễn biến chính:

Sự việc 1: …

Sự việc 2: …

Sự việc 3: …

3. Kết bài

Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.

Tôi là Thạch Sanh. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, tôi sống lủi thủi một mình trong túp lều cũ dựng dưới gốc đa. Cả gia tài của tôi chỉ có một lưỡi búa để hàng ngày lên rừng đốn củi kiếm ăn.

Một hôm, có người hàng rượu tên là Lý Thông đi qua chỗ tôi, nghỉ ở gốc đa. Lý Thông thấy tôi gánh củi về liền lân la gợi chuyện và nói kết nghĩa anh em với tôi. Tôi cảm động lắm, vui vẻ nhận lời. Lý Thông là anh còn tôi là em. Tôi từ giã gốc đa, đến sống chung với mẹ con Lý Thông.

Đi kiếm củi về, tôi thấy mâm cơm có rất nhiều thức ăn ngon. Chưa hiểu nhà có việc gì thì anh Lý Thông nói với tôi:

– Đêm nay, đến phiên anh canh miếu thờ, ngặt vì dở cất mẻ rượu, em chịu khó thay anh, đến sáng thì về.

Tôi không nghĩ ngợi gì, vui vẻ nhận lời. Đêm hôm ấy, khi tôi đang mơ màng nửa ngủ nửa thức thì một con trăn tinh hiện ra. Nó nhe răng, giơ vuốt định vồ lấy tôi. Tôi giơ cao búa đánh vào con chằn tinh. Tôi xả xác nó làm hai mảnh. Trăn tinh hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ và để lại bên mình một bộ cung bằng vàng.

Tôi chặt đầu quái vật và nhặt bộ cung tên bằng vàng rồi xách đầu quái vật về nhà. Tôi gọi cửa mãi anh Lý Thông mới ra mở cửa. Không hiểu sao mẹ con anh Lý Thông cứ van lạy tôi rối rít.

Khi vào nhà, tôi kể đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, anh Lý Thông nói với tôi: – Con trăn ấy là của vua nuôi đã lâu. Nay em giết nó, tất không khỏi bị tội chết. Thôi, bây giờ nhân trời chưa sáng em hãy trốn đi ngay đi. Có chuyện gì để anh ở nhà lo liệu.

Tôi không nghi ngờ gì liền trở về túp lều dưới gốc đa ngày nào. Tôi lại sống bằng nghề kiếm củi.

Một hôm, tôi đang ngồi dưới gốc đa thì trông thấy một con đại bàng quắp một người con gái. Tôi liền lấy cung tên vàng ra bắn con đại bàng. Mũi tên trúng vào cánh làm nó bị thương. Nhưng nó vẫn cố bay về hang trong núi. Theo vết máu, tôi tìm được chỗ ở của con đại bàng.

Nghe có lễ hội đông vui, tôi liền tìm đến xem. Nào ngờ, ở đó, tôi gặp anh Lý Thông. Anh ấy đã kể cho tôi nghe việc tìm công chúa. Tôi thật thà kể cho anh nghe về việc tôi bắn đại bàng và biết được chỗ ở của nó. Anh Lý Thông liền nhờ tôi dẫn đến chỗ đại bàng.

Tôi xin được xuống hang cứu công chúa. Quân sĩ lấy dây buộc ngang lưng tôi rồi dòng xuống hang. Xuống tới đáy hang, tôi thấy đại bàng hiện nguyên hình là một con yêu tinh ở trên núi. Tuy bị thương nặng nhưng con quái vật vẫn rất hung dữ. Nó giơ vuốt và lao vào tôi. Tôi dùng cung tên vàng bắn mù hai mắt nó. Tôi chặt đứt vuốt sắc, bổ vỡ đầu con quái vật. Tôi lấy dây buộc ngang người công chúa và ra hiệu cho quân sĩ của Lý Thông kéo lên.

Tôi chờ quân sĩ thả dây xuống kéo tôi lên, nào ngờ cửa hang đã bị lấp lại. Lúc đó, tôi mới biết là Lý Thông hại tôi. Tôi tìm cách lên. Đi đến cuối hang, tôi thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú bị nhốt trong cũi sắt. Tôi dùng cung tên vàng bắn tan cũi sắt và cứu chàng ra. Chàng trai cho biết mình là thái tử con vua Thủy Tề.

Thái tử thoát nạn, cám ơn tôi và mời tôi xuống thủy phủ chơi. Vua Thủy Tề vui mừng được gặp lại con. Biết tôi là người cứu con trai mình, vua Thủy Tề cảm ơn tôi và biếu tôi rất nhiều vàng bạc châu báu. Tôi không lấy vàng bạc châu báu mà chỉ xin một cây đàn, rồi tôi trở về gốc đa.

Một hôm, tôi bị quân lính của nhà vua tới và bắt giam tôi vào ngục. Lúc đó, tôi mới biết của cải của nhà vua bị mất trộm và được giấu ở gốc đa nơi tôi ở. Tôi bị bắt vì nhà vua cho là chính tôi đã ăn trộm. Lúc đó tôi mới nghĩ là chính chằn tinh và đại bàng bị giết đã báo thù tôi.

Trong ngục tối, tôi đem đàn vua Thủy Tề cho ra gảy. Không ngờ tiếng đàn của tôi vẳng đến hoàng cung. Nàng công chúa được tôi cứu đòi vua cha cho được gặp người đánh đàn. Nhà vua cho đưa tôi đến. Trước mặt mọi người, tôi kể hết đầu đuôi câu chuyện của mình, từ chuyện kết bạn với Lý Thông, đến chuyện chém chằn tinh, giết đại bàng, cứu công chúa và cuối cùng bị bắt oan vào ngục thất.

Cho đến lúc này tôi mới biết chằn tinh không phải vua nuôi mà Lý Thông đã nham hiểm lừa tôi đi chết thay cho hắn. Và lúc này, tôi cũng mới biết, nàng công chúa đã bị câm sau khi được tôi cứu khỏi hang. Nàng chỉ vui cười trở lại khi nghe tiếng đàn của tôi.

Nhà vua cho bắt mẹ con Lý Thông giam lại và giao cho tôi xét xử. Nhà vua gả công chúa cho tôi. Lễ cưới tưng bừng nhất kinh kì. Hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn lấy làm tức giận, họ hội binh lính của mười tám nước sang đánh. Tôi xin nhà vua đừng động binh.

Tôi lấy đàn thần ra gảy. Quân mười tám nước bủn rủn chân tay không còn nghĩ gì đến chuyện đánh nhau nữa. Cuối cùng, tất cả đều phải xin hàng.

Tôi sai dọn một bữa cơm thết đãi những kẻ thua trận. Tôi cho dọn ra một niêu cơm nhỏ. Cả mấy vạn tướng lính thấy niêu cơm như vậy liền bĩu môi cười. Tôi liền hứa sẽ trọng thưởng cho người ăn hết niêu cơm. Quân mười tám nước ăn mãi không hết. Cơm trong niêu hết lại đầy. Tất cả cúi đầu lạy tạ vợ chồng tôi rồi kéo quân về nước.

Vì không có con trai nối ngôi, nhà vua đã nhường ngôi cho tôi. Từ đó, tôi làm một ông vua tốt và dân chúng có cuộc sống no ấm, yên bình.

Tôi là Lý Thông, một người chuyên bán rượu. Trong một lần đi bán rượu ở xã Cao Bình, ngồi nghỉ chân tại một quán nước gần gốc đa, tôi thấy một người vác về một đống củi to. Tôi nghĩ bụng đây chắc chắn là một người có sức khỏe phi thường, liền lấn lá làm quen. Cậu ta tên là Thạch Sanh, từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, của cải chẳng có gì ngoài chiếc búa cha để lại. Tôi biết tên này thật thà, dễ lợi dụng nên đã quyết định kết nghĩa anh em với Thạch Sanh, rồi bảo cậu ta về ở cùng với mình và mẹ già.

Từ ngày có Thạch Sanh, mẹ con tôi đỡ vất vả đi nhiều. Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh rất hung ác, phép thuật vô song, thường xuyên bắt người ăn thịt. Để yên ổn, dân làng tình nguyện nộp người cho nó để nó ăn thịt, không quấy phá dân làng nữa. Lần đó, đến lượt tôi, tôi bèn nghĩ ra cách là nhờ Thạch Sanh đi thay mình. Tối đó, tôi mời Thạch Sanh ăn uống no say, rồi cất lời nhờ cậy đi trông miếu thay. Thạch Sanh không nghĩ ngợi nhiều liền nhận lời ngay. Tôi và mẹ vui mừng lắm.

Đêm hôm đó, tôi đang ngủ say thì bỗng có tiếng gọi của Thạch Sanh. Mẹ con tôi nghĩ Thạch Sanh về đòi mạng, van xin khẩn thiết. Thạch Sanh mới kể lại chuyện giết chằn tinh, bây giờ mẹ con tôi mới an tâm. Tôi còn nghĩ ra một kế lừa Thạch Sanh rằng đó là con vật nhà vua nuôi, không giết được và bảo Thạch Sanh về lại gốc đa cũ đi. Thạch Sạch tin lời ngay. Sau khi lừa được Thạch Sanh, tôi liền mang đầu chằn tinh lên quan lĩnh thưởng. Tôi được vua khen ngợi và phong làm đô đốc.

Năm đó, nhà vua có một người con gái đến tuổi lấy chồng nhưng chưa chọn được ai thích hợp. Vua cha bèn nghĩ ra cách ném cầu kén rể, ai bắt được cầu sẽ được làm phò mã. Nhưng khi công chúa vừa lên lầu chuẩn bị ném cầu thì bị một con đại bàng cắp đi mất. Tôi được vua cha giao cho nhiệm vụ đi tìm công chúa. Tình cờ, tôi gặp được Thạch Sanh. Tôi kể cho cậu ta nghe về việc đang đi tìm công chúa. Thạch Sanh nói rằng mình biết hang của đại bàng và đề nghị được đi cùng. Cậu ta dẫn tôi cùng quân lính đến hang của đại bàng. Tôi buộc dây vào thắt lưng hắn, dặn rằng khi vào cứu được công chúa thì hãy lấy dây để kéo công chua lên, sau đó sẽ thả dây xuống để cứu em. Khi Thạch Sanh cứu được công chúa, tôi sai người lấp cửa hang lại.

Từ lúc công chúa về cung không nói không rằng, nhà vua rất lo lắng. Tôi đã mời rất nhiều nhà sư, đạo gia về để lễ tế nhưng không có tác dụng. Một hôm, trong từ trong tù phát ra một tiếng đàn của ai đó. Bỗng công chúa cất tiếng nói và muốn gặp người đánh đàn. Vua liền truyền người đánh đàn vào cung. Thì ra lại chính là Thạch Sanh. Cậu ta kể rõ sự tình cho nhà vua. Nghe xong, vua rất tức giận, sai người trừng phạt tôi. Nhưng Thạch Sanh nể tình nghĩa năm xưa nên đã tha mạng cho tôi.

Sau khi cha mẹ mất, tôi và anh trai sống cùng nhau. Chúng tôi chăm chỉ làm lụng nên cũng đủ ăn. Từ ngày có vợ, anh của tôi đâm ra lười biếng. Vợ chồng tôi phải làm lụng vất vả mới có của ăn của để.

Một hôm, anh trai gọi tôi đến bàn bạc chuyện chia gia tài. Vì là phận em, tôi xin được nghe theo lời anh. Tôi nhận được một túp lều nhỏ, ở trước cửa có một cây khế. Dù khó khăn, nhưng tôi và vợ vẫn sống hạnh phúc, êm đềm. Hằng ngày, tôi và vợ vẫn thay nhau chăm sóc cây khế. Đến mùa, những chùm quả chín lúc lỉu trên cây. Tôi và vợ bàn nhau hái khế ra chợ bán. Sáng hôm đó, tôi ra vườn cây để hái khế thì nghe thấy trên ngọn cây có tiếng rung mạnh như có người. Tôi gọi vợ ra xem, thì nhìn thấy một con chim lớn đang ăn khế chín. Tôi lấy làm lạ lắm, chưa bao giờ thấy một con chim nào to như vậy. Tôi liền bảo vợ cứ đợi cho chim ăn xong mới ra hái. Suốt một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm.

Vợ tôi xót ruột. Một hôm thấy chim đang ăn khế, liền chạy ra nói:

– Ông chim ơi, ông ăn như thế thì nhà cháu còn khế đâu mà bán! Cả nhà cháu chỉ nhờ vào cây khế thôi!

Chim nói:

– Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Nghĩ đây chắc hẳn là chim thần, tôi bảo vợ làm theo lời chim nói. Sáng sớm hôm sau, chim thần bay đến. Tôi xách túi ra, chim nằm rạp xuống đất cho tôi trèo lên. Tôi ngồi trên lưng chim mà lòng có chút lo lắng. Chim bay qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả. Ra tới giữa biển, chim rẽ vào một cái đảo, rồi đáp xuống cửa một cái hang.

Chim ra hiệu cho tôi bước vào. Ngay từ cửa đã có rất nhiều thứ đá trong như thủy tinh và hổ phách đủ thứ màu. Tôi thấy hang sâu và rộng nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra ngoài. Tôi bảo chim thần bay về. Chim lại cất cánh đưa tôi về nhà. Từ đó, cuộc sống của gia đình tôi trở nên khá giả hơn trước. Chúng tôi còn giúp đỡ được rất nhiều người dân nghèo khổ.

Một hôm, anh trai của tôi đến chơi. Tôi đoán biết anh nghe được chuyện nên đến hỏi thăm. Nghe anh hỏi chuyện, tôi liền kể cho anh nghe. Anh liền thương lượng để đổi tài sản của mình lấy túp lều và cây khế. Thầy anh nài nỉ mãi, tôi cũng ưng thuận.

Kể từ đó, anh trai và chị dâu của tôi dọn đến ở trong túp lều. Tôi nghe người trong làng kể lại. Hằng ngày, họ chỉ ngồi ăn rồi chờ chim đến. Một buổi sáng nọ, khi thấy luồng gió mạnh nổi lên, và ngọn cây khế rung chuyển. Họ biết là chim thần đến liền nói:

– Chim thần ơi, cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn thì tôi lấy gì mà sống?

Chim thần cũng nói y như với tôi:

– Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Anh trai và chị dâu của tôi cứ bàn qua tính lại. Rồi cuối cùng họ quyết định may cái túi to gấp ba lần, như một cái tay nải lớn. Sáng hôm sau, chim thần đến đưa anh tôi ra hòn đảo. Nhìn thấy vàng bạc, kim cương, anh trai tôi cố nhặt cho đầy túi. Không chỉ vậy, anh ta còn cho cả vào túi quần, túi ào. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Anh trai tôi bị sóng cuốn trôi, bao nhiêu của cải mất hết. Còn chim thần chỉ bị ướt lông, ướt cánh nên lại vùng lên trời bay đi. May có người dân đánh cá ngang qua mới cứu được. Anh trai tôi trở về, kể rõ sự tình cho tôi nghe và tỏ ra rất hối hận.

Cha mẹ mất sớm, tôi sống cùng với em trai. Hai anh em tôi chăm chỉ làm ăn. Rồi tôi và em trai cũng đến tuổi lấy vợ. Từ đó, tình cảm giữa hai chúng tôi không còn mặn mà như xưa nữa.

Hai vợ chồng tôi tính đến chuyện ở riêng cho hai vợ chồng người em. Tôi bàn với vợ, lấy tài sản và chia cho em trai căn nhà tranh lụp xụp trước nhà có một cây khế. Tuy vậy, hai vợ chồng cậu em không phàn nàn một lời, vẫn chịu khó làm ăn. Cho đến một hôm nghe người ta nói chuyện hiện nay vợ chồng người em đã rất giàu có thì tôi lấy làm tò mò liền sang gặp gỡ hỏi thăm. Em trai tôi thật thà nên đã kể lại mọi chuyện cho tôi nghe.

Hằng ngày, vợ chồng nó vẫn chăm sóc cho cây khế. Đến mùa, cây khế ra hoa kết trái và thu hoạch, em tôi mang ra chợ bán. Bỗng một hôm, có con chim lạ bay đến ăn khế của em. Nó ăn rất nhiều khế trên cây, ăn những quả thơm ngon nhất, cứ như thế suốt gần tháng trời.

Em tôi liền nói với chim, thì nó trả lời thế này:

Biết rõ câu chuyện, tôi bàn mưu cùng vợ, gạ đổi hết tài sản của mình để lấy túp lều tranh và cây khế. Thế là từ đó, tôi chỉ có một việc là trông mong chim lạ bay đến ăn khế. Lâu dần, con chim cũng xuất hiện. Không thể kiên nhẫn ợi lâu hơn nữa, khi chim thần vừa ăn được vài quả tôi đã chạy ra hỏi như những gì em tôi đã nói. Và tôi cũng được chim lạ trả lời y hệt. Chỉ chờ có thế, vợ chồng tôi hí hửng, vội vàng may túi. Nhưng không phải túi ba gang như cậu em ngốc nghếch, tôi may hẳn một túi sáu gang.

Tôi là Sọ Dừa. Khi mẹ sinh ra, tôi không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như quả dừa. Bà buồn quá, định vứt tôi đi, thì tôi liền nói:

– Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp.

Vì thương tôi nên mẹ đã để lại nuôi, đặt cho tôi cái tên là Sọ Dừa. Lớn lên, tôi vẫn như lúc nhỏ, lăn lông lốc trong nhà. Mẹ liền nói với tôi:

– Con nhà người ta báy tám tuổi đã đi ở chăn bò, còn mày chẳng được tích sự gì.

Tôi liền bảo với mẹ:

– Chuyện gì chứ chăn bò con cũng làm được. Mẹ cứ xin phú ông cho con đi chăn bò.

Nghe vậy, mẹ tôi liền đến hỏi phú ông. Từ đó tôi đến ở nhà phú ông. Ngày ngày, tôi lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà, đàn bò béo tốt hẳn ra. Tôi thấy phú ông mừng ra mặt.

Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho tôi. Hai cô chị độc ác nên thường hắt hủi tôi. Chỉ có cô út hiền lành, đối xử với với tôi.

Một hôm, tôi biến thành người, ngồi thổi sáo trên lưng trâu thì tiếng động, biết có người nên tôi lại hóa về hình dáng cũ. Từ đó, cô út càng chăm sóc tôi nhiều hơn, có thức ăn ngon lại giấu đem cho tôi.

Cuối mùa ở, tôi liền về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ. Mẹ tôi ửng sốt lắm, nhưng thấy tôi năn nỉ mãi nên cũng sang hỏi phú ông. Khi trở về, bà nói rằng phú ông yêu cầu phải sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm mới đồng ý gả con gái. Tôi nói với mẹ cứ yên tâm.

Đến ngày hẹn, mẹ tôi vô cùng ngạc nhiên khi trong nhà bỗng có đủ những lễ vật mà phú ông yêu cầu. Không chỉ vậy, còn có chục giai nhân khiêng sính lễ sang nhà phú ông. Phú ông liền hỏi ba cô con gái xem có ai đồng ý, thì chỉ có cô út.

Trong ngày cưới, tôi cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, tôi biến thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú sang đón cô út về làm vợ. Hai vợ chồng tôi sống hạnh phúc. Tôi ngày đêm miệt mài đèn sách và thi đỗ trạng nguyên. Chẳng bao lâu, nhà vua cử tôi đi sứ. Trước khi đi, tôi đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giữ luôn các thứ ấy bên mình để có lúc cần dùng đến.

Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, tôi nghe thấy tiếng con gà trống gáy vang ba lần:

– Ò… ó… o… Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.

Tôi hạ lệnh cho thuyền vào xem, thì gặp lại vợ mình. Vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc. Tôi đưa vợ về nhà, mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai người chị của vợ tôi tranh nhau kể chuyện nàng gặp phải rủi ro, tỏ vẻ thương tiếc lắm. Tôi không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Nhìn thấy em mình đã trở về bình an, họ xấu hổ bỏ về.

Một hôm, trời nắng to. Tôi đi vào rừng hái củi cho chủ, nhưng khát nước quá mà không tìm thấy suối. Thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, tôi bưng lên uống.

Không ngờ, về nhà thì mang thai. Tôi sinh ra một đứa trẻ không chân, không tay, tròn như một quả dừa. Tôi buồn lắm, toan vứt đi đứa con bảo:

– Mẹ ơi, con là người đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp.

Nghĩ lại, thấy thương con, tôi đành để con lại nuôi và đặt tên cho nó là Sọ Dừa. Lớn lên, Sọ Dừa vẫn không khác lúc nhỏ, cứ lăn lông lốc trong nhà, chẳng làm được tích sự gì. Tôi cứ than phiền:

– Con nhà người ta bảy, tám tuổi đã đi chăn bò, chăn trâu. Họ giúp bố mẹ được nhiều việc. Còn mày thì chẳng làm được việc gì cả.

Nghe lời tôi nói như vậy, Sọ Dừa nói:

– Gì chứ chăn bò thì con chăn cũng được. Mẹ cứ nói với phú ông cho con ở chăn bò.

Nghe con nói như vậy, tôi liền đến hỏi phú ông. Phú ông đồng ý. Sọ Dừa chăn bò rất giỏi, con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng lắm. Đến mùa, tôi tớ trong nhà ra đồng hết nên ba cô con gái phải thay phiên nhau đi đưa cơm cho Sọ Dừa. Nghe Sọ Dừa kể lại thì hai cô chị rất ác nghiệt, kiêu căng luôn hắt hủi nó. Còn cô út rất hiền lành, tính hay thương người nên đối đãi với nó rất tử tế. Có của ngon vật lạ cô út thường giấu đem cho Sọ Dừa.

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi cuối năm ấy, Sọ Dừa giục tôi đến hỏi con gái nhà phú ông làm vợ. Tôi nghĩ một người ở như Sọ Dừa làm sao sánh được với con gái nhà phú ông nhưng vì thương con nên cũng nghe theo. Tôi sắm một buồng cau rồi đến nhà phú ông thưa chuyện. Thấy tôi đặt vấn đề hỏi con gái phú ông cho Sọ Dừa. Ông ta cười mỉa và nói vẻ thách thức:

– Ừ, được! Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.

Nghe ông ta nói vậy tôi bàng hoàng và nghĩ rằng chẳng bao giờ có đủ các thứ đó. Về nhà tôi nói với Sọ Dừa và khuyên nó đừng bao giờ nghĩ đến việc lấy vợ nữa. Không ngờ Sọ Dừa nói với tôi một cách quả quyết:

– Mẹ đừng lo con sẽ lo đủ các thứ đó.

Đúng hẹn, tự nhiên tôi thấy trong nhà có bao nhiêu đồ sính lễ, lại có cả chục gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà phú ông. Lúc đó tôi nghĩ rằng Sọ Dừa không phải là người trần. Phú ông nhìn thấy lễ vật, hoa cả mắt, lúng túng nói với tôi:

– Để ta hỏi con gái ta xem, có đứa nào ưng lấy thằng Sọ Dừa.

Lão gọi ba đứa con gái ra rồi lần lượt hỏi. Hai cô chị bĩu môi chê bai. Còn cô út cúi mặt xuống, tỏ ý bằng lòng. Phú ông đành phải nhận lễ và gả cô con gái cho Sọ Dừa.

Lúc gần rước dâu, tôi chẳng thấy Sọ Dừa đâu mà chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú cùng cô út của phú ông từ phòng cô dâu đi ra. Mọi người đều sửng sốt, mừng rỡ. Hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Thấy cô út là đứa con dâu hiền lại hiếu thảo nên tôi cũng mừng thầm.

Ngày ngày Sọ Dừa thì mải mê đèn sách chờ khoa thi, còn cô út thì se tơ dệt vải. Ngày thi đã đến Sọ Dừa đã đỗ Trạng nguyên không bao lâu nhà vua ban chiếu quan trạng đi sứ. Hai vợ chồng Sọ Dừa chia tay nhau nhưng vô cùng quyến luyến, khiến tôi không khỏi động lòng. Trước khi lên đường Sọ Dừa còn gọi vợ vào nhà và dặn dò kĩ lắm.

Một hôm hai cô chị đến xin phép tôi cho cô út đi chơi. Nghĩ bụng con dâu phải xa chồng nên buồn bực, tôi liền đồng ý cho cô út đi chơi cùng cho khuây khoả. Thế rồi từ hôm đó, chẳng thấy cô út về, tôi lo lắng chạy sang nhà hỏi phú ông thì hai cô chị kể rằng: Khi chèo thuyền ra biển cô út đã sảy chân ngã xuống biển chết. Nghe tin đó tôi vô cùng đau lòng, thương xót cho cô con dâu hiền lành xấu số. Hết hạn đi sứ Sọ Dừa đã trở về, tôi không ngờ nó lại cùng đi với vợ nữa. Nghe con kể lại, tôi mới biết rõ sự tình.

Tôi vốn là công chúa độc nhất của vua cha. Vốn xinh đẹp, lại được nuông chiều từ nhỏ nên tôi khá kiêu. Khi đến tuổi gả chồng, rất nhiều người đến cầu hôn nhưng đều bị tôi từ chối. Thậm chí tôi còn chế giễu, nhạo báng họ. Một lần nọ, vua cha cho mời các chàng trai ở khắp các nước xa gần tới mở tiệc linh đình để chọn phò mã. Rất nhiều người đến, họ đứng theo ngôi thứ, đứng trên cùng là vua các nước rồi các công tước, các ông hoàng, các bá tước, các nam tước, cuối cùng là những người dòng dõi quý tộc.

Tôi được vua cha dẫn đi xem mắt từng người. Nhưng chẳng có ai là tôi cảm thấy vừa ý: người thì quá mập; người quá mảnh khảnh; người thì lại lùn; người thì mặt mày xanh xao… Cuối cùng, tôi nhìn thấy một người có cằm hơi cong như mỏ chim chích chòe, tôi nói anh ta chẳng khác gì chim chích choè có mỏ. Từ đó, tôi nghe đồn anh ta được mọi người gọi là Vua chích chòe.

Thấy tôi chê bai và giễu cợt tất cả mọi người xung quanh, vua cha nổi cơn thịnh nộ và ban truyền, nếu có người ăn mày nào đi qua cung vua, vua sẽ gả tôi cho người ấy.

Mấy hôm sau có một người hát rong đi qua, đứng ngây dưới cửa sổ cất tiếng hát, mong sẽ được ban thưởng cho vài xu. Nghe thấy vậy nhà vua ban truyền:

– Hãy cho tên hát rong vào đây!

Người hát rong đi vào cung vua, hát cho vua và tôi nghe, rồi đưa tay xin tiền thưởng. Nhà vua bảo:

– Ta rất thích tiếng hát của ngươi, vì vậy ta gả con gái ta cho ngươi.

Tôi sợ hãi, van xin nhưng vua cha vẫn kiên quyết:

– Cha đã thề rằng sẽ gả con cho người ăn mày đầu tiên đi qua cung vua, cha muốn giữ lời thề đó.

Lời van xin chẳng làm lay chuyển vua cha. Linh mục được mời ngay tới để làm hôn lễ của tôi lấy người hát rong. Hôn lễ cử hành xong, vua cha nói với tôi:

– Theo tục lệ, vợ một người hát rong không được ở lâu lại trong cung vua, giờ thì con phải theo chồng ra khỏi cung.

Tôi buồn bã đi theo người chồng của mình. Tới một khu rừng lớn, tôi hỏi:

– Rừng đẹp này của ai?

Anh ta nói:

– Rừng của Vua chích choè, nếu nàng lấy ông ta thì hẳn rừng đã là của nàng.

Tôi tiếc nuối thốt lên:

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Một lúc sau tới một thảo nguyên, tôi lại hỏi:

– Thảo nguyên xanh đẹp của ai?

– Thảo nguyên của Vua chích choè.

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Rồi chúng tôi tới một thành phố lớn, tôi lại hỏi:

– Thành phố mỹ lệ này của ai?

– Thành phố mỹ lệ của Vua chích choè.

– Tôi thật đáng thương, đáng lẽ ra tôi nên đồng ý lấy Vua chích chòe.

Chồng tôi liền nói:

– Tôi không hài lòng một chút nào, tại sao nàng lại cứ luôn luôn mong có người chồng khác, thế tôi không xứng đáng hay sao?

Tôi không nói được gì nữa, mà chỉ lặng lẽ đi theo sau. Tới một túp lều, tôi lại hỏi:

– Trời ơi, nhà ai mà nhỏ, thảm thương thế này?

Chồng tôi đáp:

– Nhà của chúng ta đó!

Tôi cúi người bước vào trong, rồi hỏi:

– Người hầu của anh đâu?

Anh ta trả lời:

– Người hầu nào? Muốn làm gì thì tự mình làm lấy. Giờ em hãy nhóm bếp nấu ăn đi, anh mệt lắm rồi.

Nhưng tôi nào có biết nhóm bếp và nấu ăn, chồng tôi đành phải nhúng tay vào làm công việc mới xong. Sau bữa ăn, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi. Ngày hôm sau, tôi bị chồng đánh thức dậy để làm việc nhà. Cứ như vậy mấy ngày thì lương ăn dự trữ hết. Người hát rong bảo tôi:

– Mình ạ, chỉ ngồi ăn không kiếm được thêm gì cả cứ như thế này mãi chắc không được lâu, hay là em đan sọt bán.

Anh ta vào rừng lấy tre nứa về, tôi phải chẻ lạt đan sọt. Nhưng bàn tay của tôi bị cạnh sắc của tre nứa cửa rỉ máu. Chồng nói với tôi:

– Thế thì không được, có lẽ dệt vải hợp với em hơn.

Tôi ngồi tập quay sợi, nhưng rồi những ngón tay lại bị sợi cứa chảy máu. Chồng tôi nói:

– Em chẳng thể làm được việc gì, sống với em thật khổ. Giờ thì chắc ta phải xoay ra đi buôn nồi và bát đĩa. Em ngồi ở chợ và bán hàng.

Tôi nghe vậy, thì nghĩ bụng:

– Nếu như dân nước mình họ tới đây mua bán, nhìn thấy mình họ sẽ cười nhạo mình mất.

Nhưng tôi vẫn phải làm theo lời chồng mình. Lúc đầu, khách đến mua khá đông, họ trả tiền hàng mà không hề mặc cả, thậm chí có người trả tiền nhưng không lấy hàng. Cuộc sống của vợ chồng tôi khá sung túc. Một lần nọ, tôi đang ngồi coi hàng thì có một anh chàng hiệp sĩ từ xa phi ngựa lao thẳng vào chợ làm cho đống hàng sành sứ của tôi đổ vỡ hết cả ra thành hàng nghìn mảnh lớn nhỏ ngổn ngang ở chợ. Tôi sợ hãi, ngồi ôm mặt khóc:

– Trời, khổ thân tôi thế này, còn mặt mũi nào mà nhìn chồng nữa?

Về nhà, tôi kể cho chồng nghe chuyện chẳng may ấy. Nghe xong chuyện, chồng tôi trách móc, rồi nói rằng đã hỏi được công việc phụ bếp trong cung cho tôi. Một hôm, trong cung vua tổ chức hôn lễ cho nhà vua, tò mò tôi cũng len vào đứng trước cửa ngõ vào. Khi đèn lần lượt được thắp sáng, cảnh đẹp lộng lẫy trong cung vua mới hiện lên hết. Tôi thấy vậy mà buồn tủi thay cho số phận của mình, tôi hối hận chỉ vì tính kiêu căng, ngông cuồng đã khiến mình trở nên như hôm nay. Bỗng nhiên nhà vua bước vào, lụa là châu báu đầy người, cổ đeo dây chuyền vàng. Nhà vua nhìn thấy tôi, bước tới tỏ ý muốn tôi nhảy cùng. Tôi sợ hãi lùi lại.

Tôi nhận ra đó là Vua chích chòe, liền giật tay lại nhưng chẳng ăn thua gì cả, vẫn bị người kéo vào tới giữa phòng làm dây buộc nồi đứt, hai cái nồi rơi xuống đất, súp và bánh mì vung ra khắp nền nhà. Khách khứa và những người đứng đó thấy cảnh tượng ấy đều bật cười và chêm pha những lời nhạo báng. Tôi vô cùng xấu hổ, giật mạnh một cái khỏi tay Vua chích choè, lao thẳng ra phía cửa để chạy trốn, nhưng mới tới được cầu thang lại bị một người đàn ông lôi lại, khi định thần lại được, nàng thấy người đó lại chính là Vua chích choè:

– Em đừng có sợ hãi, người hát rong sống chung với em trong căn lều lụp xụp chính là anh. C hính anh cũng là kỵ sĩ cho ngựa chạy đổ vỡ hết hàng sành sứ của em. Tất cả những việc đó chỉ nhằm uốn nắn tính kiêu ngạo của em.

Tôi nghe xong liền bật khóc:

– Em đã làm những điều sai trái, không xứng đáng là vợ của anh.

Nhưng chàng đã nói với tôi:

– Em đừng buồn nữa, những ngày cay đắng đã qua, giờ chúng ta hãy làm đám cưới.

Tôi nghe theo lời Vua chích chòe, vào thay quần áo. Toàn thể triều đình đều có mặt để chúc mừng.

Tại một vương quốc có một cô công chúa xinh đẹp tuyệt trần, nhưng tính tình lại kiêu ngạo. Một lần, nhà vua cho mời các chàng trai ở khắp các nước xa gần tới mở tiệc linh đình để chọn phò mã. Các vị khách đứng theo thứ bậc, trên cùng là vua các nước rồi các công tước, các ông hoàng, các bá tước, các nam tước, cuối cùng là những người dòng dõi quý tộc. Ta vốn là quốc vương nước láng giềng nên cũng được mời tới.

Công chúa được dẫn đi xem mắt. Người nào nàng cũng tìm ra điểm để giễu cợt họ. Đến lượt ta, nàng liền chế giễu ta có cái cằm chẳng khác gì chim chích choè có mỏ. Từ đó trở đi, mọi người bắt đầu gọi ta là Vua chích choè. Sau khi bị nàng châm chọc, ta cảm thấy rất tức giận, và quyết định sẽ trị thói kiêu căng của nàng.

Nghe tin vua cha của nàng nổi cơn thịnh nộ và ban truyền, nếu có người ăn mày nào đi qua hoàng cung, ông sẽ gả công chúa cho người đấy. Ta liền cải trang thành một người hát rong, đi đến trước hoàng cung và cất tiếng hát. Một lúc sau, nhà vua cho gọi ta vào, hát cho vua và công chúa nghe. Xong, nhà vua bảo với ta:

– Ta rất thích tiếng hát của ngươi, vì vậy ta gả con gái ta cho ngươi.

Ta thấy công chúa van xin, nhưng vẫn không thể lay chuyển được nhà vua. Ông nói:

– Cha đã thề rằng sẽ gả con cho người ăn mày đầu tiên đi qua cung vua, cha muốn giữ lời thề đó.

Một vị linh mục được mời ngay tới để làm hôn lễ của công chúa và ta. Hôn lễ cử hành xong, vua cha nói với công chúa:

– Theo tục lệ, vợ một người hát rong không được ở lâu lại trong cung vua, giờ thì con phải theo chồng ra khỏi cung.

Công chúa dù rất buồn bã, nhưng vẫn phải đi theo ta. Tới một khu rừng lớn, công chúa liền hỏi:

– Rừng đẹp này của ai?

Ta trả lời:

– Rừng của Vua chích choè, nếu nàng lấy ông ta thì hẳn rừng đã là của nàng.

Công chúa tiếc nuối thốt lên:

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Một lúc sau tới một thảo nguyên, nàng lại hỏi:

– Thảo nguyên xanh đẹp của ai?

Ta đáp:

– Thảo nguyên của Vua chích choè.

Công chúa lại than thở:

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Rồi họ tới một thành phố lớn, công chúa hỏi tiếp:

– Thành phố mỹ lệ này của ai?

Ta đáp:

– Thành phố mỹ lệ của Vua chích choè.

Nàng bật khóc, than rằng:

– Tôi thật đáng thương, đáng lẽ ra tôi nên đồng ý lấy Vua chích chòe.

Ta nói:

– Tôi không hài lòng một chút nào, tại sao nàng lại cứ luôn luôn mong có người chồng khác, thế tôi không xứng đáng hay sao?

Công chúa không nói được gì nữa, mà chỉ lặng lẽ đi theo sau. Tới một túp lều, nàng hỏi ta:

– Trời ơi, nhà ai mà nhỏ, thảm thương thế này?

Ta liền trả lời:

– Nhà của chúng ta đó!

Nàng phải cúi người xuống mới bước vào trong được, rồi hỏi:

– Người hầu của anh đâu?

Ta nói với nàng:

– Người hầu nào? Muốn làm gì thì tự mình làm lấy. Giờ em hãy nhóm bếp nấu ăn đi, anh mệt lắm rồi.

Ta biết ngay rằng công chúa nào có biết nhóm bếp và nấu ăn, cuối cùng phải tự nhúng tay vào làm công việc mới xong. Sau bữa ăn, hai vợ chồng ta mệt mỏi ngủ thiếp đi. Ngày hôm sau, ta liền đánh thức dậy làm việc nhà. Cứ như vậy mấy ngày thì lương ăn dự trữ hết. Ta nói với công chúa:

– Mình ạ, chỉ ngồi ăn không kiếm được thêm gì cả cứ như thế này mãi chắc không được lâu, hay là em đan sọt bán.

Sau đó, ta vào rừng lấy tre nứa về, còn công chúa phải chẻ lạt đan sọt. Nhưng bàn tay của nàng bị cạnh sắc của tre nứa cửa rỉ máu. Ta thấy vậy, dù rất đau lòng, nhưng vẫn nói với nàng:

– Thế thì không được, có lẽ dệt vải hợp với em hơn.

Nàng ngồi tập quay sợi, nhưng rồi những ngón tay lại bị sợi cứa chảy máu. Ta lại bảo với công chúa:

– Em chẳng thể làm được việc gì, sống với em thật khổ. Giờ thì chắc ta phải xoay ra đi buôn nồi và bát đĩa. Em ngồi ở chợ và bán hàng.

Advertisement

Công chúa không mấy vui vẻ, nhưng vẫn phải đồng ý. Lúc đầu, công việc diễn ra khá suôn sẻ. Nhưng một hôm, nàng chạy về khóc lóc kể cho ra nghe chuyện nồi niêu, bát đĩa đã bị vỡ hết. Nghe xong chuyện, ta liền trách móc nàng:

– Đời thuở nhà ai bán sành sứ mà lại ngồi ngay đầu chợ chỗ người ta qua lại, khóc làm chi nữa. Anh thấy em chẳng làm gì cho đến đầu đến cuối. Lúc nãy, anh có đến cung vua hỏi xem nhà bếp có cần người phụ không, họ hứa sẽ nhận em vào làm và nuôi cơm.

Công chúa giờ đây đã là một chị phụ đầu bếp. Nàng đã bớt đi thói kiêu ngạo, và chịu khó làm ăn. Ta quyết định sẽ nói rõ mọi chuyện với nàng. Ta cho tổ chức tiệc linh đình. Khi nhìn thấy công chúa, ta bước tới tỏ ý muốn nàng nhảy cùng. Nàng liền giật tay lại tỏ ý từ chối, nhưng chẳng ăn thua gì cả, vẫn bị ta kéo vào tới giữa phòng làm dây buộc nồi đứt, hai cái nồi rơi xuống đất, súp và bánh mì vung ra khắp nền nhà. Khách khứa và những người đứng đó thấy cảnh tượng ấy đều bật cười và chêm pha những lời nhạo báng. Công chúa vô cùng xấu hổ, giật mạnh một cái khỏi tay ta, rồi lao thẳng ra phía cửa để chạy trốn. Ta chạy theo và nói với công chúa:

– Em đừng có sợ hãi, người hát rong sống chung với em trong căn lều lụp xụp chính là anh. Chính anh cũng là kỵ sĩ cho ngựa chạy đổ vỡ hết hàng sành sứ của em. Tất cả những việc đó chỉ nhằm uốn nắn tính kiêu ngạo của em.

Nàng nói:

– Em đã làm những điều sai trái, không xứng đáng là vợ của anh.

Ta liền an ủi nàng:

– Em đừng buồn nữa, những ngày cay đắng đã qua, giờ chúng ta hãy làm đám cưới.

Công chúa nghe theo lời ta, vào thay quần áo. Toàn thể triều đình đều có mặt để chúc mừng.

Một buổi trưa nọ, tôi và cha đang phải cày ruộng. Bất chợt, tôi thấy một người đàn ông ăn mặc sang trọng cưỡi ngựa đến, có lẽ là quan của nhà vua, ông bèn hỏi cha tôi:

– Này ông kia, trâu này một ngày cày được bao nhiêu đường?

Cha tôi nghe xong thì ngớ người. Tôi nghĩ bụng, ai đời lại đi hỏi câu kì lạ như vậy, chắc chắn là muốn trêu người khác rồi, tôi liền hỏi lại:

– Vậy xin quan trả lời con ngựa kia một ngày đi được bao nhiêu bước,thì tôi sẽ nói cho quan biết con trâu đi được bao nhiêu đường?

Quan lúng túng không biết trả lời, rồi quan bỗng hỏi tên hai cha con, tôi cũng không nghĩ nhiều mà khai báo.

Mấy tuần sau, làng tôi nhận được chiếu vua, vua ban cho làng ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, năm sau làng phải nuôi cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, thiếu con nào thì sẽ bị phạt. Mọi người đều biết chuyến này lành ít dữ nhiều, được vua quan tâm thì tốt nhưng ai lại làm được trâu đực đẻ con? Cái khó ló cái khôn, tôi chợt nảy ra một kế. Tôi nói với cha:

– Cha cứ bảo cả làng lấy hai con trâu và hai thúng gạo mà ăn, còn lại thì bán đi để hai cha con ta lên kinh thành.

Cha và mọi người lúc đầu còn lo lắng nhưng nghe tôi trấn an, còn làm giấy cam đoan với làng thì yên tâm hơn.

Lên đến kinh vua, nhân lúc lính canh không để ý, tôi lẻn vào sân rồng khóc ầm lên làm nhà vua đang chầu triều phải dừng lại, điệu tôi vào trong. Vua hỏi:

– Thằng bé kia, tại sao lại đến đây mà khóc?

Tôi mới ấm ức phân bua:

– Mẹ con chết sớm mà cha không chịu đẻ em bé cho con chơi, con buồn lắm. Kính vua ra lệnh bắt cha con phải đẻ em bé cho con…

Cả triều đình cười rộ lên, vua tủm tỉm giải thích:

– Cha mày là giống đực, làm sao mà đẻ con được?

Tôi nhanh nhảu đáp lại:

– Vậy sao vua lại bắt làng con làm trâu đực đẻ con?

Vua nhớ ra, cười nói:

– Cái đấy là thử, làng ngươi phải biết thịt trâu mà ăn chứ!

– Làng chúng con nhận được trâu và gạo liền biết đó là lộc vua ban đã làm cỗ ăn mừng rồi.

Hôm sau, tôi và cha đang ăn cơm, bỗng có người của vua mang một con chim sẻ bắt tôi phải dọn ba mâm cỗ, tôi biết ngài là vua lại thử mình liền đưa cho anh lính cây kim nhờ vua rèn thành một con dao để xẻ thịt chim. Cha con tôi được ban thưởng hậu hĩnh.

Một hôm, tôi đang ở nhà chơi với bạn, có sứ thần mang một cái vỏ ốc rất dài bị rỗng hai đầu, ông nhờ tôi dùng sợi chỉ mảnh xuyên qua vỏ ốc. Tôi liền hát:

Mãi về sau khi đã thành trạng nguyên, tôi mới hiểu được, sự nhanh trí lần đó của mình đã cứu nước khỏi giặc ngoại xâm.

– Này, lão kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?

Tôi lúng túng, chưa biết trả lời sao thì thằng bé đã nhanh miệng hỏi lại:

– Thế xin hỏi ông câu này đã. Nếu ông trả lời được ngựa của ông đi một ngày được mấy bước tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

Nhận lệnh vua, cả làng đều lo lắng. Khi trở về nhà, thằng bé liền nói với tôi:

– Chả mấy khi được lộc vua ban, bố cứ thưa với làng làm thịt hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho bố con ta trẩy kinh lo việc đó.

Tôi tỏ ý nghi ngờ, nói với thằng bé:

– Lệnh vua ban như thế, sao dân làng dám cãi lại. Con đừng nghĩ như vậy mà rồi gặp họa.

Thằng bé vẫn kiên quyết, nói đã nghĩ ra cách rồi. Hôm sau, tôi dậy sớm, đi ra đình để nói với dân làng. Cả làng nghe nói ban đầu vô cùng ngờ vực, bắt cha con tôi phải làm giấy cam đoan, mới dám ngả trâu đánh chén.

Còn tôi và thằng bé khăn gói tìm đường tiến kinh. Đến hoàng cung, thằng bé bảo tôi đứng ở ngoài, còn nó thì lẻn vào sân rồng khóc um lên. Tôi lấy làm lo lắng lắm, nhưng chỉ biết đứng chờ bên ngoài. Sau khi ra ngoài, nghe thằng bé kể lại tôi mới rõ mọi chuyện. Sau khi vào trong, nhà vua đã hỏi thằng bé:

– Thằng bé kia, ngươi có việc gì oan ức, sao phải tới đây mà khóc làm ầm ĩ cả hoàng cũng vậy?

Nó bình tĩnh trả lời:

– Tâu đức vua con đá mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.

Nghe nói, vua và các triều thần đều bật cười. Vua phán:

– Muốn có em thì phải kiếm vợ khác cho bố, chứ bố ngươi là giống đực, làm sao mà đẻ được!

Nó nói tiếp:

– Thế sao vua lại bắt làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp lên vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được kia chứ!

Vua cười bảo:

– Ta thử đấy thôi mà! Thế làng chúng mày không biết đem trâu ấy ra thịt mà ăn với nhau à?

Thằng bé hớn hở đáp:

– Tâu đức vua, làng chúng con sau khi nhận được trâu và gạo nếp, biết là lộc của đức vua, cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau rồi.

Nhà vua tỏ ra hài lòng lắm, liền ban thưởng cho thằng bé, rồi cho người đưa hai cha con tôi về quán trọ. Hôm sau, hai cha con tôi đang ngồi ăn ở quán trọ. Bỗng có sứ nhà vua mang tới cho một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Nhanh chóng suy nghĩ, thằng bé liền bảo tôi lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:

– Phiền ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.

Lập tức, vua cho gọi cả hai cha con tôi vào, ban thưởng rất hậu. Bấy giờ, có nước láng giềng lúc nào cũng lăm le xâm lược đất nước ta. Họ cử viên viên sứ giả sang thăm dò xem nước ta có nhân tài nào không. Viên sứ giả đến mang theo một con ốc vặn dài, rỗng hai đầu và một sợi chỉ mảnh, đố các quan trong triều làm thế nào để xâu được sợi chỉ qua ruột ốc. Các quan làm đủ mọi cách: người thì dùng miệng hút, người bôi sáp vào sợi chỉ cho cứng để dễ xâu. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Vua bèn mời sứ giả ở lại cùng nghỉ ngơi vài ngày, kéo dài thời gian cho người đi hỏi ý kiến con trai tôi. Lúc đó, tôi đang cặm cụi trong bếp. Còn thằng bé thì đang chơi ngoài sân cùng lũ bạn. Nghe chuyện, nó chỉ liền hát một câu:

……… Mời tham khảo chi tiết tại file tại bên dưới ……..

Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Nhân Vật Thống Lí Pá Tra Trong Vợ Chồng A Phủ Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài

Phân tích nhân vật thống lí Pá Tra trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài gồm dàn ý chi tiết và bài văn mẫu hay nhất. Thông qua tài liệu này các bạn lớp 12 có thêm nhiều gợi ý tham khảo, trau dồi ngôn ngữ rèn kỹ năng viết văn phân tích nhân vật ngày một hay hơn.

I. Mở bài

Đôi nét về tác giả, tác phẩm

Giới thiệu nhân vật Pá Tra.

II. Thân bài

*Phân tích hình ảnh Pá Tra.

Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” thấm đẫm chất hiện thực. Dưới ngòi bút hiện thực sắc sảo của một nhà văn tài năng, cuộc sống đau thương của người dân vùng cao và hình ảnh của bọn thống trị hiện lên thật cụ thể, rõ nét. Thống lí Pá Tra trong câu chuyện là nhân vật đại diện cho chế độ cai trị độc địa, sự tàn ác, vô nhân đạo của bọn tay sai thực dân, chúa đất lúc bấy giờ. Thời gian được phản ánh trong truyện là một thời kì đáng nhớ của lịch sử dân tộc, thời đại mà đồng bào Tây Bắc sống tăm tối, bị áp bức, bóc lột trước ngày giải phóng. Một nhà văn đã từng nói: “Nhân vật trong tác phẩm của một thiên tài thực sự nhiều khi thật hơn cả con người ngoài đời, bởi sức sống lâu bền, bởi ý nghĩa điển hình của nó. Qua nhân vật, ta thấy cả một tầng lớp, một giai cấp, một thời đại”, Pá Tra là một nhân vật điển hình như thế. Tác phẩm đã phản ánh chân thực bức tranh xã hội Tây Bắc trước ngày giải phóng, điều này có ý nghĩa khai phá. Ở đây còn tồn tại chế độ phong kiến, chúa đất với những chức sắc thống lí, xéo phải,… một kiểu phong kiến miền núi bạo tàn, khắc nghiệt hơn nhiều so với chế độ phong kiến miền xuôi trong văn Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…

– Trước hết, Pá Tra là một người giàu có. Mở đầu câu chuyện, Tô Hoài viết: “Người ta thường nói: nhà Pá Tra làm thống lí, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” . Cách giới thiệu câu chuyện của Tô Hoài nhẹ nhàng man mác hơi thở của cổ tích mà Mị là nhân vật hiền từ, bị áp bức, Pá Tra là tên tay sai bán nước man rợ dã tâm. Ngay cả việc mỗi năm bố Mị phải trả một nương ngô cho nhà thống lí vì món nợ “truyền kiếp” mà ngày xưa bố Mị phải vay của bố thống lí Pá Tra bây giờ cũng đủ biết hắn ta xảo trá đến nhường nào. Sự giàu sang của Pá Tra là do “ăn của dân nhiều”, bao nhiều mồ hôi, nước mắt, công sức của người dân bị Pá Tra nuốt trọn. Trong xã hội ấy, những người giàu đó đa phần là những người lừa lọc, gian hùng, tham lam, tàn ác. Bởi thế, ngay khi thống lí Pá Tra đến bảo bố Mị: “Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho”, Mị xót xa chối từ: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”.

– Lối sống của Pá Tra là lối sống trụy lạc, đắm chìm trong những thú vui sa đọa mà thuở ấy thực dân Pháp tìm cách du nhập vào nước ta, làm biến chất nhân dân ta. Pá Tra chìm trong cơn nghiện ngập, lúc nằm nghỉ, lúc xử tội A Phủ hắn đều rít thuốc phiện: “Trong nhà ông thống lí bày ra năm cái bàn đèn. Khối thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp”, “trên nhất là thống lí Pá Tra, thống lí Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến người khác hút, lại người khác hút, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về kiện”.

– Pá Tra đã dùng thần quyền, cường quyền và tiền quyền biến người lao động nghèo khổ trở thành nô lệ không công suốt đời cho hắn. Bản chất ngang ngược, độc địa, vô nhân tính là bản chất của Pá Tra. Điều này góp phần làm tăng tính chân thực của tác phẩm. Cuộc đời của Mị (con dâu gạt nợ) và A Phủ (đứa ở trừ nợ) là cuộc đời của những kẻ nô lệ mang thân phận khổ đau, là những nạn nhân tiêu biểu của chế độ dã man khi ấy. Những nhân chứng hùng hồn này đã làm cho độc giả thấy được bộ mặt thật của bọn thống trị miền núi.

+ Pá Tra đã dùng cường quyền hung bạo để đày đọa con người: Hành động cho người bắt Mị về làm con dâu gạt nợ rồi mới cho A Sử về nhà bố Mị báo tin “đã cướp được con gái bố làm vợ” là hành động của kẻ tiểu nhân, xảo quyệt, gian hùng. Từ đây, một đoạn đời đau khổ của Mị được mở ra: quẩn quanh, buồn tẻ, mất đi lòng ham sống. Ở đây, trên danh nghĩa Mị là con dâu nhà thống lí Pá Tra giàu có, vợ A Sử, dưới danh nghĩa lại là con ở không công. Mị bị bóc lột sức lao động, bị hành hạ, đánh đập, tước đoạt quyền sống, quyền hạnh phúc vốn có của một con người. Đã bao lần Mị tìm đến cái chết để giải thoát, nhưng rồi lại thôi. Chính việc Mị không còn muốn chết, “Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa” mới là điều đau đớn. Cha con thống lí đã biến Mị trở nên vô tri, mất đi nhận thức về nỗi khổ của mình.

+ Pá Tra đã dùng thần quyền để giam hãm tâm hồn con người. Bắt Mị về hắn cũng cúng trình con ma, “tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đương rập rờn nhảy múa” ngoài tấm vách bất giác người đọc rờn rợn bởi thủ đoạn “giam lỏng” con người của thống lí Pá Tra. Khi Pá Tra cho A Phủ vay tiền để trả nợ cho hắn thì hắn cũng “đốt hương, lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay nợ”. Qua những chi tiết khắc họa hủ tục phong kiến lạc hậu trong truyện: tiếng nhạc sinh tiền, mùi hương khói, những buổi lễ âm u, những nghi thức cầu ma, chồng có quyền trói vợ hàng mấy ngày trong buồn tối, bắt người đàn bà theo đuôi con ngựa nhà chồng quanh năm suốt tháng… đã thể hiện sự am hiểu về phong tục của tác giả, đồng thời cũng phác họa bức tranh thiên nhiên phong tục Tây Bắc nhiều màu sắc, một gam màu u ám, ma mị, đậm chất hiện thực.

+ Trong phiên tòa xử kiện vụ án A Phủ đánh con quan, người đọc thấy được bản chất thâm độc, hung tợn của Pá Tra. Ở Hồng Ngài, cha con Pá Tra là vua, ai đụng phải cũng đều chịu những hình phạt dã man, đau đớn của hắn. Khi A Phủ bị giải về nhà thống lí, A Phủ liên tục bị đánh: “A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất, chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ”. Cứ mỗi đợt thống lí hút thuốc phiện xong, A Phủ lại bị “người xô đến đánh. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu”. Nhà văn hạ bút viết câu văn nhẹ nhàng mà đau xót biết bao: “Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Thống lí Pá Tra là tên lọc lõi, mưu mô. Hắn biến A Phủ thành một công cụ hữu hiệu để hắn thống trị Hồng Ngài một cách dễ dàng. Hình phạt của A Phủ mà hắn đưa ra là “Nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan làng về năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua đến hôm nay”. Mọi lợi lộc đều về phần quan, Pá Tra chẳng mất gì, còn A Phủ thì phải ở đợ cho hắn đến suốt đời, suốt kiếp.

+ Cha con nhà thống lí coi rẻ sinh mạng con người. Ở đây, ta thấy được chế độ phong kiến miền núi còn đầu địa, bạo tàn hơn chế độ phong kiến miền xuôi. Cha con Pá Tra tự trao cho mình cái quyền sinh sát khi trong tay mình là những con nợ hắn dùng thủ đoạn cướp về. A Sử đánh Mị không thương tiếc, A Phủ bị hành hạ dã man, và bao người đã đang và sẽ tiếp tục bị hành hạ như vậy: “Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lí Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi”. Cảnh Mị bị trói ngay khi Mị sắp trở về với cuộc sống bình thường, với chính mình, trông thật thảm hại: “tay chân đau không cựa được”, “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.

Cảnh “A phủ bị trói chờ chết” và nỗi lo lắng của Mị: “Biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy”. Những chi tiết này đã cho thấy bản chất độc ác, tàn nhẫn coi rẻ mạng người của thống lí Pá Tra. Một mạng người trong tay thống lí có thể bị cướp đi bất kì lúc nào, cho thấy sự gian hùng, tàn nhẫn của giai cấp thống trị, sự độc ác vô nhân tính của chúng.

III. Kết bài

– Cảm nhận, suy nghĩ về nhân vật Pá Tra

Tố Hữu từng cho rằng: “Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học”. Hiện thực cuộc sống luôn là mảnh đất màu mỡ, phong phú mà nguồn cảm hứng của người nghệ sĩ là ngọn gió mát lành âm ĩ thổi vào, phản ánh thông qua tác phẩm văn học. Thiên chức cao quý của văn học bên cạnh việc xây dựng những hình tượng hướng đến giá trị Chân, Thiện, Mĩ của cuộc sống còn là việc vạch trần, phê phán, lên án bản chất xấu xa hay những hành động chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc con người. Hình ảnh bọn phong kiến tay sai của thực dân Pháp và bè lũ bán nước trong xã hội cũ cũng là một khía cạnh để văn học soi chiếu. Nếu như trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố có Nghị Quế, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan có Nghị Lại, “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng có Nghị Hách thì trong “Vợ chồng A Phủ” – câu chuyện của những người lao động vùng cao Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài – có hình ảnh thống lí Pá Tra, một nhân vật phản diện đại diện sự tàn bạo, ác độc của tay sai thực dân, chúa đất áp bức đày đọa, giam hãm con người. Mị trong tác phẩm là nạn nhân của sự đày ải đớn đau đó.

Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” thấm đẫm chất hiện thực. Dưới ngòi bút hiện thực sắc sảo của một nhà văn tài năng, cuộc sống đau thương của người dân vùng cao và hình ảnh của bọn thống trị hiện lên thật cụ thể, rõ nét. Thống lí Pá Tra trong câu chuyện là nhân vật đại diện cho chế độ cai trị độc địa, sự tàn ác, vô nhân đạo của bọn tay sai thực dân, chúa đất lúc bấy giờ. Thời gian được phản ánh trong truyện là một thời kì đáng nhớ của lịch sử dân tộc, thời đại mà đồng bào Tây Bắc sống tăm tối, bị áp bức, bóc lột trước ngày giải phóng. Một nhà văn đã từng nói: “Nhân vật trong tác phẩm của một thiên tài thực sự nhiều khi thật hơn cả con người ngoài đời, bởi sức sống lâu bền, bởi ý nghĩa điển hình của nó. Qua nhân vật, ta thấy cả một tầng lớp, một giai cấp, một thời đại”, Pá Tra là một nhân vật điển hình như thế. Tác phẩm đã phản ánh chân thực bức tranh xã hội Tây Bắc trước ngày giải phóng, điều này có ý nghĩa khai phá. Ở đây còn tồn tại chế độ phong kiến, chúa đất với những chức sắc thống lí, xéo phải,… một kiểu phong kiến miền núi bạo tàn, khắc nghiệt hơn nhiều so với chế độ phong kiến miền xuôi trong văn Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…

Trước hết, Pá Tra là một người giàu có. Mở đầu câu chuyện, Tô Hoài viết: “Người ta thường nói: nhà Pá Tra làm thống lí, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” . Cách giới thiệu câu chuyện của Tô Hoài nhẹ nhàng man mác hơi thở của cổ tích mà Mị là nhân vật hiền từ, bị áp bức, Pá Tra là tên tay sai bán nước man rợ dã tâm. Ngay cả việc mỗi năm bố Mị phải trả một nương ngô cho nhà thống lí vì món nợ “truyền kiếp” mà ngày xưa bố Mị phải vay của bố thống lí Pá Tra bây giờ cũng đủ biết hắn ta xảo trá đến nhường nào. Sự giàu sang của Pá Tra là do “ăn của dân nhiều”, bao nhiều mồ hôi, nước mắt, công sức của người dân bị Pá Tra nuốt trọn. Trong xã hội ấy, những người giàu đó đa phần là những người lừa lọc, gian hùng, tham lam, tàn ác. Bởi thế, ngay khi thống lí Pá Tra đến bảo bố Mị: “Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho”, Mị xót xa chối từ: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”.

Lối sống của Pá Tra là lối sống trụy lạc, đắm chìm trong những thú vui sa đọa mà thuở ấy thực dân Pháp tìm cách du nhập vào nước ta, làm biến chất nhân dân ta. Pá Tra chìm trong cơn nghiện ngập, lúc nằm nghỉ, lúc xử tội A Phủ hắn đều rít thuốc phiện: “Trong nhà ông thống lí bày ra năm cái bàn đèn. Khối thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp”, “trên nhất là thống lí Pá Tra, thống lí Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến người khác hút, lại người khác hút, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về kiện”.

Pá Tra đã dùng thần quyền, cường quyền và tiền quyền biến người lai động nghèo khổ trở thành nô lệ không công suốt đời cho hắn. Bản chất ngang ngược, độc địa, vô nhân tính là bản chất của Pá Tra. Điều này góp phần làm tăng tính chân thực của tác phẩm. Cuộc đời của Mị (con dâu gạt nợ) và A Phủ (đứa ở trừ nợ) là cuộc đời của những kẻ nô lệ mang thân phận khổ đau, là những nạn nhân tiêu biểu của chế độ dã man khi ấy. Những nhân chứng hùng hồn này đã làm cho độc giả thấy được bộ mặt thật của bọn thống trị miền núi.

Pá Tra đã dùng cường quyền hung bạo để đày đọa con người: Hành động cho người bắt Mị về làm con dâu gạt nợ rồi mới cho A Sử về nhà bố Mị báo tin “đã cướp được con gái bố làm vợ” là hành động của kẻ tiểu nhân, xảo quyệt, gian hùng. Từ đây, một đoạn đời đau khổ của Mị được mở ra: quẩn quanh, buồn tẻ, mất đi lòng ham sống. Ở đây, trên danh nghĩa Mị là con dâu nhà thống lí Pá Tra giàu có, vợ A Sử, dưới danh nghĩa lại là con ở không công. Mị bị bóc lột sức lao động, bị hành hạ, đánh đập, tước đoạt quyền sống, quyền hạnh phúc vốn có của một con người. Đã bao lần Mị tìm đến cái chết để giải thoát, nhưng rồi lại thôi. Chính việc Mị không còn muốn chết, “Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa” mới là điều đau đớn. Cha con thống lí đã biến Mị trở nên vô tri, mất đi nhận thức về nỗi khổ của mình.

Advertisement

Pá Tra đã dùng thần quyền để giam hãm tâm hồn con người. Bắt Mị về hắn cũng cúng trình con ma, “tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đương rập rờn nhảy múa” ngoài tấm vách bất giác người đọc rờn rợn bởi thủ đoạn “giam lỏng” con người của thống lí Pá Tra. Khi Pá Tra cho A Phủ vay tiền để trả nợ cho hắn thì hắn cũng “đốt hương, lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay nợ”. Qua những chi tiết khắc họa hủ tục phong kiến lạc hậu trong truyện: tiếng nhạc sinh tiền, mùi hương khói, những buổi lễ âm u, những nghi thức cầu ma, chồng có quyền trói vợ hàng mấy ngày trong buồn tối, bắt người đàn bà theo đuôi con ngựa nhà chồng quanh năm suốt tháng… đã thể hiện sự am hiểu về phong tục của tác giả, đồng thời cũng phác họa bức tranh thiên nhiên phong tục Tây Bắc nhiều màu sắc, một gam màu u ám, ma mị, đậm chất hiện thực.

Trong phiên tòa xử kiện vụ án A Phủ đánh con quan, người đọc thấy được bản chất thâm độc, hung tợn của Pá Tra. Ở Hồng Ngài, cha con Pá Tra là vua, ai đụng phải cũng đều chịu những hình phạt dã man, đau đớn của hắn. Khi A Phủ bị giải về nhà thống lí, A Phủ liên tục bị đánh: “A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất, chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ”. Cứ mỗi đợt thống lí hút thuốc phiện xong, A Phủ lại bị “người xô đến đánh. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt giập chảy máu”. Nhà văn hạ bút viết câu văn nhẹ nhàng mà đau xót biết bao: “Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Thống lí Pá Tra là tên lọc lõi, mưu mô. Hắn biến A Phủ thành một công cụ hữu hiệu để hắn thống trị Hồng Ngài một cách dễ dàng. Hình phạt của A Phủ mà hắn đưa ra là “Nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan làng về năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua đến hôm nay”. Mọi lợi lộc đều về phần quan, Pá Tra chẳng mất gì, còn A Phủ thì phải ở đợ cho hắn đến suốt đời, suốt kiếp.

Cha con nhà thống lí coi rẻ sinh mạng con người. Ở đây, ta thấy được chế độ phong kiến miền núi còn đầu địa, bạo tàn hơn chế độ phong kiến miền xuôi. Cha con Pá Tra tự trao cho mình cái quyền sinh sát khi trong tay mình là những con nợ hắn dùng thủ đoạn cướp về. A Sử đánh Mị không thương tiếc, A Phủ bị hành hạ dã man, và bao người đã đang và sẽ tiếp tục bị hành hạ như vậy: “Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lí Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi”. Cảnh Mị bị trói ngay khi Mị sắp trở về với cuộc sống bình thường, với chính mình, trông thật thảm hại: “tay chân đau không cựa được”, “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.

Cảnh “A Phủ bị trói chờ chết” và nỗi lo lắng của Mị: “Biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy”. Những chi tiết này đã cho thấy bản chất độc ác, tàn nhẫn coi rẻ mạng người của thống lí Pá Tra. Một mạng người trong tay thống lí có thể bị cướp đi bất kì lúc nào, cho thấy sự gian hùng, tàn nhẫn của giai cấp thống trị, sự độc ác vô nhân tính của chúng.

Pá Tra là một nhân vật điển hình. Tính cách và bản chất của hắn tiêu biểu cho bọn tay sai, chúa đất phong kiến hoành hành thống trị miền núi Tây Bắc trước ngày giải phóng. Tô Hoài đã dùng bút pháp hiện thực, ngôn ngữ nhẹ nhàng mà đanh thép, gay gắt để vạch trần, tố cáo bộ mặt giả tạo, gian tà của thống lí Pá Tra. Giá trị hiện thực của câu chuyện nằm ở chỗ ấy.

8 Bài Văn Phân Tích Văn Bản “Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình” Của G.g Mác

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 8

Thế giới hòa bình là mong ước và khao khát của rất nhiều người trên thế giới. Nhân loại tiến bộ luôn đấu tranh để thế giới không còn chiến tranh không còn sự phân biệt chủng tộc tôn giáo để mọi người có thể chung sống trong hòa bình và hạnh phúc. Bài viết đấu tranh cho một thế giới hòa bình chính là một lời để kêu gọi toàn nhân loại đoàn kết ngăn chặn chiến tranh để bảo vệ hòa bình và bảo vệ sự sống trên Trái Đất.

Tác phẩm được viết bởi nhà văn nổi tiếng của Colombia là G. Mác-két. Viết trong hoàn cảnh sau đại chiến thế giới thứ 2 kết thúc và phát xít Đức, Ý, Nhật Bản đã thất bại hoàn toàn trước sức mạnh của phe đồng minh Anh, Nga, Mỹ. Thế giới bước sang một trang mới trong đó có cuộc chạy đua vũ trang giữa các cường quốc dẫn tới nguy cơ đe dọa bởi chiến tranh vũ trang đặc biệt là hạt nhân. bài viết đấu tranh cho một thế giới hòa bình thuộc thể loại nghị luận để bày tỏ sự quan ngại sâu sắc của tác giả trước hiểm họa hạt nhân. Với những lập luận sắc bén và hệ thống dẫn chứng cụ thể chính xác đã tạo nên một bài viết nghị luận đầy tính thuyết phục mang ý nghĩa nhân đạo lớn lao nhằm thức tỉnh loài người trước nguy cơ chiến tranh hạt nhân.

Phần đầu tác phẩm tác giả đã đưa ra con số khủng khiếp gây chấn động mạnh cho người đọc. Tính đến ngày mùng 8 tháng 8 năm 1986 có tới 50000 hạt nhân được bố trí ở khắp hành tinh, bình quân mỗi người ngồi trên 4 tấn thuốc nổ. Nếu tất cả nổ tung thì mọi sự sống trên Trái Đất sẽ bị biến mất. Con số mà tác giả đưa ra đã có sự tác động cả đến người lạnh lùng nhất dửng dưng nhất trước vấn đề thời sự. Tác giả đã sử dụng tuyệt đẹp phép so sánh khiến cho những khái niệm trừu tượng nhất trở nên dễ hiểu mình với tất cả mọi người không phân biệt trình độ văn hóa hay dân tộc và tiếng nói. Những luận điểm mà ông đưa ra đều dựa trên cơ sở các văn bản và công ước quốc tế.

Các lĩnh vực như giáo dục, y tế, lương thực thực phẩm và quan trọng nhất là sự sống của con người và các sinh vật khác. Hệ thống dẫn chứng tiêu biểu và toàn diện mang tính chất tương phản rất rõ: dự định của UNICEF về chương trình giải quyết các vấn đề cấp bách cho hơn 500 triệu trẻ em nghèo trên khắp thế giới không thể thực hiện được vì không có đủ số tiền là 100 tỷ đô la. Điều này tương phản với việc chi phí dành cho cuộc chạy đua vũ trang trong đó: giá của 100 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện chương trình phòng bệnh trong 14 năm, giá 100 chiếc tàu sân bay chế tạo tên lửa đủ cung cấp thực phẩm cho các nước nghèo trong 4 năm, Hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân mang giá trị tương đương với số tiền dành để xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới…

Những con số những sự tương phản đáng kinh ngạc. Nhà văn đã lên án chiến tranh hạt nhân phi nhân đạo đã làm hao tổn biết bao nhiêu tiền của mà nếu dành số tiền ấy thì có thể khiến cho nhân loại phát triển hơn. Cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là cuộc chạy đua đi ngược lại với lý trí và quá trình tiến hóa của tự nhiên. Đó chính là sự cảnh cáo trực tiếp của tác giả bài viết này. Chỉ cần một cái nhấn nút là đưa cả quá trình tiến hóa của hàng triệu loài trên trái đất quay trở lại mốc xuất phát ban đầu. Có thể thấy được sự bức xúc cao độ của nhà văn kiến cho ông lập luận một cách sắc bén và đầy tính thuyết phục. những số liệu trực tiếp những con số về nâng sách quân sự chi phí để chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kỳ tốn kém. Với cách sử dụng biện luận tương phản về thời gian cũng như sự tương phản giữa chi phí chiến tranh với chi phí phát triển các lĩnh vực khác.

Đến luận điểm thứ ba của Mác-két đó là lời kêu gọi của ông chống lại chiến tranh hạt nhân chống lại cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Kêu gọi mọi người: “Hãy tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình công bằng”. Ông đã có một đề nghị táo bạo đó là “mở ra một nhà băng lưu chị nhớ có thể tồn tại được sau tai họa hạt nhân” để nhân loại tương lai biết rằng sự sống đã từng tồn tại và biết đến thủ phạm đã gây ra sự lo sợ đau khổ cho con người, biết những tên mắt điếc tai ngơ trước những lời khẩn cầu hòa bình kêu gọi để được sống hạnh phúc.

Văn bản đấu tranh cho một thế giới hòa bình chứa đựng ý nghĩa nhân đạo to lớn và sâu sắc. Qua đó còn thể hiện trí tuệ và tâm hồn của Mác-két. Ông xứng đáng với giải thưởng Nobel cao quý mà ông đã được trao tặng.

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 7

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 8

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà trình độ khoa học kỹ thuật đang phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc: những thành tựu của ngày hôm nay, rất có thể chỉ ngày mai đã thành lạc hậu. Đã từng có những ý kiến bi quan cho rằng: trong khi của cải xã hội tăng theo cấp số cộng thì dân số trái đất lại tăng theo cấp số nhân, con người sẽ ngày càng đói khổ. Tuy nhiên, nhờ có sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, của cải xã hội ngày càng dồi dào hơn, số người đói nghèo ngày càng giảm đi…

Đó là những yếu tố tích cực trong sự phát triển của khoa học mà phần lớn chúng ta đều nhận thấy. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó thì hầu như rất ít người có thể nhận thức được. Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-két đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại trước nguy cơ đang hiện hữu của một cuộc chiến tranh hạt nhân thảm khốc có khả năng huỷ diệt toàn bộ sự sống trên hành tinh xanh mà phương tiện của cuộc chiến tranh ấy, mỉa mai thay lại là hệ quả của sự phát triển khoa học như vũ bão kia.

Vấn đề được khơi gợi hết sức ấn tượng: “Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 – 8 – 1986, hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái Đất”.

Sức tác động của đoạn văn này chủ yếu bởi những con số thống kê cụ thể: 50.000 đầu đạn hạt nhân; 4 tấn thuốc nổ; không phải một lần mà là mười hai lần… Thông điệp về nguy cơ huỷ diệt sự sống được truyền tải với một khả năng tác động mạnh mẽ vào tư duy bạn đọc. Không chỉ có thế, trong những câu văn tiếp theo, tác giả còn mở rộng phạm vi ra toàn hệ Mặt Trời, dẫn cả điển tích trong thần thoại Hi Lạp nhằm làm tăng sức thuyết phục.

Trong phần tiếp theo, tác giả đưa ra hàng loạt so sánh nhằm thể hiện sự bất hợp lí trong xu hướng phát triển của khoa học hiện đại: tỉ lệ phục vụ cho việc nâng cao đời sống nhân loại quá thấp trong khi tỉ lệ phục vụ cho chiến tranh lại quá cao. Vẫn là những con số thống kê đầy sức nặng: 100 tỉ đô la cho trẻ em nghèo khổ tương đương với 100 máy bay ném bom chiến đấu.

Chiến tranh hạt nhân còn đi ngược lạ lý trí con người và cả lý trí tự nhiên nữa. Nó xoá bỏ toàn bộ quá trình tiến hoá của tự nhiên và xã hội,đưa con người trở về con số không vô nghĩa của buổi ban đầu.

Tóm lại với những dẫn chứng hùng hồn và lời văn đanh thép,giàu sức thuyết phục,bài văn cho ta thấy sức tàn phá kinh khủng của chiến tranh hạt nhân.Qua đó thêm căm ghét chiến tranh và mong muốn đấu tranh vì một thế giới hoà bình.

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 7

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 6

Gác-xi-a Mác-két, nhà văn nổi tiếng của Cô-lôm-bi-a (được trao giải Nô-ben văn chương) đã viết một bài nghị luận lấy tên là Đấu tranh cho một thế giới hoà bình để bày tỏ mối lo ngại sâu sắc của mình trước hiểm họa hạt nhân. Bằng lập luận sắc bén và hệ thống dẫn chứng cụ thể, chính xác, đầy sức thuyết phục, ông đã làm một công việc có ý nghĩa nhân đạo lớn lao là thức tỉnh loài người trước nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang lơ lửng trên đầu, chẳng khác gì thanh gươm Đa-mô-clét trong thần thoại Hi Lạp, có thể trong nháy mắt hủy diệt toàn bộ sự sống trên trái đất.

Mở đầu bài viết, tác giả đưa ra một con số khủng khiếp có sức gây chấn động mạnh mẽ đến cả những người có trái tim lạnh lùng, dửng dưng nhất trước vấn đề thời sự nóng bỏng này: Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8-8-1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: Tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái đất.

Để khẳng định sự phi lí, phi nhân của chiến tranh hạt nhân, tác giả đã sử dụng triệt để phép so sánh và làm cho những khái niệm trừu tượng nhất được cụ thể hoá, trở nên dễ hiểu đối với mọi người, không phân biệt trình độ văn hóa, màu da hay tiếng nói. Các lĩnh vực Mác-Két đề cập đến đều mang tính phổ biến và khái quát cao như giáo dục, y tế, lương thực, thực phẩm và quan trọng nhất là sự sống của con người cùng vạn vật. Luận điểm mà ông đưa ra trong bài viết đều dựa trên cơ sở là nội dung các văn bản và công ước quốc tế xoay quanh những vấn đề thiết yếu của thời đại:

Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương trình để giải quyết những vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới. Chương trình này dự kiến cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực phẩm, nước uống. Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ không thể thực hiện được, vì tốn kém 100 tỉ đô la. Tuy nhiên, số tiền này cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7 000 tên lửa vượt đại châu.

Và đây là một ví dụ khác trong lĩnh vực y tế: Giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân… cũng đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong cùng 14 năm đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em, riêng cho châu Phi mà thôi. Cảm xúc của nhà văn thể hiện rất rõ trong đoạn nói về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng, nạn mù chữ của nhân dân các nước nghèo khổ. Đọc những dòng này, những người có lương tâm không thể không xót xa, thương cảm cho họ và căm phẫn trước những hành động xâm phạm đến quyền sống của con người:

Một ví dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm: Theo tính toán của FAO, năm 1985, người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng. Số lượng ca-lo trung bình cần thiết cho những người đó chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX…Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới. Một ví dụ trong Lĩnh vực giáo dục: Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới.

Quả là những con số biết nói làm xúc động lòng người! Nhà văn Mác-két đã lên án chiến tranh hạt nhân bằng cách nhấn mạnh sự tương phản ghê gớm giữa chi phí cho việc duy trì, phát triển sự sống và chi phí cho việc hủy diệt sự sống trên hành tinh. Bất kì ai đọc những dòng này đều phải nghiêm túc suy ngẫm và rút ra ý nghĩa thiết thực từ những so sánh có tính mục đích rõ ràng của nhà văn.

Theo Mác-két, trái đất là nơi độc nhất có phép màu của sự sống trong hệ mặt trời. Từ đó, ông đi đến kết luận: Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí, Nói cách khác, đó là hành động ngông cuồng đến mức điên rồ của những kẻ hiếu chiến, đi ngược lại khát vọng hòa bình của toàn nhân loại. Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân giữa các cường quốc không những đi ngược lại lí trí con người mà đi ngược lại cá lí trí tự nhiên nữa: Từ khi mới nhen nhúm sự sống trên trái đất, đã phải trải qua 380 triệu năm con bướm mới bay được, rồi sáu triệu năm nữa bông hồng mới nở, chỉ để làm đẹp mà thôi.

Cũng đã phải trải qua bốn kỉ địa chất, con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu. Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ con người chẳng có gì để tự hào vì đã phát minh ra một biện pháp, chỉ cần bấm nút một cái là đưa cả quá trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm trở lại điểm xuất phát của nó. Trình độ hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực kết hợp cùng tình cảm chân thành và mối quan tâm sâu sắc đối với con người, cuộc sống đã thúc đẩy nhà văn G. Mác-két viết nên những dòng chữ tràn đầy nhiệt huyết, làm rung động lòng người.

Trước hội nghị, ông thiết tha kêu gọi nhân loại hãy đoàn kết lại, đồng thanh cất cao tiếng nói phản đối chiến tranh hạt nhân, đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng. Ông tin rằng sự có mặt của mọi người trong hội nghị này không phải là vô ích.

Nhà văn Mác-két với những tác phẩm, những bài viết chứa đựng ý nghĩa nhân đạo to lớn, sâu sắc đã đóng góp không nhỏ vào phong trào hòa bình trên thế giới. Vì vậy, ông xứng đáng với giải thưởng Nô-ben cao quý mà ông đã được trao tặng.

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 5

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 6

Nhắc đến đề tài chiến tranh sẽ có không ít tác giả trên thế giới viết về đề tài ấy. Và một trong những tác giả rất thành công với đề tài trên không thể không nhắc đến Mác – két. Mác – két là người gốc Cô-lôm-bi-a, một con người vô cùng lỗi lạc, và được nhận giải Nôben văn học năm 1982.” Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” là tác phẩm vô cùng xuất chúng và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc của tác giả.

Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của Mác – két đã mang đến cho nhân loại cách nhìn sâu sắc và khoái quát những gì tổn thất mà nếu chiến tranh hạt nhân mang đến cho loài người. Vậy mọi người liệu có bao giờ đạt câu hỏi chiến tranh hạt nhân bắt nguồn từ đâu? Đó chính là vào ngày “8-8-1986, có hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã bố trí khắp hành tinh.” Một con số khủng khiếp ấy được Mác-két tìm kiếp và thống kê một cách gần như chính xác nhất. Tác giả muốn chúng ta sự nguy hiểm đáng sợ nhất mà những gì bom mìn đang rình rập nhân loại. Với con số mà Mác-két đưa ra có thể thấy mỗi người gần như phải gánh chịu gần 4 tấn thuốc nổ trên người. Sự hủy diệt khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân xảy ra.

Với những con số khủng khiếp như đã thống kê ở trên cho thấy được những gì to lớn mà chiến tranh hạt nhân sẽ gây ra cho loài người. Con số ấy càng khiến người đọc phải há hốc mồm đầy kinh ngạc. “UNICEFT đã định ra một chương trình để giải quyết vấn đè cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ trên thế giới”. Thế nhưng ước mơ ấy để thực hiện được phải bỏ ra 100 tỉ đô la, số tiền ấy chỉ bằng 100 máy ném bom chiến lược B.1B của Mĩ. Rồi đây ước mơ vẫn mãi là ước mơ và vẫn không thực hiện được. Còn vấn đề y tế thì sao? Lại là những vấn đề rất nan giải. Chỉ cần 10 tàu sân bay của Hoa Kì có thể phòng bệnh trong 14 năm và bảo vệ cho 1 tỷ người khỏi bệnh sốt rét. Đồng thời cứu hơn 14 triệu trẻ em cho riêng châu Phi mà thôi. Hỡi ôi! Có phải nhiều người khi nghe đến đây sẽ không khỏi xót xa.

Với cách lập luận chặt chẽ dẫn chứng xác đáng đã tạo nên những xót xa và sự ấn tượng khó phai trong lòng người đọc. Dịch bện đói khổ cứ đeo bám mãi nhân loại. Nếu như không có 149 tên lửa MX thì có thế cứu đói khổ cho hơn 575 triệu người. “Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cho các nước nghèo để họ có lương thực. Một sự thật tàn khốc một thảm họa mà nhân loại gánh chịu là chiến tranh hạt nhân. Muốn thế giới tiến bộ bắt buộc mọi người phải có tri thức, nhưng chỉ cần hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là có thể xóa nạm mù chũ cho toàn nhân loại. Qua những con số được thống kê như trên làm nhân loại không khỏi đau lòng. Tố cáo chiến tranh và những cuộc chạy đua vũ trang đã làm tốn kém rất nhiều sức lực và tiền của.

Ai mà không muốn thế giới ngày một phát triến, ngày một phát minh ra nhiều điều hay và ý nghĩa. Thế nhưng chiến tranh hạt nhân lại hoàn toàn đi ngược lại với những điều kể trên. Nó hoàn toàn đi ngược lại với quy luật tự nhiên của loài người. Mác-két khẳng định” chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí”. “ Không những đi ngược lại lí trí của con người mà còn đi ngược lại lí trí của tự nhiên”. Điều đó bạn có thấy xấu hổ với những gì mình đang la,f hay không? Làm cho mọi thứ trở về vạch xuất phát đầu tiên hủy hoại tất cả mọi thành quả mà con người đã cố công gầy dựng nên. Đó chính là một tội ác! Nếu mọi người nhìn ra được bản chất tàn bạo của chiến tranh hạt nhân thì hãy chung tay đẩy lùi nó. Tất cả con người trên thế giới phải hòa cùng một nhịp đập con tim mà chiến thắng. Mác-két đã cho chúng ta thấy được những gì tốt đẹp của thế giới hòa bình. Nơi ấy: có bướm, có hoa hông và có sự phát triển của khoa học trí tuệ của con người.

Qua những gì mà bài văn Đấu tranh cho một thới giới hòa bình của Mác-két đã giúp chúng ta thức tỉnh. Với lối viết chặt chẽ, sức thuyết phục cao, và lập luận chính xác đã giúp bài văn của tác giả cang có sức thuyết phục hơn với người đọc. Chúng ta phải tố cáo, đẩy lùi những thảm khốc mà chiến tranh hạt hân sẽ xảy ra. Tất cả con người trên thế giới phải chung tay: CÙNG NHAU BẢO VỆ MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH KHÔNG CÓ CHIẾN TRANH HẠT NHÂN!

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 4

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 5

Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két (Gabriel Garcia Marquez), nhà văn lớn của đất nước Cô-lôm-bi-a, sinh năm 1928, tác giả của nhiều tiểu thuyết và tập truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo, nổi tiếng nhất là tiểu thuyết Trăm năm cô đơn (1967). Ông đã được trao Giải thưởng Nô-ben văn học năm 1982.

Luận điểm trên đã được tác giả triển khai bằng bốn luận cứ sắp xếp theo một trình tự hợp lí như sau:

+ Kho vũ khí hạt nhân đang được các cường quốc tàng trữ có khả năng hủy diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.

+ Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân đã làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỉ người. Những ví dụ so sánh giữa đầu tư cho các lĩnh vực xã hội, y tế, thực phẩm, giáo dục… với những chi phí khổng lồ cho việc chạy đua vũ khí hạt nhân đã nêu bật tính chất phi lí và vô nhân đạo của nó.dau tranh cho mot the gioi hoa binh g mac ket

+ Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí của loài người mà còn phản lại quy luật tiến hóa của tự nhiên.

+ Vì vậy, tất cả nhân loại phải đoàn kết nhất trí, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

Ở luận cứ thứ nhất, tác giả nêu lên nguy cơ bùng nổ của chiến tranh hạt nhân, đe dọa hủy diệt loài người và toàn bộ sự sống trên trái đất bằng cách khẳng định sự tồn tại trong thực tế và hậu quả khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân. Mở đầu bài viết là thông báo có tính chất thời sự nóng hổi về thời gian và số liệu đầu đạn hạt nhân hiện có: Hôm nay ngày 8-8-1986, hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái đất. Số liệu hết sức cụ thể đó làm cho cả nhân loại ngạc nhiên, sửng sốt và lo ngại.

Tác giả so sánh nguy cơ ghê gớm của kho vũ khí hạt nhân đang đè nặng lên sự sống của nhân loại với hình ảnh thanh gươm Đa-mô-clét trong thần thoại Hi Lạp. Để mọi người thấy rõ hơn sức tàn phá khủng khiếp của vũ khí hạt nhân, tác giả khẳng định vũ khí ấy có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh mặt trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa và phá hủy thế thăng bằng của hệ mặt trời. Cách vào đề trực tiếp bằng những chứng cứ rõ ràng và lí lẽ sắc sảo của tác giả đã thu hút người đọc và gây ấn tượng rất mạnh về tính chất hệ trọng của vấn đề sẽ được đề cập tới ở phần sau trong bài viết. Kết thúc luận điểm thứ nhất là lời bình của tác giả về ngành công nghiệp hạt nhân trong thời đại ngày nay:

Không có một ngành khoa học hay công nghiệp nào có được những tiến bộ nhanh ghê gớm như ngành công nghiệp hạt nhân kể từ khi nó ra đời cách đây 41 năm, không có một đứa con nào của tài năng con người lại có một tầm quan trọng quyết định đến như vậy đối với vận mệnh thế giới. Niềm an ủi duy nhất trước tất cả những suy diễn kinh khủng đó là nhận thức được rằng việc bảo tồn sự sống trên trái đất ít tốn kém hơn là “dịch hạch” hạt nhân. Chỉ do sự tồn tại của nó không thôi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn.

Xưa nay, chiến tranh và hòa bình luôn là những vấn đề được quan tâm hàng đầu của nhân loại, vì nó có quan hệ mật thiết đến cuộc sống và sinh mệnh của hàng chục tỉ người cùng sự tồn tại hay tiêu vong của nhiều quốc gia, dân tộc. Trong thế kỉ XX, nhân loại đã phải trải qua hai cuộc đại chiến thê giới vô cùng khốc liệt và rất nhiều cuộc chiến tranh khác liên miên không dứt. Từ sau đại chiến thế giới thứ hai, nguy cơ chiến tranh vẫn luôn luôn tiềm ẩn. Đặc biệt, vũ khí hạt nhân phát triển rất mạnh đã trở thành mối hiểm họa khủng khiếp đe dọa loài người và sự sống trên trái đất. Tuy đã có những cố gắng để giảm bớt nguy cơ của mối đe dọa này (chẳng hạn như các hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược được kí kết giữa Liên Xô trước đây, nay là Liên bang Nga với Mĩ), nhưng chiến tranh hạt nhân vẫn là mối đe dọa to lớn và thường xuyên đối với nhân loại.

Nếu khoa học kĩ thuật về hạt nhân được sử dụng vào mục đích xây dựng hòa bình thì con người sẽ hạnh phúc biết bao! Ngược lại, nếu chiến tranh hạt nhân xảy ra thì trái đất lại trở về điểm xuất phát ban đầu cách đây nhiều triệu năm. Cho nên bộ mặt của trái đất tốt đẹp lên hay xấu đi đều do con người quyết định. Trong luận cứ thứ hai, tác giả khẳng định cuộc chạy đua vũ trang giữa các cường quốc chuẩn bị cho chiến tranh hạt nhân đã làm mất đi nhiều điều kiện làm cho con người được sống tốt đẹp hơn.

Bằng những chứng cứ và lập luận vừa cụ thể vừa xác đáng, tác giả đã đưa ra những so sánh thật thuyết phục trong các lĩnh vực xã hội, y tế, thực phẩm, giáo dục… đều là những lĩnh vực thiết yếu trong cuộc sống, nhất là đối với các nước nghèo, chậm phát triển. Từ đó, tác giả đã chỉ rõ sự tốn kém và tính chất phi lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân: Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương trình để giải quyết những vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới. Chương trình này dự kiến cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực phẩm, nước uống. Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ không thể thực hiện được, vì tốn kém 100 tỉ đô la. Tuy nhiên, số tiền này củng chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7.000 tên lửa vượt đại châu.

Trong lĩnh vực y tế, tác giả so sánh giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân kiểu tàu Ni-mít trong số 15 chiếc mà Hoa Kì dự định đóng từ nay đến năm 2000, cũng đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong cùng 14 năm đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em, riêng cho châu Phi mà thôi. Trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm, tác giả cũng đưa ra một ví dụ so sánh cụ thể: Theo tính toán của FAO, năm 1985, người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng, số lượng ca-lo trung bình cần thiết cho những người đó chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX… Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới.

Trong lĩnh vực giáo dục, nhà văn cũng khẳng định: Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới.Từ đó, tác giả khẳng định rằng cuộc chạy đua vũ trang chuẩn bị cho chiến tranh hạt nhân đã và đang cướp đi rất nhiều điều kiện để cải thiện cuộc sống của con người, nhất là ở các nước nghèo. Nghệ thuật lập luận ở đoạn này tuy đơn giản nhưng sắc sảo và có sức thuyết phục cao. Tác giả lần lượt đưa ra những ví dụ có tính chất so sánh trên nhiều lĩnh vực để làm nổi bật sự tốn kém ghê gớm. Có những so sánh khiến người đọc phải ngạc nhiên, bất ngờ trước những sự thật hiển nhiêu mà rất phi lí. Chẳng hạn như: chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới. Sau khi đưa những dẫn chứng tiêu biểu để chứng minh sự phi lí của việc chạy đua vũ trang hạt nhân, nhà văn Mác-két cảnh báo: Chiến tranh hạt nhân không chỉ tiêu diệt nhân loại mà còn tiêu hủy mọi sự sống trên trái đất. Nó phản lại sự tiến hóa, phản lại lí trí của tự nhiên như cách nói của tác giả:

Một nhà tiểu thuyết lớn của thời đại chúng ta đã đặt ra câu hỏi: Phải chăng trái đất chúng ta chính là địa ngục của các hành tinh khác? Có lẽ sự việc giản đơn hơn nhiều: Nó chỉ là một cái làng nhỏ mà thánh thần đã bỏ quên ở ngoại vi vũ trụ. Tuy nhiên, ý nghĩ dai dẳng cho rằng trái đất là nơi độc nhất của phép màu của sự sống trong hệ mặt trời, ý nghĩ đó đã đẩy chúng ta tới kết luận này, không thể khác được: Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lí trí. Để làm tăng tính thuyết phục của luận cứ này, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng lấy từ lĩnh vực khoa học địa chất và cổ sinh học về nguồn gốc và sự tiến hoá của sự sống trên trái đất. Tất cả cho thấy sự sống ngày nay trên trái đất là kết quả của quá trình tiến hóa mấy trăm triệu năm: từ khi mới nhen nhúm sự sống trên trái đất, đã phải trải qua 380 triệu năm con bướm mới bay được, rồi 180 triệu năm nữa bông hồng mới nở, chỉ để làm đẹp mà thôi. Nếu chiến tranh hạt nhân nổ ra, nó sẽ đẩy lùi sự sống trên trái đất trở về điểm xuất phát ban đầu, xóa sạch mọi thành quả của quá trình tiến hóa sự sống trong tự nhiên. Nếu như vậy thì thật đau xót và bất hạnh cho loài người:

Cũng đã phải trải qua bốn kỉ địa chất, con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu. Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ con người chẳng có gì để tự hào vì đã phát minh ra một biện pháp, chi cần bấm nút một cái là đưa cả quá trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm, trở lại điểm xuất phát của nó. Với luận cứ này, tác giả đã phơi bày rất rõ tính chất phản tự nhiên, phản tiến hóa của chiến tranh hạt nhân. Chính vì thế mà đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, bảo vệ một thế giới hòa bình là nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại.Luận cứ này kết thúc bài viết và cũng là thông điệp mà tác giả muốn gửi tới mọi người.

Sau khi đã chỉ ra một cách rõ ràng tác hại khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân nếu nó xảy ra, tác giả đã hướng mọi người tới một thái độ tích cực là đấu tranh xây dựng một thế giới phi hạt nhân: Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem lại tiếng nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hóa bình, công bằng. Nhưng liệu những tiếng nói ấy có thể ngăn chặn được hiềm họa hạt nhân hay không, và nếu như nó vẫn xảy ra thì sao? Dường như tác giả cũng tính đến sự việc sẽ xảy ra để rồi tiếp tục khẳng định ý nghĩa của sự có mặt trong hàng ngũ của những người đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân.

Để kết thúc lời kêu gọi của mình, Mác-két đã nêu ra một đề nghị: Cần lập ra một nhà băng lưu giữ trí nhớ để sau khi tai họa hạt nhân xảy ra, các thế hệ sau còn biết cuộc sống của chúng ta đã từng tồn tại trên trái đất tươi đẹp như thế nào và không quên những kẻ đã vì những lợi ích ti tiện mà đẩy nhân loại vào thảm họa diệt vong: Chúng ta đên đây để cổ gắng chống lại việc đó, đem lại tiếng nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng. Nhưng dù tai họa có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích…

Tôi rất khiêm tốn nhưng cũng rất kiên quyết đề nghị mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm họa hạt nhân. Để cho nhân loại tương lai biết rằng sự sống đã từng tồn tại ở đây, bị chi phối bởi đau khổ và bất công nhưng cũng đã từng biết đến tình yêu và biết hình dung ra hạnh phúc. Để cho nhân loại tương lai hiểu điều đó và làm sao cho ở mọi thời đại, người ta đều biết đến tên những thủ phạm đã gây ra những lo sợ đau khổ cho chúng ta, đã giả điếc làm ngơ trước những lời khẩn cầu hòa bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để mọi người biết rằng những phát minh dã man nào, nhân danh những lợi ích ti tiện nào, cuộc sống đó đã bị xóa bỏ khỏi vũ trụ này.

Tuy tác giả nêu ra vấn đề nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người, và phần lớn nội dung của bài viết đều tập trung vào điều đó nhưng chúng ta cần phải thấy chủ ý của tác giả không phải chỉ dừng ở đó mà còn nhấn mạnh vào nhiệm vụ đấu tranh để ngăn chặn nguy cơ ấy. Vì thế ông mới đặt nhan đề cho bài viết là Đấu tranh cho một thế giới hòa bình. Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-két giàu sức thuyết phục bởi lập luận chật chỗ, dẫn chứng xác thực, luận cứ, luận chứng rõ ràng và bên cạnh đó là sự lo ngại thực sự của tác giả trước hiểm họa hạt nhân.

Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thể loài người và sự sống trên Trái Đất. Cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để phát triển, để loại trừ nạn đói, nạn thất học và chữa bệnh cho hàng trăm triệu con người; nhất là ở những nước chậm phát triển. Chiến tranh hạt nhân là điều vô cùng phi lí, phản văn minh, phản tiến hoá vì nó tiêu diệt sự sống. Vì vậy, đấu tranh cho hòa bình, ngăn chặn và xoá bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thực và cấp bách của mỗi người và của toàn thể loài người.

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 4

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 3

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 4

Tác giả Mác-két là người gốc Cô-lôm-bi-a. Ông là một nhà văn đồng thời cũng là hoạt động xã hội vô cùng lỗi lạc. Mác-két từng đạt giải Nô-ben văn học năm 1982.

Bài viết “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” là một bài viết hay, mang một ý nghĩa vô cùng to lớn cho toàn thể hành tinh chúng ta. Nó chính là bức thông điệp mà tác giả Mác-két muốn gửi tới toàn thể nhân loại trên hành tinh hình cầu này. Tác giả Mác-kết đã là nổi bật lên ba luận điểm mà con người trên trái đất đang phải đối mặt đó là họa hạt nhân, chạy đua vũ trang hạt nhân gây tốn kém tiền bạc, thời gian của nhân loại, và cuối cùng là lời kêu gọi chúng ta chống chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hòa bình của địa cầu.

Trái đất đang có nguy cơ bị diệt vong bởi hiểm họa hạt nhân “nguy cơ ghê gớm đè nặng chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clet” tác giả đã nói như vậy trong bài viết của mình. Hiện nay trên toàn hành tinh của chúng ta có tới hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân. Nó nằm rải rác khắp nơi từ châu Âu tới châu Á. Mỗi sinh mạng trên trái đất của chúng ta đang ngồi trên một khối thuốc nổ khổng lồ. Số vũ khí hạt nhân này có sức công phá gấp 12 lần sự sống của trái đất. Nói theo cách khác thì chỉ cần số vũ khí hạt nhân này nổ có thể hủy diệt 12 hành tinh giống như trái đất của chúng ta.

Trong luận điểm thứ hai của mình tác giả Mác-két đã phân tích rõ việc chạy đua vũ trang đã tiêu tốn rất nhiều tiền bạc của nền kinh tế của thế giới. Phí đầu tư cho 100 chiếc máy bay chiến lược của Mỹ có thể lên tới 100 tỉ đô la. Với số tiền lớn như thế này có thể cung cấp đồ ăn thức uống của 500 triệu người nghèo ở châu phi. Chỉ cần lấy số tiền mua hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân chúng ta có thể đủ tiền xóa mù chữ cho toàn thế giới.

Chỉ cần với những con số nhỏ thế thôi nhưng chúng ta có thể thấy rằng chi phí cho chiến tranh, cho sản xuất vũ khí hạt nhân là vô cùng lớn. Nó chiếm rất nhiều ngân sách tiền tệ của nhiều nước. Trong khi với số tiền đó chúng ta có thể cứu chữa cho rất nhiều bệnh nhân, giúp rất nhiều trẻ em nghèo được đi học, có lương thực sinh sống.

Lập luận của Mác-két vô cùng cùng chắc chắn, sắc bén những con số kinh tế mà ông đưa ra khiến nhiều người không khỏi ngạc nhiên giật mình bởi nó quá lớn quá tốn kém, mà những số tiền lớn này lại chỉ phục vụ cho sự phi nghĩa, không nhằm cứu vớt nhân loại, loài người khỏi đói nghèo dốt nát mà chỉ làm hại cho hành tinh chúng ta, đặt nguy cơ hủy diệt lên cao hơn.

Trong phần kết của mình tác giả Mác-két đã ra lời kêu gọi nhân loại chúng ta chung tay loại bỏ vũ khí hạt nhân, loại bỏ chiến tranh hạt nhân. Tác giả đề nghị mọi người hãy mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ, để biết được sự sống đã từng tồn tại, để tương lai có thể biết được thủ phạm gây ra hủy diệt cho hành tinh chúng ta chính là vũ khí hạt nhân.

Bài viết “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” thể hiện tâm tư, tình cảm của tác giả Mác-két. Nó cho thấy ông là người có trí tuệ biết nhìn xa trông rộng, nhìn thấy trước được tương lai của nhân loại và ông cũng là người có trái tim nhân hậu, biết yêu thương người nghèo, luôn mong muốn có một cuộc sống hòa bình cho tất cả mọi người.

Bài viết của Mác-két thể hiện văn phong độc đáo, nhiều sáng tạo. Những con số thống kê của ông có sức thuyết phục người đọc người nghe vô cùng sâu sắc. Nó thể hiện tác giả đã phải nghiên cứu vấn đề này rất lâu và trăn trở về nó rất nhiều. Nên mỗi câu ông viết đều có sức nặng tựa ngàn cân, có sức lay động lòng người vô cùng to lớn.

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 2

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 3

Đấu tranh cho một thể giới hoà bình là một bức thông điệp của lương tri, nó thức tinh con người ớ cả hai phía, phía bảo vệ sự sống như bảo vệ con ngươi của mất mình, phía đối lập tự bịt mắt mình lao vào bóng tối của cái chết như những con thiêu thân điên cuồng, quái gô. Bức thông điêp này vừa như một ranh giới để phân chia vừa tạo ra sức hút hai chiều cả từ hai cực âm dương của nó. Từ trường rất rộng đến mức vô hạn có khả năng quy tụ mọi lớp người, mọi quốc gia, mọi màu da tiếng nói để không một ai trên trái đất này có thể dửng dưng xem mình là người ngoài cuộc.

Là một văn bản chính luận – thời sự, nó đề cập đến một vấn đề cấp bách, bức thiết cả tầm vĩ mô bao trùm lên tất cả mọi vấn đề mà so với nó thì sự quan tâm không thể ngang bằng. Bởi sự sống của loài người đang bị đe doạ từng phút, từng giây. Bố cục của bài văn có thể chia làm ba phần : cảnh báo nguy cơ huỷ diệt ; sự phi lí và tốn kém của cuộc chạy đua ; nhiệm vụ ngãn chặn, xoá bỏ nguy cơ của loài người trên trái đất. Bố cục rạch ròi ấy được kết hợp với các yếu tố dặc thù của kiểu văn nghị luận tạo nên một hiệu quả không nhó đối với trí tuệ và tình cảm của người đọc, nguời nghe.

1. Nguy cơ về cái chết đang de doạ đối với toàn nhân loại.

Trước hết nhà văn xác định cụ hể một toạ độ chết bằng những khái niệm không trừu tượng mơ hồ. Trả lời che câu hỏi “Chúng ta đang ớ đâu ?” là một tình thế xuyên quốc gia, vì hiểm hoạ eủa hơn 50 nghìn đầu đạn hạt nhân không tập trung ở một quốc gia nào, nó “đã được bố trí khắp hành tinh”. Nguy cơ ấy vừa mở rộng đến phạm vi toàn cầu, vừa thắt lại ở thời gian từng giờ từng phút. “Hôm nay ngày 8-8-1986” giống như một tích tắc hiểm nguy mà đường dây cháy chậm dang nhích gần cái chết. Cách tác động trực tiêp này làm cho tất cả những người đang sống và yêu quý sự sống không còn có thể thờ ơ. Thay thế cho những luận điểm, những khái niệm thường vốn chung chung là những con số, những con số tuy vô cảm, vô tri nhưng nó có những tiếng nói riêng, có cách nói riêng tác động tới những miền nhạy cảm nhất của con người (cả thính giác, thị giác, xúc giác,…).

Vẫn là những con số lạnh lùng, nhưng sự nâng cấp đối với nguy cơ có tác dụng củng cố cái ấn tượng ban đầu. Hậu quả của 50 nghìn đầu đạn hạt nhân ấy là gì ? Là tương đương với 4 tấn thuốc nổ. Là gì nữa, là sẽ làm biến hết thảy “không phải là một lần mà là mười hai lần” mọi dấu vết của con người trên trái đất, thậm chí “tất cả các hành tinh đang xoay quanh mặt trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa…” nghĩa là sự huỷ diệt mà con người không thể nào tưởng tượng nổi sẽ xảy ra. Các biện pháp quy đổi khái niệm từ con số đến con số, kết hợp với sự nâng cấp mỗi lúc một rộng ra có tác dụng như một tiếng còi báo động cho con người khi thần chết đến gần, một thứ thần chết của thời hiện đại.

Tính hình tượng trong đoạn văn chính luận gây một ấn tượng có hiệu quả bất ngờ, có sức ám ảnh không nguôi, ấy là thanh gươm Đa-mô-clét. Điển tích ấy lấy từ thần thoại Hi Lạp này có một nghĩa tương đương với một hình tượng tương đương trong thành ngữ Việt Nam : “Ngàn cân treo sợi tóc”. “Sợi lông đuôi ngựa” ở hình ảnh thứ nhất, “sợi tóc” trong hình ảnh thứ hai chuyên chở một nỗi hồi hộp, lo âu về cái chết ghê gớm có thể xảy ra trong thực tế không lường trước được bất cứ lúc nào. Sức ám ảnh của nó thật không nguôi đối với con người còn lương tri, nó sẽ đi vào từng bữa ăn, giấc ngủ, từng ngóc ngách nỗi niềm, nó tạo nên một tình thế bất an trong tâm tưởng.

Biện pháp lặp từ và lặp cấu trúc câu có tác dụng nhấn mạnh và phối hợp với hành văn châm biếm, đả kích sâu cay lập lờ hai mặt tạo nên một giọng văn đa chiều vừa diễn tả một hiểm hoạ khách quan, vừa biểu hiện thái độ chủ quan của người viết: “không có một ngành khoa học hay công nghiệp nào…”, “không có một đứa con nào…” là một cách nói hoàn toàn có dụng ý. Mỉa mai thay khi nhà văn nhận ra cái mặt trái của tấm huân chương. Khoa học hay tài năng đều là những điều đáng quý. Nhưng khi khoa học mà không gắn với lương tri thì nó sẽ là tội ác đối với loài người. Tính chất hai mặt này của văn minh công nghiệp và khoa học tự nhiên đã tạo ra một khoảng trống đáng sợ: vùng tâm linh nhân ái của con người.

2. Sự vô lí và sự tốn kém phi lí trong cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân

Lí trí con người gắn liền với sự khôn ngoan vì lợi ích của chính con người. Lợi ích của con người, có gì cao hơn sự sống, là tránh được nguy cơ nghèo đói, bệnh tật, dốt nát,… đó là sự sống tối thiểu. Điểu phi lí là những vấn để nhân đạo ấy nằm trong tầm tay của con người (nhất là ở bộ phận giàu có nói riêng), nhưng trong thực tế, nó đã lọt ra ngoài tầm tay, nó không nằm trong vòng ngắm của con người, nhất là những người có khả năng thay đổi nó.

Sự tốn kém phi lí ấy được tác giả diễn đạt khá công phu. Từ một mệnh đề khái quát, liên tục được chứng minh, bằng cả trí tuệ và tấm lòng người viết. Mệnh đề khái quát ấy là “việc bảo tồn sự sống trên trái đất ít tốn kém hơn là “dịch hạch” hạt nhân. Nghĩa là cán cân công lí đã mất đi sự thăng bằng, nó đang nghiêng hẳn về một phía : phía bất công và phi lí, là “đi ngược lại lí trí” tối thiểu cần phải có ở con người. Phương pháp tư duy theo kiểu so sánh là đối chọi những con số với những con số, con số của “dịch hạch” hạt nhân với con số hồi sinh cho chính con người từ cái chết sinh học : 100 tỉ đô la cho 500 triệu trẻ em trong chương trình UNICEF chưa bằng chi phí cho 100 máy bay ném bom và 7 nghìn tên lửa vượt đại châu của Mỹ, 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét chưa bằng cái giá của 10 chiếc tàu sân bay.

Sự cần thiết cung cấp thực phẩm cho 575 triệu người thiếu dinh dưỡng chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX… Việc, lặp lại các ví dụ vừa diễn tả một chân lí hiển nhiên về sự tốn kém đến kì quặc của những cái đầu méo mó, vừa có sức tố cáo không cần lời tố cáo đối với những kẻ phạm nhân đáng bị cả loài người kết án. Hơn thế nữa, nó được kết hợp với một giọng điệu trữ tình thể hiện bằng những cụm từ như : “chỉ gần bằng”, “cũng đủ”, “đủ tiên”,… vừa thể hiện sự mong muốn khát khao vừa oán giận căm hờn nghĩa là cùng một lúc yêu thương những người cần được chăm sóc, cưu mang với lên án kẻ tội đổ của thời đại.

Biện pháp chốt lại ở cuối phần này vừa như một sơ kết, vừa như mở rộng ra, nâng cao hơn tầm tội ác của kẻ thù. Bởi “không những đi ngược lại lí trí con người mà đi ngược lại cả lí trí tự nhiên”. Lí trí con người có thiên tính, lí trí tự nhiên cũng có nhân tính bởi nó chắt chiu cần mẫn cho cái đẹp mà bao nhiêu thiên niên kỉ đã được vun xới nâng niu. Những con số 180 triệu năm, 380 triệu năm,… là những định lượng vô bờ bến để sự sống thăng hoa, để con bướm bay, hoa hồng nở, để “con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu”. Quả thật, nó là một kì công hơn kim tự tháp Ai Cập hàng triệu lần. Nhưng oái oăm thay chỉ cần bấm nút một cái, tất cả trở lại con số 0 ban đầu vô nghĩa. Sự vô lí, nghịch lí của việc chạy đua vũ trang bị truy kích từ nhiều phía đối với nhiéu cấp độ cả chiều rộng và chiều sâu, cả thực tế và đạo lí. Trong đó điểu vô lí, nghịch lí nhất (tuy không được nói ra) là : kẻ huỷ diệt con người trên trái đất là kẻ tự đào huyệt chôn mình mà những kẻ quá điên cuồng đã không tự biết.

3. Ý nghĩa của bài văn

Nhiệm vụ chặn đứng nguy cơ chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hoà bình là trách nhiệm thiêng liêng, cấp bách của loài người trên trái đất. Cách lập luận trong phần này rất độc đáo : giả định thua để thắng, tưởng như lùi bước nhưng thực chất lại là tiến lên. Tác giả giả định như tai hoạ không chặn được thì sự có mặt của chúng ta, tiếng nói của chúng ta “không phải là vô ích”. Bởi sự có mặt ấy, tiếng nói đấu tranh cho hoà bình ấy sẽ vĩnh viễn còn lại nhờ có “một nhà bâng lưu trữ trí nhớ”. Nó là lời trăng trối cho đời sau rằng chúng ta đã không lùi bước, rằng cuộc sống này thật đáng sống biết bao, vì cái thời của chúng ta đang sống tuy bị chi phối bởi đau khổ và bất công nhưng cũng “đã từng biết đến tình yêu và biết hình dung ra hạnh phúc”.

Và tiếng nói của chúng ta, cho dù có không còn nữa vì chiến tranh hạt nhân cũng là một lời cảnh báo, răn đe: con người hãy cảnh giác. Vì đến lượt họ (thế hệ nhân loại sau), cái chết vì chiến tranh hạt nhân vẫn còn là “thanh gươm Đa-mô-clét”, nghĩa là cái chết vẫn lo lửng trên đầu. Nhiệm vụ chống lại chiến tranh hạt nhân cần một sự kiên trì bền bỉ biết bao, nhưng cũng là thái độ kiên quyết biết bao. Không chịu đầu hàng, nhân loại chính là người chiến thắng.

Một bài văn nghị luận thật thống thiết và cũng thật hùng hồn có tác dụng kêu gọi loài người hãy đấu tranh cho hoà bình, ngăn chặn và xoá bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Tiếng gọi hoà bình, qua cách nói ấy đã trở nên có sức mạnh vật chất làm chúng ta nghĩ đến một cánh chim bồ câu bay giữa trời xanh báo hiệu một buổi đẹp trời, một thời đại mà con người được sống trong vòng tay nhân ái và khái niệm chiến tranh không còn trong “nhà băng lưu trữ trí nhớ” của chúng ta.

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 2

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 1

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 2

Đấu tranh cho một thế giới hòa bình mang ý nghĩa như một bức thông điệp của Mác-két, người Cô-lôm-bi-a, nhà hoạt động xã hội lỗi lạc, nhà văn được giải thưởng Nô-ben văn học năm 1982, gửi cho các dân tộc trên hành tinh chúng ta.

Để làm sáng tỏ luận đề Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, Mác-két đã đưa ra 3 luận điểm đầy sức thuyết phục: một là, nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; hai là, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém; ba là, lời kêu gọi chống nguy cơ hạt nhân, đấu tranh cho hòa bình.

Nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; cái “nguy cơ ghê gớm đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét”. Với hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân bố trí khắp hành tinh, mỗi con người đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ. Số vũ khí hạt nhân ấy có thể hủy diệt 12 lần mọi dấu vết sự sống trên trái đất; có thể “tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh mặt trời, cộng thêm 4 hành tinh nữa… “Mác-két ghê tởm lên án nguy cơ hạt nhân là “dịch hạch hạt nhân”vì “cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết”…Những con số mà Mác-két đưa ra đã nâng cao nhận thức cho mọi người về nguy cơ chiến tranh hạt nhân, và sự hủy diệt khủng khiếp của vũ khí hạt nhân.

Tiếp theo, Mác-két đã chỉ ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là vô cùng tốn kém. Đây là những số liệu cụ thể mà tác giả đã đưa ra: Chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7.000 tên lửa vượt đại châu là 100 tỉ đô-la. Số tiền ấy có thể cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực phẩm, nước uống cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới. Giá 10 chiếc tàu sân bay Ni-mít mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong 14 năm cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em ở châu Phi.

Số lượng ca-lo trung bình cho 575 triệu người thiếu dinh dưỡng tốn kém không bằng 149 tên lửa MX…; chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền mua nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong 4 năm tới. Chỉ cần 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới. Nhà văn được giải thưởng Nô-ben đã nghiêm khắc cảnh cáo: “Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí”, – lí trí con người, cả lí trí tự nhiên. Sự sống trên Trái Đất phải trải qua 380 triệu năm thì con bướm mới biết bay; rồi 180 triệu năm nữa bông hồng mới nở, trải qua 4 kỉ địa chất (trên dưới 40 triệu năm), con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu. Nhưng chỉ cần “bấm nút một cái” là sẽ “đưa cả quá trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm, trở lại điểm xuất phát của nó”, nghĩa là Trái Đất bị hủy diệt hoàn toàn.

Nghệ thuật lập luận của Mác-két rất sắc bén. Những con số về tiền bạc mà ông nêu lên đã cho thấy ngân sách quân sự, chi phí chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém. Tác giả sử dụng lối biện luận tương phản về thời gian: quá trình hình thành sự sống và văn minh nhân loại phải trải qua hàng triệu triệu năm, còn sự hủy diệt Trái Đất chỉ diễn ra trong nháy mắt, “chỉ cần bấm nút một cái” thì tất cả sẽ trở thành tro bụi – ông đã chỉ cho mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia thấy rõ hiểm họa vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang hạt nhân khủng khiếp như thế nào!

Luận điểm thứ 3 là lời kêu gọi của Mác-két. Ông kêu gọi mọi người “chống lại việc đó – cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân; hãy ” tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng”. Ông đề nghị “mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ, có thể tồn tại được sau tai họa hạt nhân”để cho nhân loại tương lai biết rằng “sự sống đã từng tồn tại”…, để nhân loại tương lai ” biết đến “những thủ phạm đã “gây ra những lo sợ, đau khổ”cho hàng tỉ con người, để biết đến tên những kẻ “giả điếc làm ngơ trước những lời khẩn cầu hòa bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn …”

Mác-két đã có một cách nói đặc sắc, độc đáo lên án những kẻ hiếu chiến đã và đang gây ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, đe dọa cuộc sống hòa bình yên vui của các dân tộc và nhân loại. Văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòa bình thể hiện trí tuệ và tâm hồn của Mác-két. Ông đã sáng suốt và tỉnh táo chỉ cho nhân loại thấy rõ nguy cơ hạt nhân là một hiểm họa đáng sợ – “dịch hạch hạt nhân” . Tâm hồn của ông cháy bỏng một niềm khao khát hòa bình cho nhân loại.

Mác-két đã có một lối nói, lối viết rất độc đáo. Những số liệu của ông nêu ra có một sức thuyết phục to lớn, làm cho mọi người, mọi dân tộc nhận thức một cách sâu sắc về sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hòa bình là sự sống còn của nhân loại.

Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” số 1

Đây là một văn bản nghị luận rất giàu tính thuyết phục; tất cả các luận điểm và hệ thống luận cứ vô cùng rõ ràng, các chứng cứ đưa ra rất xác đáng, cụ thể; lập luận chặt chẽ giàu thuyết phục. Tác phẩm mang đậm chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân văn sâu sắc.

Đăng bởi: Quỳnh Quỳnh

Từ khoá: 8 Bài văn phân tích văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của G.G Mác-két

Cập nhật thông tin chi tiết về 8 Bài Văn Phân Tích Nhân Vật Cám Trong Truyện “Tấm Cám” Hay Nhất trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!