Xu Hướng 3/2024 # Khám Phá “Cổng Trời” Trên Đỉnh Đèo Ngang # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Khám Phá “Cổng Trời” Trên Đỉnh Đèo Ngang được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hoành Sơn Quan là điểm di tích lịch sử có cảnh quan thiên nhiên đẹp hùng vĩ đang thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Nếu bạn có cơ hội đến Hoành Sơn Quan chắc chắn sẽ phải bất ngờ bởi nét đẹp ở đây.

1. Hoành Sơn ở đâu? Đôi nét về di tích Hoành Sơn Quan

Hoành Sơn Quan là một trong những điểm du lịch Quảng Bình thuộc địa phận thôn Vĩnh Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Không chỉ là điểm du lịch, Hoành Sơn Quan còn là một chứng minh lịch sử do vua Minh Mệnh lập ra để kiểm soát người qua đường và sau này là phòng tuyến, chiến địa quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Là một di tích lịch sử hiếm hoi còn tồn tại ở Việt Nam, Hoành Sơn vẫn giữ được những nét cổ kính đậm chất truyền thống với những cửa ải bằng đá được xây dựng trên núi. Cổng cao hơn 4m, thành đăng dài hơn 30m xây dựng xung quanh cùng với 1.000 bậc ở hai phía núi thành.

CГі vб»‹ trГ­ chiбєїn lЖ°б»Јc vГґ cГ№ng quan trб»Ќng, dГЈy HoГ ng SЖЎn Д‘ГЈ lЖ°u trб»Ї rất nhiб»Ѓu vбєїt hбє±n cбєЈ trong thб»ќi cб»• cбє­n vГ  hiện Д‘бєЎi б»џ Việt Nam. Dбє«u nhiб»Ѓu dấu vбєїt chiбєїn tranh xЖ°a cГі hiện lГЄn thГ¬ HoГ nh SЖЎn Quan vбє«n mang nГ©t thЖЎ mб»™ng vб»›i cбєЈnh sГЎch thiГЄn nhiГЄn trong lГ nh vГ  dГЈy nГєi vбє«n hiГЄn ngang hГ№ng vД©. ДђГўy chГ­nh lГ  Д‘б»‹a Д‘iб»ѓm phГ№ hб»Јp vб»›i nhб»Їng du khГЎch vб»«a muб»‘n ngбєЇm cбєЈnh Д‘бє№p, vб»«a muб»‘n tГ¬m hiб»ѓu vб»Ѓ lб»‹ch sб»­ nЖ°б»›c nhГ

2. Lên dãy Hoành Sơn khám phá những dấu ấn lịch sử quan trọng 

Là địa điểm du lịch Quảng Bình nổi tiếng nhiều năm gần đây nhưng ít ai biết rõ Hoành Sơn Quan đã mang những dấu tích lịch sử vô cùng quan trọng. Nhờ có địa thế hiểm trở, Hoành Sơn trở thành bức tường thành vững chắc, là ranh giới giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh. Nơi đây từng là địa điểm giúp quân ta phản công giành thắng lợi trong công cuộc ngăn chặn Hán Hóa và chống đối với phong kiến phương Bắc.

Cùng với đó, trong suốt 10 thập kỷ, Hoành Sơn là biên giới Việt – Chăm, chứng kiến những trận chiến của Đại Việt và người Chăm từ thời Trần, Lý đến nhà Hồ. Nơi đây đã ghi lại sự dũng cảm, kiên cường, bất khuất của dân tộc ta từ thời xưa.

Ngoài ra, Hoành Sơn Quan chính là căn cứ địa quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Hoành Sơn nằm ở vị trí thuận lợi với cây cối xanh mượt phủ kín, vắt ngang từ Tây sang Đông ra tới tận biển khơi rộng lớn. Nhờ vậy mà quân và dân ta dễ dàng lập chiến lược và đánh lại quân xâm lược, góp phần lớn vào chiến thắng vẻ vang, bảo vệ dân tộc ta.

3. Hướng dẫn đường lên Đèo Ngang – Hoành Sơn Quan Quảng Bình

Hoành Sơn Quan nằm ở đỉnh cao nhất của Đèo Ngang nên tới được đây bạn sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên vô cùng tươi đẹp. Cảnh sắc trữ tình, đẹp nao lòng, Hoành Sơn mang lại rất nhiều cảm hứng thi ca, nghệ thuật. Đây chắc chắn là một trong những điểm hấp dẫn nhất trên bản đồ du lịch Quảng Bình.

4. Các địa điểm du lịch gần Hoành Sơn Quan

Ngoài khám phá và ghi lại những bức ảnh tuyệt đẹp ở Hoành Sơn Quan, bạn cũng có thể lựa chọn và đến một số địa điểm du lịch gần đó.

4.1. Đền thờ bà Liễu Hạnh – Di tích kiến trúc – nghệ thuật – tôn giáo 

Theo kinh nghiệm du lịch Quảng Bình cho gia đình, nếu bạn đi Hoành Sơn cùng với bố mẹ và người thân thì có thể di chuyển tới đền thờ bà Liễu Hạnh – ngay dưới chân Đèo Ngang vừa tiện lại kết hợp du lịch tâm linh luôn.

Đền thờ công chúa Liễu Hạnh có kiến trúc giản đơn, mang nét mỹ quan Á Đông vừa trang nghiêm vừa lưu trữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Đến đây, bạn vừa được vãn cảnh bình yên vừa có thể cầu nguyện bình an, may mắn đến với bạn và gia đình.

4.2. Đảo Hòn La

Cách Hoành Sơn Quan khoảng 9km, đảo Hòn La cũng là điểm đến lý tưởng mang vẻ đẹp độc đáo. Nơi đây có nhiều ghềnh đá vôi do sóng biển tác động tạo thành nhiều hình khối lạ mắt. Đảo lại được che chắn bởi Mũi Ông nên vô cùng kín gió và toát lên được vẻ đẹp thiên nhiên vô tận.

4.3. Làng chài Cảnh Dương

Với kinh nghiệm du lịch Quảng Bình tự túc của nhiều người thì làng Cảnh Dương là một gợi ý dành cho những bạn yêu sự bình dị thôn quê. Là nơi có nhiều cảnh đẹp Quảng Bình, trên khắp các con đường, bức tường ở đây đều được tô điểm bằng những bức tranh nhiều màu, mô phỏng lại hình ảnh con người, nghề nghiệp, nét đẹp văn hóa của địa phương.

Không chỉ nổi bật bởi những bức tranh bích họa nhiều màu sắc, làng bích họa Cảnh Dương còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, vùng đất giàu truyền thống khoa bảng và là một trong những địa điểm chiến lược trong kháng chiến chống Pháp. Đến du lịch, bạn chắc chắn sẽ mang về nhiều bức hình đẹp và nhiều câu chuyện ý nghĩa về người dân ở đây.

4.4. Khu du lịch Vũng Chùa – Đảo Yến

Nằm cách Đèo Ngang tầm 7km, Vũng Chùa – Đảo Yến chính là nơi an nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nơi đây không chỉ là địa danh du lịch tâm linh mà cảnh quan cũng vô cùng hấp dẫn. Khu Đảo Yến Vũng Chùa được bao quanh bởi núi rừng xanh thơ mộng, trước mặt là vịnh Hòn La nên thơ, bãi biển Vũng Chùa với những bãi cát trắng trải dài, hoang sơ và mộc mạc.

Để có thể khám phá trọn vẹn Hoành Sơn Quan và nhiều địa điểm du lịch Quảng Bình khác như động Phong Nha, động Thiên Đường, hang Sơn Đoòng,… bạn nên cân nhắc lựa chọn một khách sạn nằm ở trung tâm thành phố để thuận tiện di chuyển.

Gợi ý cho bạn khách sạn 5* Vinpearl Hotel Quảng Bình nằm ngay trục đường giao thông chính của trung tâm thành phố, có view trực diện sông Nhật Lệthơ mộng. Đây là điểm nghỉ dưỡng lý tưởng để bạn và gia đình có thể tận hưởng những giây phút thư giãn thoải mái nhất.

Ngoài ra, lưu trú ở Vinpearl Hotel Quảng Bình, bạn còn có cơ hội thưởng thức những món ăn đặc sản Quảng Bình tại các nhà hàng sang trọng, thỏa thích bơi lội và thả mình trong làn làn nước trong xanh hay dành chút thời gian chăm sóc cơ thể ở spa.

Đăng bởi: Đạt Trần

Từ khoá: Hoành Sơn Quan – Khám phá “cổng trời” trên đỉnh Đèo Ngang

Cổng Trời Đà Lạt Ở Đâu? Top 3 Cổng Trời Đà Lạt Hot Nhất

Giới thiệu về cổng trời Đà Lạt

Ngoài việc tìm đến các quán cafe sống ảo Đà Lạt để tìm kiếm các background chụp hình ấn tượng, thời gian gần đây, du khách thường có xu hướng tìm đến các cổng trời độc đáo. Thực tế, Đà Lạt đang sở hữu nhiều cổng trời có thiết kế đa dạng, mang phong cách thơ mộng như tiên cảnh. Trong đó, 3 địa điểm mà được nhiều du khách đến tham quan nhất là cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn, cổng trời Bali Đà Lạt và cổng trời Đà Lạt View Coffee.

1. Cổng Trời Đà Lạt Chùa Linh Quy Pháp Ấn

Đây là một trong những điểm đến siêu HOT mà du khách không nên bỏ lỡ. Chùa Linh Quy Pháp Ấn sở hữu vẻ đẹp yên bình, thanh tịnh nhưng không kém phần tôn nghiêm. Đặc biệt, nơi đây cũng gây ấn tượng với những không gian chụp ảnh đẹp mê hoặc – cổng trời Torii. Do đó, các du khách khi đến đây nên du ngoạn ngắm cảnh ở nơi cổng trời Đà Lạt nổi tiếng này.

Cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn đẹp ngỡ ngàng

Địa chỉ cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn ở đâu?

Địa điểm này nằm ẩn mình trên ngọn đồi 45, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Ngôi chùa thanh tịnh nằm ở vị trí ngọn đồi rộng lớn, được bao quanh bởi những rừng cây xanh mát, mang lại không khí nhẹ nhàng, thanh thoát.

Địa chỉ của cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn

Giá vé cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn bao nhiêu?

Vì chùa Linh Quy Pháp Ấn tại Đà Lạt là nơi thanh tịnh và không đề cập đến các chi phí phụ thu khi tham quan. Theo đó, giá vé tham gia check in cổng trời Đà Lạt ở chùa Linh Quy Pháp Ấn là hoàn toàn miễn phí.

Hướng dẫn đường đi đến Cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn

Du khách có thể đi đến cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn theo cung đường sau:

Từ thành phố Bảo Lộc, bạn đi qua đường Trần Phú đến ngã 3 3 Đại Bình rẽ phải vô xã Lộc Thành (Quốc lộ 55).

Đi ngang đến chợ Lộc Thành, bạn qua cầu Đa Trăng rồi tiếp tục chảy thẳng đến ngã 3, rẽ phải gặp chùa Niết Bàn, chạy thẳng tiếp gặp ngã tư rồi rẽ phải. Bạn cứ tiếp tục chạy thẳng, rồi rẽ trái theo hướng thôn văn hóa (Thôn 4, xã Lộc Thành).

Chạy khoảng 2km sẽ thấy một đường hẻm nhỏ bên trái, rẽ vào và chạy hướng lên dốc. Bạn sẽ gặp bảng hướng dẫn, rẽ trái theo hướng được chỉ (Quán Chiếu Đường), đi tiếp một lúc sẽ tới chùa Linh Quy Pháp Ấn.

Cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn có gì đẹp để check in và chụp hình sống ảo?

Chùa Linh Quy Pháp Ấn sở hữu cánh cổng Thần Đảo – Torii (tiếng Nhật) uy nghiêm, được xem là một trong những cổng trời Đà Lạt ấn tượng nhất. Nơi này mang nét đẹp kỳ bí, nổi bật giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Đứng ở khu vực cánh cổng, du khách chỉ cần hướng tầm mắt ra xa là có thể nhìn cảnh khung cảnh rừng xanh mênh mông, đám mây mờ ảo, đẹp như tiên cảnh.

Hai khoảnh khắc tuyệt đẹp mà du khách nên đến tham quan và check in sống ảo lung linh là bình minh và hoàng hôn. Ánh nắng vàng lấp lánh hòa cùng từng lớp sương mây lơ lửng giăng phủ khắp đồi núi trập trùng, tất cả tạo nên một khung cảnh thơ mộng như chốn bồng lai. Cảnh sắc yên tĩnh trầm mặc càng tôn lên nét thanh tịnh của chùa, mang lại cảm giác thư giãn thoải mái.

Chụp ảnh vào lúc hoàng hôn tuyệt đẹp tại cổng trời Đà Lạt chùa Linh Quy Pháp Ấn

Đến cổng trời Chùa Linh Quy Pháp Ấn, du khách không chỉ có thể tận hưởng không khí trong lành yên bình, mà còn lưu giữ được những khung hình độc đáo, siêu chất.

2. Cổng trời Đà Lạt Bali

Địa điểm này được tái hiện theo cổng trời Bali nổi tiếng ở Indonesia. Đây là công trình kiến trúc nổi tiếng nằm trong đền Pura Lempuyang Luhur của đảo Bali và được xem là biểu tượng du lịch của hòn đảo Bali huyền bí – thơ mộng.

Ở Việt Nam, bạn chỉ cần đến thành phố Đà Lạt xinh đẹp là có thể khám phá địa điểm lãng mạn và đặc biệt này.

Cổng trời Bali Đà Lạt – địa điểm check in lãng mạn, ấn tượng

Địa chỉ cổng trời Bali Đà Lạt ở đâu?

Địa điểm này thuộc khu du lịch Cáp treo Đà Lạt, Phường 3, Thành phố Đà Lạt, nằm bên trong khu nghỉ dưỡng Greenland 2. “Cánh cổng thiên đường” này tọa lạc trên một ngọn đồi thông cao, xung quanh là những cánh rừng thông bạt ngàn xanh mát.

Giá vé cổng trời Bali Đà Lạt bao nhiêu? Hướng dẫn đường đi đến Cổng trời Bali Đà Lạt

Đây là một địa điểm cổng trời Đà Lạt tọa lạc gần ngay tại khu vực trung tâm thành phố nên đường đi đến đây rất thuận tiện và dễ dàng.

Nếu di chuyển từ chợ Đà Lạt, bạn có thể đi theo hướng đường Hồ Tùng Mậu đến bùng binh đầu đèo Đà Lạt. Sau đó, bạn đi vào cung đường 3 tháng 4 đến bến xe liên tỉnh. Men theo đường này, bạn sẽ thấy đường lên đồi Robin Đà Lạt. Cứ tiếp tục chạy lên hết dốc thì bạn sẽ nhìn thấy cổng trời Bali Đà Lạt nổi tiếng.

Cổng trời Bali Đà Lạt có gì đẹp để chụp hình sống ảo?

Khu nghỉ dưỡng Greenland 2 nằm ở một ngọn đồi lộng gió mát mẻ, xung quanh là nhiều vườn hoa anh đào, vườn hồng,… cực kỳ nổi tiếng. Nhờ đó, cổng trời Bali phiên bản Đà Lạt có view núi rừng thơ mộng. Đứng ở khu vực cổng, bạn có thể quan sát toàn cảnh thành phố Đà Lạt.

Mỗi góc cạnh của chiếc cổng này đều được chạm khắc vô cùng tỉ mỉ, tái hiện chẳng khác gì phiên bản gốc ở đảo Bali – Indonesia. Địa điểm này thậm chí còn được mệnh danh là chỉ cần giơ máy là có ngay ảnh đẹp mà chẳng cần mất công tạo dáng.

Ngoài ra, ở ngay cạnh cổng trời còn nhiều khu vực khác để bạn tha hồ “sống ảo” như khu tổ chim, xích đu, quán cafe,…

Bên cạnh cổng trời, nơi đây còn nhiều khu vực “xịn sò” để du khách tha hồ sống ảo

3. Cổng trời Đà Lạt View

Đây là chiếc cổng trời tọa lạc ở quán cà phê Dalat View Coffee, được mệnh danh là cổng trời “lạc trôi” phiên bản 2. Chiếc cổng có hình dáng tương tự như cổng Torii ở các ngôi đền truyền thống Shinto của Nhật Bản.

Quán Dalat View Coffee này có vị trí nằm trên một quả đồi cao, ngay đầu đèo Mimosa. Do đó, quán có lợi thế view quan sát tuyệt đẹp, bao quanh các ngọn núi nhỏ nhấp nhô. Từ cổng trời nhìn ra, bạn sẽ ấn tượng với những dãy núi trập trùng, đám mây uốn lượn, đẹp tựa chốn tiên cảnh.

Khung cảnh Dalat View Coffee cực kỳ thơ mộng, hút hồn mọi du khách

Địa chỉ cổng trời Đà Lạt View Coffee ở đâu?

Quán cafe Đà Lạt view nằm ở 49, trên cung Khe Sanh, thuộc phường 10, thành phố Đà Lạt.. Đường đi khá đơn giản vì tất cả là đường nhựa. Chỉ tốn khoảng 10 phút từ trung tâm Đà Lạt là quý du khách có thể đến điểm du lịch cực hot này.

Hướng dẫn đường đi đến Cổng trời Dalat View Coffee

Xuất phát từ quảng trường Lâm Viên, bạn có thể tham khảo đường đi đến Dalat View Coffee theo 2 hướng sau:

Đi theo đường Trần Quốc Toản về phía Đông đến đường Yersin, rồi vào đường Phạm Hồng Thái chạy đến đường Khe Sanh là có thể tiếp tục đi thẳng tới quán cà phê.

Đi đường Trần Quốc Toản đến hướng vòng xoay vào đường đường Hồ Tùng Mậu, tiếp tục đi đến vòng xoay vào QL20, rồi đến đường Trần Hưng Đạo và tiếp tục đến đường Khe Sanh.

Cổng trời Dalat View Coffee có gì ấn tượng để thu hút du khách đến check in và chụp hình sống ảo?

Mặc dù có nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn nổi tiếng khác, cổng trời Dalat View vẫn thu hút lượng lớn du khách đến tham quan, đặc biệt là các bạn trẻ.

Nơi này nằm trên đỉnh đèo Mimosa, lại không quá xa trung tâm nên rất thuận tiện cho du khách đến tham quan và chụp những bức hình sống ảo cực HOT.

Bên cạnh đó, không chỉ ngắm nhìn khung cảnh hữu tình, hùng vĩ, du khách còn có thể thưởng thức các món ngon Đà Lạt tại nhà hàng cafe Đà Lạt View. Thực đơn đa dạng, đầy đủ các món ăn ngon như thịt nai, đà điểu, gà, vịt, bò, heo, ếch, lươn, cá, cua,… kết hợp với công thức nấu khác biệt mang đến hương vị núi rừng hấp dẫn.

Tổng hợp Quán ăn vặt Đà Lạt Ngon – Rẻ – Nổi tiếng

TOP 22 Đặc sản Đà Lạt Làm Quà Ngon Người Thân Sẽ Thích Mê

Khung cảnh lung linh vào buổi tối tại cổng trời Đà Lạt View

Những hình ảnh lung linh của các cổng trời Đà Lạt

Chụp ảnh check in sống ảo siêu chất ở cổng trời Bali ở Đà Lạt

Thỏa thích tạo dáng ở “cánh cổng thiên đường” Bali Đà Lạt

Cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn với những khung cảnh tuyệt đẹp, thênh thang mây trời, núi non gói gọn trong tầm mắt

Khung cảnh ở cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn đẹp như tiên cảnh

Chụp hình cưới siêu đẹp tại cổng trời Dalat View Coffee

Chụp ảnh check in giữa núi rừng hùng vĩ tại cổng trời của Dalat View Coffee

Một vài địa điểm vui chơi, check in gần Cổng Trời Đà Lạt

Bên cạnh việc tham quan, check in cổng trời Đà Lạt thì du khách cũng có thể thuận tiện đến trải nghiệm thêm rất nhiều địa điểm đẹp xung quanh, nhằm khám phá thêm nét đẹp cảnh quan của thành phố ngàn hoa này. Cụ thể:

Đăng bởi: Đinh Hoàng Lương

Từ khoá: Cổng trời Đà Lạt ở đâu? Top 3 Cổng Trời Đà Lạt HOT nhất

Đèo Ngang, Ranh Giới Giữa Hà Tĩnh Và Quảng Bình

ALONGWALKER – Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A ở ranh giới thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh và huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, nằm trên dãy núi Hoành Sơn. Đây là địa danh được nhiều người biết đến qua bài thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan.

Từ Bắc vào, đèo Ngang bắt đầu từ địa phận thị xã Kỳ Anh của Hà Tĩnh (Ảnh – cungphuot.info)

Và chạy xuyên qua ranh giới giữa 2 tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình (Ảnh – cungphuot.info)

Đèo Ngang là con đèo lịch sử đã đi vào ca dao, huyền thoại. Lê Thánh Tông, Nguyễn Thiếp, Vũ Tông Phan, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, vua Thiệu Trị, Nguyễn Hàm Ninh, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Phước Miên Thẩm, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát… đã lưu dấu tại đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ. Đặc biệt, bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan rất nổi tiếng, được xem như vẽ lên bức tranh thủy mặc.

Năm 2004, hầm đường bộ đèo Ngang (dài gần 500 m) được đưa vào sử dụng, nhiều tài xế lựa chọn vì tiện lợi, rút ngắn thời gian và khoảng cách.

Con đèo nổi tiếng trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (Ảnh – cungphuot.info)

Tuy nhiên, không ít người cầm lái xe cá nhân vẫn thích đi đường đèo để thưởng ngoạn cảnh đẹp.

Do đường lên Hoành Sơn Quan khá nhỏ, ít người để ý nên phía Hà Tĩnh đã làm một biển báo để hướng dẫn du khách (Ảnh – cungphuot.info)

Trên đỉnh đèo Ngang hiện còn “Cổng trời” di tích của cửa ải Hoành Sơn Quan bằng gạch đá được xây vào năm 1833, thời vua Minh Mạng để kiểm soát việc qua đèo.

Kiến trúc Hoành Sơn Quan nhìn từ phía tỉnh Quảng Bình (Ảnh – cungphuot.info)

Kiến trúc “Cổng trời” Hoành Sơn Quan có cửa cao 4 m, hai bên thành dài 30 m, nằm phía bên mái núi của tỉnh Hà Tĩnh, xây gạch trát vữa còn khá nguyên vẹn.

Những bậc thang lên xuống được tạo bởi những người thợ xẻ núi (Ảnh – cungphuot.info)

Lối đi được mở về hai phía, có 1.000 bậc thang lên xuống do thợ xẻ núi tạo thành.

Con đường bê tông có thể chạy xe lên tận di tích Hoành Sơn Quan, nếu muốn chạy xe máy lên tận nơi từ biển chỉ dẫn các bạn đi quá lên trên khoảng vài trăm mét sẽ thấy đường đi lên (Ảnh – cungphuot.info)

Đường lên Hoành Sơn Quan phía bên Hà Tĩnh (Ảnh – cungphuot.info)

Hoành Sơn Quan được Quảng Bình lẫn Hà Tĩnh xếp hạng di tích lịch sử văn hóa thuộc ranh giới của địa phương từ hàng chục năm trước. Cả hai tỉnh đều lập hồ sơ trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là di tích quốc gia nhưng đều không được chấp nhận.

Hoành Sơn Quan ngày càng xuống cấp mà không được bên nào duy tu sửa chữa (Ảnh – cungphuot.info)

Do còn nhập nhằng trong việc xác định chủ sở hữu, nên Hoành Sơn Quan ngày một xuống cấp mà không có một đơn vị nào đứng ra tu sửa.

Một góc thị xã Kỳ Anh nhìn từ Hoành Sơn Quan (Ảnh – cungphuot.info)

Từ Hoành Sơn Quan nhìn ra là vùng đất Kỳ Nam (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), nơi có đồng ruộng, núi đồi, biển cả và quốc lộ 1 chạy qua.

Đăng bởi: Gấm Nguyễn

Từ khoá: Đèo Ngang, ranh giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình

Khám Phá Kiến Trúc Và Lịch Sử Cổng Tam Quan Rạch Giá

Nội dung chính

Nét đẹp và ý nghĩa lịch sử Cổng Tam Quan Rạch Giá

Nếu đã ghé qua thành phố Rạch Giá, bất cứ ai cũng phải đi qua chiếc cổng Tam Quan nằm chắn ngang đường Nguyễn Trung Trực tại ngã tư Nguyễn Trung Trực – Lạc Hồng, trục đường chính của Thành phố.

Cổng Tam Quan này được xây dựng vào năm 1955 vào thời kỳ Pháp thuộc. Mục đích ban đầu xây dựng chiếc cổng này là tạo điểm son cho Rạch Giá và cũng là cổng thành khi vào trung tâm thành phố. Tât nhiên, khi ấy Rạch Giá là tỉnh và chỗ Trung tâm chợ Rạch Giá bây giờ chính là cơ quan đầu não. Khi mới xây dựng, cổng Tam Quan có vai trò là cổng làng khi đi vào Rạch Giá từ phía các huyện.

Về lịch sử Cổng Tam Quan Rạch Giá, nó được xây dựng theo phong cách truyền thống của Việt Nam. Theo đó gồm có 3 ô cửa (tam quan) hình vòm cung. Cổng tam quan mang ý nghĩa “3 cách nhìn” của Phật là “hữu quan”, không quan” và “trung quan”, thể hiện cái giả, cái vô thường và trung dung của cả hai.

Cổng tam quan có 3 lối đi và cửa giữa lớn hơn của hai bên. Trước đây, cổng Tam Quan Rạch giá có thiết kế đậm chất truyền thống với hai câu đối đắp hai bên và phần trán cửa có ghi tên “Châu Thành Rạch Giá” không dấu.

Khác với cổng tam quan khác, chiếc cổng này có thiết kế 3 ô hình vòng cung mềm mại. Trên mỗi vòm cổng đều có 2 tầng mái. Và trên mái lại được trang trí những hình tượng mang ý nghĩa riêng.

Cổng Tam Quan từ vị trí cửa ngõ đã trở thành công trình nằm ở trung tâm của thành phố. Ngày nay, cổng Tam Quan được sơn mới lại nhiều lần, lắp cả hệ thống đèn chiếu vào ban đêm. Và câu đối hai bên cũng như dòng chứ “Châu Thành Rạch Giá” cũng không còn nữa. Tuy thế, nó vẫn là biểu tượng, là niềm tự hào của người dân Rạch Giá.

Ngoài ý nghĩa lịch sử Cổng Tam Quan Rạch Giá, nó còn có ý nghĩa tinh thần to lớn

Với người dân địa phương, chiếc cổng này gần gũi như người bạn lâu năm vậy. Nó đứng đó, lặng lẽ chứng kiến sự trưởng thành và phát triển của một thành phố biển năng động. Cảm giác mỗi khi đi xa về, Cổng Tam Quan thấp thoáng phía xa báo hiệu “Đến nhà rồi!”.

Không chỉ vậy, chiếc cổng còn trở thành cột mốc để người ta chỉ đường cho du du khách. “Tới Cổng Tam Quan chưa? Đợi đó, tui ra đón liền!, hay “Thấy cái cổng màu hồng không? Đi thẳng cổng chính qua cái cầu là thấy nhà tui nằm bên trái đó!”,….

Đến Rạch Giá là phải ghé cổng Tam Quan, chụp vào tấm ảnh check-in thì chuyến đu lịch Kiên Giang mới thực sự trọn vẹn đấy!

Đăng bởi: Hiếu Thuận

Từ khoá: Khám phá kiến trúc và lịch sử Cổng Tam Quan Rạch Giá

Khám Phá 75 Mẫu Cổng Sắt 2023 Đẹp Ngay Từ Cái Nhìn Đầu Tiên

Khám phá 75 mẫu cổng sắt 2023 đẹp ngay từ cái nhìn đầu tiên

1. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp

Bạn đang xem: Mẫu cửa ngõ đẹp

2. Mẫu cổng sắt 4 cánh nan gỗ

3. Mẫu cổng sắt 4 cánh hoa văn cắt CNC

4. Mẫu cổng sắt 4 cánh mới nhất

5. Mẫu cổng sắt hộp 4 cánh hiện đại

6. Mẫu cổng sắt 4 cánh thẩm mỹ

7. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp, hiện đại

8. Mẫu cổng sắt 4 cánh cắt CNC

9. Mẫu cửa sắt 4 cánh gia đình

10. Mẫu cổng sắt 4 cánh nhà phố

Cửa cổng sắt đơn giản, hiện đại đều được làm bằng nguyên liệu sắt hộp, chất liệu sắt mạ kẽm được ứng dụng rất nhiều vào các sản phẩm bằng sắt thép, giúp sản phẩm cửa cổng sắt luôn cứng cáp, chắc chắn, gia công dễ dàng, dễ tạo hình để tạo nên các thiết kế đẹp, hiện đại cho công trình nhà ở, nhà phố,…

11. Mẫu cổng sắt 4 cánh nhà liền kề

12. Mẫu cổng sắt 4 cánh Vạn Sự Như Ý

13. Mẫu cổng sắt hộp 4 cánh đơn giản

14. Mẫu cổng sắt 4 cánh chữ Hỷ

15. Mẫu cổng sắt cắt CNC đẹp

16. Mẫu cổng sắt 4 cánh sang trọng

17. Mẫu cổng sắt 4 cánh độc đáo

18. Mẫu cửa sắt 4 cánh nhà mặt tiền

19. Mẫu cổng sắt 4 cánh hiện đại

20. Mẫu cổng sắt 4 cánh đơn giản

Cửa cổng sắt có kết cấu gồm 2 cánh và 4 cánh cửa cùng kích thước ghép lại với nhau. Cổng được làm bằng cách cách những thanh sắt được đặt song song theo chiều ngang, chiều dọc hoặc các thiết kế vuông góc, cắt nhau để tạo hình, có thể kết hợp với các hoa văn sắt CNC để tạo ra nhiều mẫu mã thiết kế ấn tượng, độc đáo.

21. Mẫu cổng sắt hộp 4 cánh đẹp

22. Mẫu cổng sắt hộp 4 cánh đơn giản

23. Mẫu cổng sắt 4 cánh sơn đen

24. Mẫu cổng sắt 4 cánh sơn trắng

25. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp lạ

26. Mẫu cổng sắt 4 cánh hiện đại

27. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp nhà phố

28. Mẫu cổng sắt 4 cánh mới nhất

29. Mẫu cổng sắt 4 cánh thẩm mỹ

30. Mẫu cổng sắt 4 cánh nhà xây mới

Màu sắc của cổng sắt thường được chọn lựa bởi ý muốn của khách hàng, với những tông màu nổi bật như trắng, xanh, nhũ đồng, vân gỗ, đen,… có thể kết hợp nhiều màu sắc để thể hiện nét thẩm mỹ giúp toàn cảnh ngôi nhà trở nên sang trọng và đẹp hơn. Nước sơn sử dụng cho cửa cổng sắt thường dùng loại sơn tĩnh điện hoặc sơn epoxy nhằm tăng thêm độ bền sử dụng cho cửa cổng một cách lâu dài.

31. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp, mới nhất

32. Mẫu cổng sắt 4 cánh hiện đại

33. Cổng sắt 4 cánh đẹp, hiện đại, mới nhất

34. Cổng sắt hộp đơn giản, hiện đại

35. Cổng sắt 4 cánh đẹp, hiện đại, mới nhất

36. Cổng sắt 4 cánh đẹp, hiện đại, mới nhất

37. Mẫu cổng sắt 4 cánh hiện đại

38. Mẫu cổng sắt hộp đơn giản

39. Mẫu cổng sắt đẹp mới nhất

40. Mẫu cổng sắt hộp nhà phố

Cổng sắt thường được kết hợp với hàng rào, mái cổng được làm bằng bê tông có lợp ngói để vừa có chức năng che nắng che mưa vừa để trang trí. Nhiều mẫu cổng mái được thiết kế cầu kỳ, kiểu cách tạo nên bộ cổng đẹp, sang trọng, đẳng cấp và tôn thêm vẻ đẹp cho toàn bộ ngôi nhà.

41. Mẫu cổng sắt 4 cánh nhà phố

42. Mẫu cổng sắt đẹp nhà phố

43. Mẫu cổng sắt 4 cánh hiện đại

44. Cổng sắt 4 cánh đơn giản

45. Hàng rào cổng sắt nhà biệt thự

Cổng nhôm đúc đẹp

Cửa lưới chống muỗi

Vách kính mặt dựng

46. Mẫu cổng sắt đẹp hiện đại mới nhất

47. Mẫu cổng sắt 4 cánh hiện đại

48. Mẫu cổng sắt 4 cánh nhà xây mới

49. Cổng hàng rào sắt đẹp

50. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp nhà cấp 4

Các mẫu thiết kế cổng sắt ngày nay trông gọn gàng hơn và không còn nặng nề như trước kia. Trên thực tế, thì đây là một sự lựa chọn tuyệt vời bởi cổng sắt vừa an toàn, lại vừa có tính thẩm mỹ cao. Điều này luôn đúng kể cả khi bạn chọn mẫu cổng sắt truyền thống hay hiện đại. Các thiết kế dành cho cổng sắt ngày nay cũng rất đa dạng, linh hoạt, tùy theo không gian và sở thích của bạn.

51. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp

52. Cửa cổng sắt đẹp, hiện đại, đơn giản, mới nhất

53. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp

54. Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp

55. Mẫu cổng sắt 3 cánh nan gỗ cao cấp

56. Mẫu cổng sắt 2 cánh đóng mở tự động

57. Mẫu cổng sắt 2 cánh đẹp

58. Mẫu cổng sắt hộp 2 cánh hiện đại

59. Mẫu cổng sắt 2 cánh mới nhất

60. Mẫu cổng sắt 2 cánh hoa văn cắt CNC

Cổng sắt rất dễ thi công và lắp đặt trong nhiều không gian khác nhau. Hơn nữa, giá cả thi công lại rẻ hơn gỗ rất nhiều. Nhờ độ bền cao và chịu nhiệt tốt, cổng sắt ít bị co hay cong vênh khi sử dụng lâu ngoài trời, gia chủ sẽ không mất nhiều chi phí bảo dưỡng hay sửa chữa. Ngoài ra, sắt là vật liệu có thể tái sử dụng. Khoảng 88% các sản phẩm từ sắt có thể tái sử dụng mà không bị giảm chức năng, độ dẻo, và độ bền vẫn được đảm bảo.

Mẫu cổng sắt 4 cánh đẹp

Mẫu cổng sắt 2 cánh đẹp

61. Mẫu cổng sắt 2 cánh đơn giản, hiện đại

62. Mẫu cổng sắt đẹp 2 cánh cắt CNC

63. Mẫu cổng sắt đẹp 2 cánh thẩm mỹ

64. Mẫu cổng sắt 2 cánh đóng mở tự động

65. Mẫu cổng sắt hộp 2 cánh mới nhất

Mẫu cổng sắt nghệ thuật

Mẫu cổng sắt mỹ thuật

Mẫu cổng sắt CNC đẹp

66. Mẫu cổng sắt 2 cánh mỹ thuật

67. Mẫu cổng sắt 2 cánh nhà biệt thự

68. Mẫu cổng sắt 2 cánh vừa lắp đặt

69. Mẫu cổng sắt 2 cánh đẹp đơn giản

70. Mẫu cổng sắt hộp 2 cánh cho nhà thờ

Sử dụng cổng sắt còn giúp nâng cao tính thẩm mỹ cho ngôi nhà. Khi bạn bè, người thân đến thăm, cửa cổng sắt là bộ phận đầu tiên để nhận thấy thẩm mỹ tuyệt vời của gia chủ, làm ngôi nhà trở nên sang trọng hơn trong mắt người khác. Nếu bạn đang muốn tìm kiếm những mẫu cửa cổng sắt để thiết kế cho ngôi nhà của mình thì không nên bỏ qua mẫu cửa cổng sắt này của chúng tôi.

Mẫu cổng inox nghệ thuật

Mẫu cổng inox 2 cánh đẹp

Mẫu cổng inox 4 cánh đẹp

71. Mẫu cổng sắt đẹp 2 cánh mới nhất

72. Mẫu cổng sắt 2 cánh nhà mặt tiền

Tham Khảo: Biện pháp thi công ép cừ larsen

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang ❤️️15 Bài Văn Hay Nhất

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Nghị Luận Văn Học Đặc Sắc Về Bài Thơ Nổi Tiếng Của Bà Huyện Thanh Quan.

Việc lập dàn ý cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang trước khi bắt đầu triển khai bài viết sẽ giúp các em học sinh nắm được bố cục và những luận điểm cơ bản. Tham khảo dàn ý chi tiết như sau:

I. Mở bài: Giới thiệu đôi nét về tác giả Bà Huyện Thanh Quan và tác phẩm Qua đèo Ngang.

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở Nghi Tàm, Thăng Long.

Bài thơ Qua đèo Ngang tả cảnh đèo Ngang lúc ngày tàn, qua đó nhà thơ cũng thể hiện những tâm tư trong lòng mình.

Ví dụ: Bà Huyện Thanh Quan là một người phụ nữ tài năng và xinh đẹp, bà có một tác phẩm đặc sắc mà chúng ta đều biết tới đó là Qua đèo Ngang. Tác phẩm thể hiện cảnh đèo Ngang tuy đẹp nhưng lại rất heo hút, đồng thời thể hiện tâm trạng nhớ thương quê nhà của nhà thơ.

II. Thân bài: Chia bài làm 4 phần và phân tích nội dung của chúng

a. Hai câu đề

Thời điểm nữ thi sĩ bước tới đèo Ngang.

Gợi tả cảnh quan con đèo.

b. Hai câu thực

Cuộc sống và con người nơi đèo Ngang, cảnh vật có sự đối nhau.

Sử dụng từ láy lom khom, lác đác làm tăng thêm sự hoang vắng, nghèo nàn của khung cảnh.

c. Hai câu luận

Tiếng kêu quốc quốc, gia gia càng làm tăng thêm nỗi nhớ nhà.

Sử dụng phép đối và đảo ngữ, vừa tạo hình, vừa tạo nhạc.

d. Hai câu kết

Tâm trạng ngơ ngác, bồi hồi của nữ sĩ khi dừng chân đứng lại để nhìn ngắm cảnh đèo.

Nhận ra cái cô đơn, lẻ loi của mình giữa không gian bao la.

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ chung đúc kết lại của em về bài thơ Qua đèo Ngang.

Ví dụ: Qua bài thơ Qua đèo Ngang ta có thể thấy được cảnh núi non hùng vĩ và hoang sơ của đèo Ngang, một cảnh đẹp của đất nước. đồng thời ta còn thấy được tình yêu quê và nỗi nhớ quê của người phụ nữ xa quê rất cô đơn và rất buồn bã.

Khám phá thêm 💕 Thơ Bà Huyện Thanh Quan 💕 Tuyển Tập Trọn Bộ Đầy Đủ

Tham khảo đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang sẽ giúp các em học sinh luyện tập cách diễn đạt ý văn nghị luận văn học mạch lạc, chặt chẽ.

Trong nền văn học hiện đại nếu như chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chắc hẳn rằng sẽ thấy được sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ “Qua đèo Ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” được sáng tác khi tác giả vào Phú Xuân (Huế) nhận chức và đi qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết.

Chỉ 8 câu thơ nhưng nó đã diễn tả được hết cái thần thái, cái hồn của cảnh vật cũng như của con người khi đứng trước cảnh trời núi hiu quạnh và lòng người man mác như thế này. Hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo Ngang:

Không gian và thời gian ở đèo Ngang được tác giả thể hiện qua từ “bóng xế tà”. Có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. Trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai. Mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này.

Cảm giác cô đơn, lạc lõng. Cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ “chen” dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. Hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi.

Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là “tiều vài chú”. Hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. Mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. Với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hiu quạnh của đèo Ngang.

Việc sử dụng hai từ láy “lom khom” và “lác đác” vừa chỉ hoạt động gánh củi vất vả vừa chỉ ước tính số lượng cụ thể. Những hình ảnh ước lệ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan đã lột tả hết thần thái cũng như cảm xúc của tác giả lúc đó. Những sự sống hiếm hoi, lẻ loi và mong manh đang chờn vờn ở ngay trước mắt nhưng xa lắm. Muốn tìm bạn để tâm sự cũng trở nên khó khăn. Sang đến hai câu thơ luận thì cảm xúc và tâm sự của tác giả bỗng nhiên trỗi dậy

Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái da da” đã tạo nên âm hưởng dìu dặt, du dương nhưng vô cùng não nề thấm đến tâm can. Người lữ khách đường xa nghe văng vẳng tiếng cuốc và gia gia kêu mà lòng quạnh hiu, buồn tái tê. Thủ pháp lấy động tả tĩnh của tác giả thật đắc điệu, trên cái nền tĩnh lặng, quạnh quẽ bông nhiên có tiếng chim kêu thực sự càng thêm não nề và thê lương.

Nghe tiếng cuốc, tiếng da da mà tác giả “nhớ nước” và “thương nhà”. Thương cảnh nước nhà đang chìm trong cảnh loạn lạc, gia đình li tan; thương cho thân gái phải xa nhà quạnh hiu, đơn độc. Nỗi lòng của bà huyện thanh quan như sâu thẳm tầng mây, trùng trùng điệp điệp không dứt. Hai câu thơ kết thì cảm xúc và nỗi niềm của tác giả được đẩy lên đỉnh điểm:

Chỉ bốn chữ “dừng chân nghỉ lại” cũng đã khiến người đọc cảm thấy da diết, bồn chồn đến não nề. Cảnh trời nước mênh mông, vô tận nhưng con người thì bé nhỏ khiến cho tác giả thấy mình lạc lõng và không một nơi bấu víu. Đất trời rộng lớn, tác giả chỉ cảm thấy còn “một mảnh tình riêng”. Và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có “ta với ta”. Nỗi buồn dường như trở nên cực độ, buồn thấu tận tâm can, buồn nghiêng ngả trời đất.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” với giọng điệu da diết, trầm bổng, du dương và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo đã mang đến cho người đọc cảm xúc khó quên. Dư âm của bài thơ dường như còn vang vọng đâu đây.

Ngoài ra, tại chúng tôi còn có 🌺 Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà 🌺 15 Mẫu Đặc Sắc

Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức.

Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh:

Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan: chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp.

Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu.

Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người:

Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn.

Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình: núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút.

Bốn câu thơ cuối nói lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Những âm thanh của cuốc kêu cũng chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan. Tài dùng chữ của bà đã đạt đến độ điêu luyện: chữ quốc là nước đồng âm với chữ cuốc tức con chim, chữ gia là nhà gần âm với từ chữ đa là chim đa đa.

Chữ vừa ghi âm thanh nhưng đồng thời còn bộc lộ tâm trạng, ý tứ của tác giả, qua đó làm nổi bật tâm trạng, nỗi niềm của nữ sĩ. Vì phải xa quê hương, vào miền đất mới nhận chức nên bà nhớ nhà, nhớ gia đình. Còn nhớ nước tức là bà đang nhớ về quá khứ huy hoàng của triều đại cũ. Hai chữ nhớ nước, thương nhà được tác giả đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi niềm của bà.

Hai câu thơ cuối bộc lộ trực tiếp nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhà thơ: “Dừng chân đứng lại trời, non, nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta”. Không gian mênh mông khiến con người lại càng trở nên bé nhỏ, cô đơn hơn. Sự vật tưởng là hòa quyện, gắn kết với nhau mà thực chất lại đang chia lìa đôi ngả, trời, non, nước được tách biệt với nhau bằng những dấu phẩy, đó là cái nhìn mang tính tâm trạng của chính tác giả.

Câu thơ cuối như là một lời khẳng định trực tiếp nỗi cô đơn đó “một mảnh tình” “ta với ta”. Đại từ “ta” không còn mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng mà là cá nhân, chỉ một mình tác giả. Trong hai câu kết, tất cả là một sự gián cách, là một thế giới riêng, cô đơn đến tuyệt đối.

Không chỉ đặc sắc về nội dung, tác phẩm còn là điển hình mẫu mực về nghệ thuật cổ điển Đường thi. Bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, chuẩn mực về niêm, luật, đối, ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mặc dù đã được Việt hóa. Sử dụng thành công đảo ngữ, chơi chữ. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc, tả cảnh vật mà bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả.

Qua bài thơ Qua đèo Ngang ta không chỉ ấn tượng bởi nghệ thuật tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển đường thi và chất dân dã của dân tộc, mà còn bị cuốn hút bởi nội dung. Bức tranh phong cảnh đèo Ngang hiu quanh, mênh mông đã thể hiện tâm trạng buồn bã, nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của tác giả.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nữ sĩ tài năng bậc nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam. Giữa hằng hà sa số những bậc quân tử hảo hán băn khoăn, trăn trở về việc nước, thơ của bà mang một hồn thơ man mác buồn thương. “Qua đèo Ngang” là tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp văn học của nữ thi sĩ, viết về khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng tâm trạng nuối tiếc, cô đơn khi một mình đơn độc giữa đất trời rộng lớn.

Lựa chọn thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thịnh hành thời bấy giờ cùng hệ thống niêm luật, gieo vần điệu quy củ, nghiêm tắc, bài thơ vừa nói lên tiếng lòng của người lữ khách khi bước tới vãn cảnh đèo Ngang. Bài thơ đã để lại tiếng vang lớn, đưa tên tuổi của bà Huyện Thanh Quan lên một tầm cao mới trong làng văn học đương thời

Mở đầu bài thơ, tác giả bao quát khung cảnh thiên nhiên bao la, rộng lớn:

Lựa chọn khung cảnh kì vĩ, lấy điểm nhìn từ trên cao, thời gian là khi “bóng xế tà”, buổi chiều buồn thường gợi cho con người cảm giác cô độc, buồn thương. Một buổi chiều hoàng hôn hiu hắt, bước chân lữ khách “bước tới đèo Ngang”, một sự tình cờ tự nhiên, hòa hợp giữa người và cảnh. Đứng giữa sự rộng lớn của đất trời, một mình đứng trên đèo cao nhìn xuống, xung quanh chỉ có cỏ cây.

Động từ “chen” cùng nghệ thuật liệt kê “cỏ”, “cây”, “đá”, “hoa” càng nhấn mạnh sự rậm rạp, hoang sơ của thiên nhiên. Người đọc hình dung ra bức tranh hoàng hôn bóng xế, một ngày sắp tàn lụi, trên đỉnh đèo thoai thoải, dưới chân là đá, là hoa, là cỏ cây, một bóng hình lẻ loi, đơn độc trầm ngâm suy tư, nghĩ ngợi. Cái nhỏ bé của con người khiến người ta cảm thấy rợn ngợp trước sự vĩ đại của thiên nhiên.

Nếu hai câu thơ đầu tác giả khắc họa khung cảnh sống động, hài hòa thì ở hai câu thơ sau, hình ảnh con người xuất hiện nhưng lại mang nét thưa thớt, ít ỏi:

Sự xuất hiện của con người càng làm tăng thêm cái hiu hắt, cô quạnh của khung cảnh. Biện pháp đảo ngữ “tiều vài chú”, “chợ mấy nhà” kết hợp cùng các tính từ ‘lom khom”, “lác đác”, so với sự hùng vị, choáng ngợp của đèo Ngang quả là sự đối lập rõ rệt. Cũng có bóng người đấy, nhưng chỉ là những hình bóng lưa thưa, heo hắt bên kia bờ sông. Sự u tịch của buổi chiều bao trùm lên vạn vật, không gian nhuốm màu buồn thương da diết đến lặng người.

Mượn cảnh tả tình, bà Huyện Thanh Quan mượn tiếng kêu của những loài chim để khéo léo lồng ghép nỗi u hoài, nhớ thương về giang sơn đất nước:

Nghệ thuật chơi chữ, con chim cuốc được biến thể thành từ đồng âm “quốc quốc”, chim đa đa trở thành “gia gia”. Quốc là đất nước, gia là gia đình, đứng trước cảnh tượng tiêu điều trong chiều hoàng hôn đang dần phai, nữ thi sĩ lại canh cánh nỗi nhớ thương đau lòng với tổ quốc, với quê hương.

Đứng trên chính mảnh đất quê cha đất tổ của mình nhưng lại một lòng hướng về đất nước, phải chăng, cái mà nhà thơ nhung nhớ là những tháng ngày trù phú, sầm uất, là khung cảnh người đi lại tấp nập, huyên náo. Nỗi buồn gieo cả vào lòng người, mà “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, nỗi buồn héo hon chứa đựng cả con người, cả cảnh vật nơi đây.

Trước không gian bao la, bát ngát của “đệ nhất hùng quan”, lòng người thi sĩ dường như có sự vương vấn, lưu luyến không muốn rời:

Bước chân lữ khách tìm đến đèo Ngang, cảnh đèo Ngang, sắc đèo Ngang khiến lòng người thi sĩ say đắm, chẳng muốn bước đi. Trời, non, nước, cảnh tượng thiên nhiên hài hòa, tráng lệ, để tơ lòng của tâm hồn nhạy cảm chỉ còn là “một mảnh tình riêng”. Ba tiếng “ta với ta” vang lên đầy quạnh hiu, một nỗi cô đơn thầm kín, cô đơn giữa cảnh tượng quá đỗi ngút ngàn, cô đơn giữa chính quê hương, đất nước. Mảnh tình riêng đây chính là nỗi u sầu, hoài niệm, nỗi lòng yêu kính của một nhân tài, một người con hiến mình cho tổ quốc.

Viết bằng thể thơ Đường luật với những niêm luật chặt chẽ, bài bản, nhưng “Qua đèo ngang” lại không gò bó, ép buộc. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được sự công phu của tác giả khi lựa chọn những câu từ tả cảnh, tả tình đắt giá. Cảnh sắc tuyệt đẹp của đèo Ngang, nỗi buồn day dứt của một người có học thức và tấm chân tình, nghĩ tới nước nhà, giang sơn đã được bà Huyện Thanh Quan gói gọn trong vỏn vẹn tám câu thơ để đời.

Đọc nhiều hơn 🌻 Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam 🌻 15 Mẫu Đặc Sắc

Bài văn cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh tham khảo cách diễn đạt súc tích, câu từ gãy gọn giàu ý nghĩa và hình ảnh.

Trong nền văn học Trung đại Việt Nam có lẽ sẽ chẳng ai quên được hai nữ nhà thơ tài năng: Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Nếu ở bà chúa thơ Nôm ta thấy nét bứt phá, hơi nổi loạn thì ta lại tìm thấy những xúc cảm trầm buồn nhẹ nhàng ở Bà Huyện Thanh Quan, tiêu biểu đó là bài “Qua Đèo Ngang”.

Sáng tác trong một lần tác giả đi vào Huế để nhậm chức. Trên đường có đi qua địa danh này, nỗi lòng yêu nước nhớ quê hương, xót nước lại trào dâng làm cảm hứng để tác giả ngẫu hứng bật ra những vần thơ.

Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với đầy đủ theo cấu trúc truyền thống của thể loại này, bao gồm: đề, thực, luận, kết. Qua đó đã diễn tả những nỗi niềm tâm tư của tác giả về đất nước. Đó là tuyệt thi thấm đượm nỗi buồn man mác, bâng khuâng, để lại trong lòng mỗi người không ít u sầu về lòng người cũng như thế sự đương thời bấy giờ:

Vừa đặt chân đến chốn đây cũng là lúc mặt trời đổ bóng. Thời gian lúc này là “bóng xế tà ” là khoảng thời gian kết thúc của một ngày. Xưa kia văn thơ trung đại người ta thường chỉ lấy buổi chiều làm hình ảnh trong thi phẩm chỉ khi lòng người mang đậm nỗi buồn. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, phải chăng là nỗi lòng bà huyện Thanh quan tài năng kia cũng mang một nỗi niềm về thế thời.

Từ “chen” được điệp đến hai lần trong một câu thơ như tăng thêm chất hiu quạnh hơn. Nghệ thuật tiểu đối trong cùng một câu tạo nên nhịp thơ đăng đối hài hoà. Thêm đó lại càng làm bức tranh chiều tăng thâm phần hiu quạnh.

Dấu hiệu sự sống, con người đến hai câu thực đã dần xuất hiện. Hình ảnh “tiều vài chú, chợ, mấy nhà” đó là tất cả hơi thở cuộc sống nơi đây. Một lần nữa nghệ thuật tiểu đối trong các câu, giữa các câu đã phần nào tô thêm vào bức tranh con người nơi đây. Biện pháp tu từ đảo ngữ được tác giả sử dụng triệt thành công ” Lom khom, lác đác”. Đồng thời cũng là những từ láy nhằm chỉ sự hoạt động nhỏ nhặt nhấn mạnh vào sự cô quạnh nơi đây. Đồng thời lột tả về nhịp sống mong manh, thưa thớt mà tẻ nhạt thiếu sức sống.

Dường như đến hai câu luận nỗi niềm tâm sự càng thêm trĩu nặng hơn. “Con quốc quốc” và “cái gia gia” tạo nên âm hưởng dìu dặt da diết cho âm điệu của câu thơ. Những cảm xúc, dòng suy nghĩ dần bộc lộ rõ hơn của tác giả. Là một nữ sĩ tài năng, tài tú không những thế bà còn là người mang nặng lòng với niềm mất nước trước bấy giờ. Thủ pháp lấy động tả tĩnh được khai thác đã khắc hoạ thêm cái u sầu của bài thơ.

Nghe tiếng kêu rỉ máu của “cuốc cuốc” và cái “da da” mà lòng người thêm thê lương đau đáu về nỗi niềm thế sự. Thương cho thảm cảnh đất nước phân li, nước mất nhà tan lú bây giờ. Dường như để tránh, xoa dịu nỗi đau ấy tác giả đã sáng tạo thay vì “quốc quốc, gia gia” trong từ quốc gia thay bằng từ đồng âm. Nhưng nỗi niềm của bà huyện Thanh Quan vẫn khắc sâu ở đó, vẫn đau tâm khảm, vẫn nặng trĩu u sầu thậm chí thấm đượm trong cả cảnh vật.

Đến hai câu kết:

Non nước giờ đây hiện hữu trước mắt nhưng thay vì thấy sự hùng vĩ tráng lệ thì ta lại vẫn buồn vì những chữ ” dừng chân đứng lại”. Phải chăng cái dừng chân ấy có phải là cái dừng chân, cái dáng đứng bất lực trước thế thời của tác giả. Mảnh đất bao la của “quốc gia” mà lòng người thấy cô đơn lạc lõng biết bao, đứng trước cái mênh mông ấy nên bà chỉ cảm thấy ” mảnh tình con con”. Bởi thế mà cụm từ đầy sáng tạo “ta với ta” thêm khắc sâu nỗi buồn man mác trĩu nặng lòng người hơn.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” với tài năng nghệ thuật tác giả, kết hợp nhuần nhuyễn giữa các từ láy, các phép đối đã làm nên một thi phẩm để đời. Qua đó ta thấy thêm hiểu nỗi lòng của một thi nữ tài năng mà cũng đầy trân trọng và cảm thông với bà.

Gợi ý cho bạn ☔ Nghị Luận Về Bài Thơ Sang Thu ☔ 15 Bài Văn Ngắn Hay

Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học trung đại của nước ta. “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm rất tiêu biểu cho phong cách thơ của bà. Bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời nhà thơ còn qua đó gửi gắm nỗi nhớ nước thương nhà.

Tác giả đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên nơi Đèo Ngang trong một buổi chiều tà:

Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm kết thúc của một ngày. Nhà thơ đang một mình đứng trước nơi đèo Ngang. Tiếp đến câu thơ “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng, khắc họa khung cảnh thiên nhiên đèo Ngang. Việc sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” thật tinh tế. Vẻ đẹp thiên nhiên của đèo Ngang tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.

Và không thể thiếu trong bức tranh thiên nhiên đó là hình ảnh con người. Nghệ thuật đảo ngữ “lom khom – tiều vài chú” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Và “lác đác – chợ mấy nhà” gợi ra hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. Nhà thơ muốn nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Thiên nhiên mới là trung tâm trong bức tranh đèo Ngang.

Thiên nhiên càng cô quạnh, tâm trạng của tác giả càng cô đơn. Điều đó được bộc lộ ở những câu thơ tiếp theo:

Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). Việc sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. Đọc đến đây, chúng ta dường như có thể lắng nghe được tiếng kêu khắc khoải, da diết đang vang lên trong vô vọng.

Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước (có bầu trời, có núi non, dòng sông). Sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ:

Trong thơ Nguyễn Khuyến cũng từng sử dụng cụm từ “ta với ta”:

Trong “Bạn đến chơi nhà, từ “ta” đầu tiên chỉ chính nhà thơ – chủ nhà, còn từ “ta” thứ hai chỉ người bạn – khách đến chơi. Từ “với” thể hiện mối quan hệ song hành, gắn bó dường như không còn khoảng cách. Qua đó thể hiện tình bạn gắn bó tri âm tri kỷ của nhà thơ. Còn trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, cụm từ “ta với ta” ở đây đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. Sự cô đơn ấy dường như chẳng thể có ai cùng chia sẻ.

Như vậy, Qua đèo Ngang đã thể hiện được tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan trước khung cảnh đèo Ngang hoang sơ. Bài thơ chứa đựng những tình cảm, ý nghĩa sâu sắc.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan được sáng tác khi bà đi ngang con đèo này để vào kinh thành Huế nhận chức làm quan. Bài thơ nói lên nỗi nhớ quê hương gia đình của người con gái đi xa, nỗi thương thân của phụ nữ nơi đất khách quê người. Lối thơ nhẹ nhàng điềm tĩnh của tác giả được thể hiện rõ qua bài thơ này.

Nằm giữa hai đầu nỗi nhớ, gánh trọn ân tình của nữ sĩ về bức tranh thiên nhiên hoang sơ đậm chất tình. Bà Huyện Thanh Quan dùng lối viết tự nhiên mà sâu lắng, hoài cảm đi vào lòng người. Trên con đường vào Phú Xuân, nữ sĩ bắt gặp phong cảnh đèo Ngang, từ đó khơi gợi nỗi buồn của người con gái đường xa chất chứa bao nỗi nhớ thương:

Bức tranh vẽ ra vào buổi chiều tà, vào thời gian vắng vẻ và hoang vu trong ngày. Nếu được thay bằng “nắng tà” thì khung cảnh sẽ sinh động hơn. Một buổi chiều có nắng vàng, hoa lá và đá, vậy tại sao nữ sĩ lại không chọn nắng? Thời điểm chiều tà làm cho lòng người nôn nấu một nỗi hoài cổ, chất xúc tác làm tâm trạng con người cất thành tiếng.

Bức tranh thiên nhiên hoang sơ đượm màu buồn, liệu tâm hồn nữ sĩ có đủ mạnh mẽ vượt qua? Điệp từ “chen” nhấn mạnh sự đơn lẻ, cô liêu. Sự sống sắp lụi tàn, hoa lá cỏ cây đang cuống quýt, nồng say bám chặt lấy sự sinh tồn trên mảnh đất cằn cỗi.

Bức tranh lúc này đã có sự xuất hiện của con người nhưng nó có thể làm mờ nhạt bớt phần nào trong sự trống vắng của tâm hồn người thứ lữ? ” Tiều vài chú” chỉ có một vài chú tiều đi gom củi phía dưới chân núi. Từ đó, làm tăng cường độ mỏng manh của sự sống. Nó hư vô, mờ ảo như thể sẽ biến mất. Tác giả đã dùng nghệ thuật phép đảo để thay đổi trật tự cú pháp ở hai câu này làm toát lên cảnh hắt hiu, hoang sơ của con đèo này.

Từ láy ”lom khom” chỉ hoạt động gồng gánh gian nan và “lác đác” nói lên mức độ số lượng được ước tính cụ thể. Những hình ảnh ước lệ ấy đã bộc lộ ra hết cảm xúc, muốn lắm, cần lắm được chạm đến sự sống và khao khát được nhìn thấy con người. Ôi chỉ là ảo ảnh! Nơi này, nữ sĩ biết tìm đâu người bạn đường để trò chuyện chia sẻ bao nỗi niềm.

Hai câu luận tiếp theo làm trỗi dậy nỗi niềm tiềm ẩn của người thứ lữ. ”Con quốc quốc” “Cái gia gia” âm hưởng nhẹ nhàng mà thấm đẫm đến tâm can con người. Người khách phương xa cô đơn nghe văng vẳng tiếng chim cuốc mà lòng tê tái, não nề.

Ở đây, tác giả dùng thủ pháp dùng động để tả tĩnh thật tinh tế, thứ âm thanh coi cuốc nơi xa kia làm bệ phóng cho tác giả gửi trọn nỗi niềm về đất nước và gia đình trên cuộc hành trình của mình. Thương nước nhà đang chìm trong tình cảnh loạn lạc, xót xa thân phận gái xa nhà độc hành. Nỗi lòng thương xót ấy như được trùng trùng điệp điệp không ngơi nghỉ.

Hai câu kết đưa xúc cảm của nữ sĩ lên đến đỉnh điểm của cảm xúc cao trào. ”Dừng chân” phần nào làm cho mạch cảm hứng của người đọc ngắt đoạn. Nhờ đó, mới diễn tả hết tâm trạng của nữ sĩ giữa núi rừng heo hút. Cái mênh mông, vô tận của núi rừng níu chân người thứ lữ. Ai đã từng một mình trước biển mà không choáng ngợp ?Ai đã yêu một người mà chưa từng nhớ nhung?

Thật vậy, giữa thế giới bao la, vô tận ấy làm đôi chân nhỏ bé không thể bước nổi. Sự đơn độc ấy làm người thứ lữ yếu đuối. Người con gái ấy lại một lần nữa khao khát được hòa mình vào thiên nhiên núi rừng, được che lấp sự yếu đuối, đơn độc nơi mình. Núi rừng bao la, rộng lớn bao nhiêu thì sự cô đơn, trống vắng của nữ sĩ lại càng tăng bấy nhiêu.

Từ đó, ta đủ cảm nhận “mảnh tình riêng” đơn độc đến tiếc nuối. Thể thơ thất ngôn bát cú với cấu trúc đề thực luận kết, cách hiệp vần và phép đối trong bài thơ tóm gọn bao cảm xúc trong lòng người đọc. Những tâm tư ấy đẹp biết bao qua lăng kính của tâm hồn người nữ sĩ một lòng một người yêu nước, thương dân.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” mang đến một phong cách mới mẻ về bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mang đậm chất trữ tình của nữ sĩ. Những vần thơ ấy sẽ còn mãi trong tâm trí người đọc, có một người yêu thiên nhiên, yêu đất nước đến vậy.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Thuyết Minh Về Tác Giả Nguyễn Du 🍀 16 Bài Văn Mẫu Hay

Tài liệu văn cảm nghĩ của em về bài thơ Qua đèo Ngang học sinh giỏi sẽ giúp các em học sinh nắm vững phương pháp làm bài nghị luận văn học và đạt kết quả cao cho bài viết của mình.

Việt Nam có rất nhiều con đèo nổi tiếng như Đèo Hài Vân, Đèo Cả, Đèo Phương Hoàng… nhưng nổi bật nhất vẫn là Đèo Ngang vì nó được đi vào thơ ca, được các thế hệ nhắc đến nhờ bài thơ “Qua Đèo Ngang”, một trong sáu bài thơ Đường luật còn lưu lại cho đến ngày nay của nữ thi sĩ tài danh Nguyễn Thị Hĩnh, còn được người đời biết đến qua tên gọi Bà Huyện Thanh Quan.

Với những vần thơ trữ tình, in sâu vào lòng người đọc, người nghe nỗi xúc dộng lẫn thán phục, bài thơ đã miêu tả cảnh vật con đèo cũng như tâm trạng của mình khi đi từ Thăng Long vào kinh đô Huế nhậm chức. Những vần thơ ấy dược lưu truyền lại như sau:

Cảnh tượng Đèo Ngang hiện lên qua thời gian và không gian trong hai câu “Đề” như sau:

Nhà thơ dừng chân tại Đèo Ngang vào lúc xế tà. Việc sử dụng hình ảnh bóng chiều vào câu thơ có tác dụng giúp người đọc, người nghe cảm thấy bồi hồi xao xuyến vì đây là lúc mặt trời khuất núi, vương lại những tia nắng vàng rượm rồi tắt hẳn. Buổi xế tà là quãng thời gian các nhà văn, nhà thơ thường dùng để diễn tả nỗi buồn, nỗi trống vắng như nhà thơ Nguyễn Du đã viết: “Buồn trông cửa bể chiều hôm.” Hoặc Trần Nhân Tông đã ghi lại trong bài Thiên Trường vãn vọng: “Bóng chiều man mác có dường không.”

Việc sử dụng buổi chiều đã phản ánh được tâm sự chất chứa trong lòng tác giả về một nỗi buồn hữu hữu vô vô. Nỗi buồn càng tăng lên khi cảnh vật ở đây có đá, lá hoa chen chúc nhau mọc lên tạo thành một cảnh tượng hoang dã, không có bàn tay chăm sóc của con người. Hình ảnh này cũng đã in sâu vào tâm trí em cảm xúc yêu thương quê hương và từ đó thấu hiểu hơn nỗi nhớ nhà thiết tha của tác giả khi phải rời quên đến một nơi xa lạ.

Trong bóng chiều, cảnh vật tại con đèo dần dần mở ra:

Dưới ngòi bút của nhà thơ, cảnh vật con đèo hiện lên thật cụ thể, sinh động! Cụ thể ở chi tiết vài chú tiều phu lom khom đốn củi dưới núi, còn bên kia sông lác đác, thưa thớt một vài căn nhà đơn sơ. Bà Huyện Thanh Quan đã thành công trong việc sử dụng biện pháp đảo ngữ.

Từ “lom khon” được dưa lên trước nhằm diễn tả cảnh Đèo Ngang tuy có sự sống của con người nhưng người thì lại vừa không thấy mặt vừa không gặp được để trò chuyện. Còn nhà dân thì ở bên kia sông, đồng thời lại thưa thớt vài căn nên có cũng như không. Chính điều này càng làm tăng thêm nỗi buồn cho nhà thơ.

Tâm sự của tác giả càng lúc càng rõ nét qua hai câu “luận”:

Bức tranh phong cảnh ở Đèo Ngang chẳng những có màu sắc của cảnh vật mà còn trở nên da diết với âm thanh của các loài chim như con chim quốc, con chim da đa… Tiếng chim quốc như nhắc nhở mọi người về điển tích vua Thục Đế hoá thành con chim quốc để luôn nhớ đến nỗi đau mất nước của mình. Em thật khâm phục nghệ thuật đối ý, đối lời trong hai câu thơ này vì khi ghép lại với nhau, người dọc nhận ra ngay dược tâm sự của nhà thơ “Nhớ thương nước nhà, quốc gia quốc gia”.

Tâm trạng của tác giả khi dừng chân tại Đèo Ngang dược đúc kết trong hai câu thơ cuối:

Đứng trước cảnh trời cao vời vợi, núi non trùng điệp, sông nước mênh mông, bất cứ ai cũng cảm thấy nhỏ bé, mong manh… Nhà thơ như thu mình lại, chôn giấu sự trống vắng trong tận cõi lòng. “Ta với ta” thể hiện rõ cảm xúc khắc khoải của nhà thơ: tuy một mà hai, tuy mắt ngắm nhìn cảnh thiên nhiên ở con dèo nhưng lòng lại nặng trĩu nhớ về quê nhà không biết bao giờ trở lại.

Tâm trạng u buồn này khác hẳn với niềm vui của nhà thơ Nguyễn Khuyên khi sử dụng cụm từ “Ta với ta” trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” vì tuy hai người nhưng cùng một tấm lòng, một tình bạn chân thật. Câu kết của bài thơ như một sợi dây liền mạch, nối xuyên suốt cả bài thơ tạo cho người đọc một cảm xúc day dứt, khó quên.

Bài thơ Qua Đèo Ngang đã thành công khi chuyển tải được tâm sự u buồn của Bà Huyện Thanh Quan, đồng thời lồng ghép vào đó là cảnh tượng thiên nhiên rất thực, rất sinh động của một con đèo nổi tiếng trong thơ ca và trong lịch sử nước ta. Bài thơ không chỉ thành công về mặt ý nghĩa mà còn rất chỉnh chu trong việc dùng từ, tạo câu thật đặc sắc gây thích thú cho người đọc, người nghe.

Càng thấm thìa những vần thơ mang nặng tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan, em càng cảm mến tấm lòng nhớ nước thương nhà của bà hơn. Từ đó em thấy mình phải học giỏi môn Văn để có thể để lại cho đời những vần thơ tuyệt diệu như nữ văn sĩ tài danh.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Thuyết Minh Về Một Tác Giả Văn Học 🌟 15 Bài Văn Mẫu Hay

Đón đọc bài phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang đặc sắc để trau dồi thêm cho mình những ý văn hay và phong phú hơn.

Tác phẩm “Qua Đèo Ngang” là bài thơ đánh dấu tên tuổi của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ ra đời vào thời điểm bà trên đường vào Phú Xuân, đi Qua Đèo Ngang, một con đèo nổi tiếng tiếng với phong cảnh hữu tình. Bằng giọng thơ buồn man mác, hồn thơ tinh tế đi vào lòng người “Qua Đèo Ngang” không còn là một bức tranh thiên niên đơn thuần mà còn bộc lộ tâm trạng cô đơn của nữ thi sĩ với sự tiếc nuối và buồn về thế sự đất nước lúc bấy giờ.

Sự sáng tạo nhưng vẫn có nét truyền thống, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với kết cấu đề thực luận kết. Mở đầu tứ thơ với hai câu đề:

Hai câu thơ đầu tiên thi sĩ đã khai mở toàn bộ không gian, thời gian khi sáng tác bài thơ. Hai câu thơ đề với lối thơ rất tự nhiên, không bị gò ép trong khuôn khổ chung thời ấy. Trong cảnh hoàng hôn “bóng xế tà”, nữ thi sĩ bước đến mang trong mình những cảm xúc khó tả, say đắm trong không gian rộng lớn sâu thẳm của đèo cao, thời gian mênh mông của trời chiều.

Bao giờ cũng vậy, trong thi ca trung đại, “bóng xế tà” luôn gợi cho con người một nỗi buồn man mác không tên, mênh mang hơn đất trời, có chút gì đó lưu luyến thời gian của một ngày đã qua. Trong không gian chiều ấy, một nét chấm phá làm nổi bất thiên nhiên nơi đèo núi chập chùng: “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.

Khi hoàng hôn buông dần phai, không gian ngày tàn mà tác giả còn bắt gặp được một sức sống tiềm tàng của thiên nhiên. Sử dụng phép nhân hóa, kết hợp động từ “chen” nữ thi sĩ như thổi vào thiên nhiên một linh hồn với sự sống mãnh liệt, đang vươn lên. Từ ngọn cỏ, từng nhành hoa nhỏ bé kia đang chen lên những tảng đá lớn, giữa một không gian ấy, cảnh vật mang một nét đẹp lạ lùng.

Từ gần đến xa, tác giả đưa mắt ra phía dưới đèo, con người xuất hiện:

Bức tranh chỉ thêm đẹp khi có sự xuất hiện của con người. Biện pháp đảo ngữ các từ láy gợi tả như “lom khom” , “lác đác” và các chỉ từ “vài” , “mấy” làm không gian trở nên hiu hắt, con người thì quá đỗi nhỏ bé so với thiên nhiên hùng vĩ chiều hôm. Dưới chân núi, vài chú tiều phu đốn củi, và mái nhà thưa thớt quanh quanh. Không gian bao trùm lên toàn bộ cảnh vật là sự hiu quạnh và vắng vẻ.

Hai câu luận là nỗi buồn của thi sĩ trước cảnh giang sơn đất nước đang ngày một lụi tàn:

Tiếng kêu của con quốc hay chính là tiếng lòng tác giả. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” là câu thơ bắt nguồn từ điển tích xưa về vua Thục vì mất nước mà hóa thành con cuốc chỉ biết kêu những tiếng đau thường. Tiếng cuốc kêu khắc khoải càng làm bóng chiều trở nên dịu vợi. Còn tiếng “gia gia” là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi “thương nhà”. Thương nhà ở đây có lẽ là nỗi nhớ thương đất nước trong quá khứ hào hùng hay cũng là thương cho sự đổi thay, sự lụi tàn của quê hương.

Những xúc cảm của thi sĩ được bộc lộ một cách trực tiếp bằng hai câu luận. Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp với biện pháp nhân hóa ” đau lòng” “mỏi miệng” cùng chuyển đổi cảm giác từ nỗi lòng thành tiếng thương tạo ấn tượng mạnh đã cho ta thấy bức tranh ấy không chỉ là cảnh vật mà còn là bức tranh tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan với tình yêu thương nước nhà.

Với kết cấu đầu cuối tương ứng, hai câu kết khép lại những tâm trạng của thi nhân:

Cảnh vật khiến dừng bước chân trên con đường đến Phú Xuân. Cái bao la của đất trời, cái hùng vĩ của núi non, cái mênh mông của sông nước như níu bước chân nữ thi sĩ. Nhưng đứng trước không gian bao la của đèo Ngang , tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mình dần lấp đầy tâm hồn, bao trùm lên mọi cảnh vật”một mảnh tình riêng ta với ta”.

Khung cảnh thiên nhiên càng rộng lớn bao nhiêu thì nỗi cô đơn của người lữ khách càng vơi đầy. Một mảnh tình riêng, một tâm tư sâu kín, những tâm trong lòng mà chẳng tìm nổi một người để sẻ chia. Nỗi buồn cứ vậy lắng vào cảnh vật, tâm trạng kéo dài miên man. Chỉ có “ta” và “ta” giữa mênh mông trời đất.

Bài thơ khép lại, mở ra những suy tư cho người đọc. Khiến người ta nhớ về một thời đại lụi tàn, một nữ thi sĩ bơ vơ. Bức tranh cảnh vật và tâm trạng ấy để lại biết bao cảm xúc trong lòng người đọc.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Văn mẫu cảm nghĩ về tác phẩm Qua đèo Ngang nâng cao sẽ giúp các em học sinh luyện tập trau dồi kỹ năng diễn đạt và xây dựng những ý văn hay.

Ai đã từng đi trên con đường xuyên Việt, hẳn đều biết đến đèo Ngang. Đây là một đèo khá dài và cao, nằm vắt ngang sườn núi cheo leo, hiểm trở của khúc cuối dãy Hoành Sơn, trước khi đâm ra biển. Lên đến đỉnh đèo, du khách sẽ được thưởng thức cảnh đẹp thuyệt vời củ thiên nhiên hùng vĩ: núi non điệp trùng, đại dương bao la, trời cao thăm thẳm.

Đèo Ngang là ranh giời tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. Thuở xưa, bao người vào kinh đô Huế để thi cử hay làm việc cho triều đình phong kiến đã đi qua đèo này rồi xúc cảm trước vẻ đẹp của nó mà làm thơ ca ngợi. Bà Huyện Thanh Quan trong dịp từ Thăng Long vào Huế nhậm chức Cung trung giáo tập đã sáng tác bài Qua đèo Ngang.

Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm trạng của nữ sĩ: cô đơn, nhớ nhà và hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã qua. Có thể coi đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ sáng tác về thắng cảnh đèo Ngang.

Câu thơ đầu tiên (phá đề) nói đến thời điểm tác giả đặt chân đến đây:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Đó là lúc mặt trời đang lặn. Phía tây chỉ còn chút nắng hắt những tia sáng yếu ớt lên nền trời đang sẫm dần. Thời điểm này rất dễ gợi buồn, nhất là đối với kẻ lữ thứ tha hương.

Tuy vậy, trời vẫn còn đủ sáng để nhà thơ nhận ra thiên nhiên đẹp như tranh:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Cỏ cây, hoa lá chen nhau mọc bên đá núi. Linh hồn của tạo vật như thấp thoáng sau từng chữ. Điệp từ chen trong các vế đối: cây chen đá, lá chen hoa gợi lên sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang sơ. Cảnh đẹp nhưng nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu. Những bông hoa rừng không đủ làm sáng lên khung cảnh núi non lúc ngày tàn, đêm xuống.

Giữa bối cảnh thiên nhiên bao la ấy, thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống những cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạt, xa vời:

Nhà thơ đã dùng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh đặc trưng của cảnh vật và con người ở đèo Ngang. Dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non khiến cho con người càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao rộng. Chợ vốn là nơi biểu hiện đời sống của một cộng đồng làng xã nên thường tấp nập đông vui, nhưng ở đây nó chỉ là mấy túp lều xơ xác bên sông…

Cái lạnh lẽo, trống trải bao chùm lên cảnh vật, gieo một nỗi buồn thấm thía trong lòng người:

Giữa không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối ấy, vẳng lên tiếng chim cuốc khắc khoải, tiếng chim gia gia não ruột. Đó là những âm thanh có thật mà cũng có thể là tiếng vọng từ tâm trạng chất chứa nỗi buồn thời cuộc của nhà thơ. Bà đã mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ (từ đồng âm khác nghĩa) để nói lên lòng mình trước cảnh vật.

Tiếng chim kêu không làm cảnh vật vui lên thêm chút nào mà lại làm tăng phần quạnh quẽ, cô liêu. Phải chăng tiếng chim chính là tiếng lòng của kẻ đang mang nặng tâm trạng u buồn, hoài vọng, nhớ nước, thương nhà?!

Hồn cảnh, hồn người như có nét tương đồng, cho dù về hình thức hoàn toàn tương phản. Cái bao la, vô tận của non nước tô đậm cái cô đơn, chơ vơ của con người và ngược lại. Vì vậy nên nỗi buồn càng lắng đọng:

Quả là một nỗi buồn khó san sẻ, giãi bày. Nó như kết thành hình, thành khối, thành mảnh tình riêng khiến nhà thơ phải thốt lên chua xót : ta với ta. Chỉ có ta hiểu tâm sự của ta mà thôi! vì thế nên nỗi cô đơn càng tăng lên gấp bội.

Bài thơ Qua đèo Ngang tuy ra đời cách đây gần hai thế kỉ nhưng nó vẫn giữ nguyên giá trị trước thử thách của thời gian. Bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và khâm phục tài năng của tác giả. Thể thơ Đường luật kiểu cách, sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngũ giản dị, trong sáng và những hình ảnh dân dã quen thuộc. Đọc bài thơ, chúng ta thêm yêu giang sơn gấm vóc và càng thêm trân trọng những tấm lòng ưu ái non sông đất nước.

Chia sẻ 🌼 Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Sau Khi Đọc Văn Bản Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình 🌼 12 Bài Ngắn Hay

Qua Đèo Ngang là một tác phẩm tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ gửi gắm tấm lòng yêu nước sâu nặng của nhà thơ.

Mở đầu, tác giả gợi mở về thời gian, không gian cũng như điểm nhìn của bài thơ. Hai từ “bước tới” gợi đến một sự ngạc nhiên khi nhìn thấy hay tiếp cận con đèo. Đó cũng là thời khắc “bóng xế tà” khi ngày đã sắp tàn và màn đêm đang dần buông xuống. Đứng trước đèo Ngang với rừng núi hoang vu xa lạ, những xúc cảm của lòng người đã trào dâng. Tiếng “tà” với âm bằng xuất hiện trong văn cảnh tạo nên giai điệu buồn thương man mác, trở thành “vần” của ý thơ:

Khung cảnh thiên nhiên hiện lên với sức sống mãnh liệt. Điệp từ “chen”, kết hợp với việc sử dụng vần lưng “đá – lá”, lại vừa sử dụng vần chân “tà – hoa” đã làm cho nhạc điệu thơ du dương và réo rắt. Cảnh đèo hiện lên thật hoang vu và có chút cằn cỗi.

Không chỉ thiên nhiên, con người cũng đã xuất hiện trong bức tranh đó:

Cách sử dụng từ láy “lom khom” và “lác đác” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào sự nhỏ bé, thưa thớt của con người. Ngoại cảnh đã hòa hợp với râm cảnh người nữ sĩ trong buổi chiều tà nơi đèo hút hút gió. Nữ sĩ đã sử dụng bút pháp miêu tả tượng trưng và ước lệ của thi pháp cổ (ngư, tiều, canh, mục) kết hợp với cảm hứng đầy thi cảm và sáng tạo.

Nghệ thuật đối và đảo ngữ được sử dụng ở phần thực đã tiếp tục được phát huy tác dụng một cách triệt để ở phần luận. Đó là tiếng chim cuốc, chim đa trong bóng chiều tà. Đó là “nhớ nước đau lòng” và “thương nhà mỏi miệng” đã được đặt trong thế đăng đối và hòa hợp. Ý thơ đã thể hiện người nữ sĩ lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm tình. Đây cũng là một nét đặc sắc và nổi bật trong phong cách sáng tác của bà huyện Thanh Quan. Thơ tả cảnh ngụ tình nên nhạc, nên họa đã diễn tả cảnh đèo Ngang lúc hoàng hôn với nỗi niềm thi sĩ làm ta cảm thương, vương vấn.

Hai câu thơ kết cuối bài như dồn lại biết bao nhớ thương sâu lắng và dạt dào của người nữ sĩ trong khung cảnh chiều tà. Đứng một mình nơi đèo cao lộng gió trong buổi hoàng hôn, nữ sĩ thấy mình như sống trong tâm trạng lẻ bóng, cô đơn, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang vắng bao la của “trời, non, nước”.

Hai chữ “đứng lại” diễn tả một tư thế, một tâm trạng xúc động và bồi hồi. “Ta với ta” là ba chữ đắt giá kết hợp với điệp ngữ láy âm, đặt trong mối tương phản với “trời, non, nước” đã cho thấy cái mênh mang bao la với sự lẻ loi, đơn côi và nhỏ bé của lòng người. Nó gợi lên một sự trống vắng không thể nào kể xiết.

“Qua Đèo Ngang” là bài thơ Nôm kiệt tác được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đã cho thấy phong cách sáng tác của Bà Huyện Thanh Quan.

Mời bạn tham khảo ☀️ Bình Giảng Thương Vợ ☀️ 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hòa sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một trong số đó.

Câu thơ mở đầu gợi mở về không gian, thời gian. Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm chiều tà đã bao trùm lên không gian đèo Ngang. Tiếp đến nhà thơ sử dụng điệp từ “chen” cùng cách gieo vần lưng “lá, đá” đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu:

Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ “Qua đèo Ngang”, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật.

Không chỉ là thiên nhiên, mà con người cũng xuất hiện trong bức tranh nơi đèo Ngang:

Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn.

Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ “vài, mấy” như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.

Từ ghép “đau lòng, mỏi miệng” khiến cho ta có cảm giác tha thiết, ray rứt. Từ “nhớ nước, thương nhà” là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia giá phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó?

Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự:

Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Đọc thơ Bà Huyện Thanh Quan, nỗi buồn về một buổi chiều tà được vẽ lên bởi những cảm xúc nghệ thuật hết sức tinh tế và trau chuốt, vẫn là những viên ngọc lung linh tạo nên những mĩ cảm trong tâm hồn nhiều thế hệ độc giả:

Khi vừa đặt chân đến, tác giả đã đặt mình vào một khoảng không với thời gian rõ ràng, chi tiết qua cụm từ “bóng xế tà”, khi ánh mặt trời còn những tia yếu ớt đang gắng gượng. Dường như buổi chiều nhá nhem ấy càng khiến tâm sự thêm nặng lòng, càng khiến nỗi buồn như trĩu nặng, giống ca dao có câu:

Khi bầy chim về tổ, đàn trâu về đàn, con người khao khát hơn cả hơi ấm của tình thương và sẻ chia thì tác giả lại đặt bước chân cô độc của người lữ khách ở một địa danh heo hút, vắng lặng. Câu thơ đã mở ra không gian tự nhiên heo hút vừa bao la, vừa hoang dại và thiếu vắng bàn tay con người.

Hành trình tới đèo ngang còn được gợi mở cụ thể hiện khi có hình bóng con người:

Tất cả đều nhỏ nhoi, mờ nhạt, chẳng hề nô nức, náo nhiệt mà còn cũ kĩ trong tầm mắt. Dưới chân núi, hình ảnh con người lao động nhỏ bé giữa thiên nhiên hoang sơ, bên dòng sông nhỏ gần như khô cạn, vài nhà chợ rêu phong nằm lác đác. Như vậy, bốn câu thơ đầu, bằng những nét chấm phá, tác giả đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên đèo ngang khơi gợi bao nỗi buồn, bao tâm sự miên man.

Con người xuất hiện nhưng không đủ sức khơi dậy hơi ấm cho bức tranh thiên nhiên để từ đó dẫn đến hai câu luận:

Âm thanh vang lên từ hai loài chim là chim cuốc và chim đa đa – hai loài chim nhỏ bé thường chỉ xuất hiện những nơi đồi núi, heo hút. Cách tác giả chơi chữ để trên là tiếng nước, dưới là tiếng nhà để tạo kết cấu sóng đôi hai câu thơ đối nhau rất căn chỉnh.

Tiếng kêu nhỏ nhoi vừa da diết, vừa khắc khoải vang trong không gian lặng mình càng kéo nỗi buồn thêm lê thê. Một bức tranh có không gian, thời gian, có hình ảnh, âm thanh với cái đẹp thấm với nỗi sầu, với âm thanh hòa với sự trầm lặng, với hoang vu trải dài đến mãi mãi.

Tác giả nhớ về triều đình buổi xa xưa dưới thời vua Lê. Khi nhà Lê suy tàn thì trái tim của nhân vẫn còn đó, luôn đau đáu về một triều đại đã qua. Nỗi nhớ ấy không đau đớn, dằn vặt hay giàn giụa trong nước mắt mà thấm đẫm trong suy tư, trong tất cả ai hoài về một triều đại cũ. Đến đây, khung cảnh mở rộng đến vô vàn đó là trời, non, nước.

Nếu như ở trên gợi ra không gian ba tầng được ngăn cách thành những khối riêng lẻ như khối tâm sự đang đè nặng trên đôi vai nhà thơ. Đặc biệt khép lại bài thơ là cụm từ “ta với ta”, hai tiếng ta chỉ một người, lại là chính tác giả bởi vậy mà sự cô đơn, lẻ bóng càng nhân lên gấp bội.

Như vậy, ta thấy trải dài trong bài thơ là nỗi niềm hoài cổ, sự trông ngóng về quá khứ một mối tâm tình không thể gỡ bỏ và chính nó đã hòa mình để thấm nhuần trong từng câu thơ làm toát lên cả một tâm hồn đầy trang trọng nhưng dạt dào tình cảm đã dệt nên phong cách, phong cách Bà Huyện Thanh Quan.

Đừng bỏ qua 🔥 Bình Giảng Tây Tiến 🔥 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Tham khảo bài văn cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang đơn giản với những ý văn ngắn gọn và các luận điểm rõ ràng giúp các em học sinh ôn tập hiệu quả.

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh quê ở làng Nghi Tàm nay thuộc Tây Hồ Hà Nội. Bà là một trong những nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại xưa. Hiện còn để lại sáu bài thơ đường luật trong đó có bài “Qua Đèo Ngang”. Bài thơ được tác giả viết theo thể thất cú Đường luật.

Bài thơ Qua Đèo Ngang là tác phẩm nổi tiếng nhất của Bà Huyện Thanh Quan,bài thơ được ra đời khi bà đi trên đường vào Phú Xuân đi Qua Đèo Ngang một địa danh nổi tiếng của nước ta với phong cảnh hữu tình.Với giọng thơ man mác “Qua Đèo Ngang” không chỉ là một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc mà nó còn bộc lộ tâm trạng cô đơn của tác giả.

Mở đầu bài thơ là hai câu đề:

Chỉ với những câu thơ đầu tiên mà tác giả đã thể hiện được về hoàn cảnh, không gian, thời gian khi viết bài thơ. Hình ảnh “bóng xế tà” lấy từ thành ngữ “chiều tà bóng xế” gợi cho ta một nét buồn nào đó man mác, mênh mang có chút nuối tiếc về một ngày đang sắp qua.

Trong buổi đẹp hồn nhiên thơ mộng ấy có hình ảnh “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” cho ta thấy nét sống động trong bức tranh khung cảnh này, cỏ cây cùng với đá núi, lá và hoa vươn nhau đua sức sống. Những hình ảnh nhỏ bé nhưng sức sống thật mãnh liệt. Trong ánh tà chiều bắt gặp được những hình ảnh này làm ta thật nhiều suy nghĩ.

Tiếp đến là hai câu thực:

Đây là khi tác giả nhìn toàn bộ cảnh vật từ trên cao xuống, phóng mắt nhìn về xung quanh, xa hơn là những đá núi cây cổ để tìm đến bóng dáng con người. Hình ảnh bóng dáng con người đã hiện ra nhưng chỉ cần bức tranh thêm hiu hắt, tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ kết hợp với những từ láy để diễn tả nó.

Con người ở đây chỉ có “tiều vài chú” kết hợp với từ láy “lom khom” dưới núi. Cảnh vật thì lác đác thưa thớt “chợ mấy nhà” tất cả quá nhỏ bé so với cảnh thiên nhiên hùng vĩ ở nơi đây. Dường như không khí vắng vẻ,hiu quạnh bao trùm lên toàn cảnh vật.

Hai câu luận là nỗi buồn được khắc họa rõ nét qua những âm thanh thê lương:

Tiếng kêu thiết tha ở đây hay có thể nói chính là tiếng lòng của tác giả. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” là câu thơ từ điển tích xưa về vua thục mất nước hóa thành con cuốc chỉ biết kêu “cuốc cuốc”. Tiếng cuốc kêu khắc khoải lại làm cho buổi chiều thêm tĩnh lặng còn tiếng “gia gia” là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi thương nhà ở đây tiếng lòng của nhà thơ được bộc lộ rõ nét. Nghệ thuật chơi chữ kết hợp với nhân hóa cùng chuyển đổi cảm giác ấy đã cho ta thấy được tấm lòng yêu nước thương nhà của Bà Huyện Thanh Quan.

Tiếp theo là hai câu kết:

Đứng trước cảnh vật hùng vĩ khiến tác giả dừng chân không muốn rời. Cái bao la của đất trời,núi non sông nước như muốn níu chân người thi sĩ nhưng đứng trước sự bao la hùng vĩ ấy tác giả lại cảm thấy sự cô đơn trong lòng mình lại dâng lên “một mảnh tình riêng ta với ta”.

Khung cảnh thiên nhiên càng rộng lớn thì nỗi cô đơn của người nữ khách lại thêm đong đầy. Một mảnh tình riêng, một nỗi lòng sầu kín cùng với những tâm sự bộn bề đang đau đáu trong lòng mà không biết nhắn nhủ với ai, âm hưởng nhịp điệu của câu thơ như một tiếng thở dài nuối tiếc của tác giả.

Với phong cách trang nhã bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng đèo ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương dân nỗi buồn thầm lặng của tác giả. Bài thơ cũng là lời nhắn gửi tâm sự nỗi lòng của tác giả đến người đọc, bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đượm nét buồn mà còn là những tiếc nuối, một tấm lòng yêu nước thương dân.

Gợi ý thêm cho bạn 🌳 Bình Giảng Hai Đứa Trẻ 🌳 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Bài văn mẫu nêu cảm nghĩ của bản thân qua bài thơ Qua đèo Ngang chi tiết sau đây sẽ là một trong những tư liệu hay hỗ trợ các em học sinh trong quá trình làm bài.

Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa. Dưới thời vua Minh Mạng, bà từng được mời vào cung để dạy học cho các công chúa và cung phi. Trong một dịp từ Thăng Long vào kinh đô Phú Xuân nhậm chức, Bà Huyện Thanh Quan đã đi qua Đèo Ngang. Trước cảnh hoang sơ, heo hút của con đèo ấy, bà đã tức cảnh mà viết lên bài thơ “Qua đèo ngang” để thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà cùng nỗi buồn sầu, cô đơn của mình.

Với cách mở đầu tự nhiên, hai câu thơ đề đã khái quát lại những ấn tượng của nhà thơ về thời gian và không gian của Đèo Ngang. Tuy nhiên, với nhà thơ, việc lựa chọn miêu tả những khoảnh khắc, những cảnh vật thiên nhiên ấy không phải là đơn thuần, ngẫu nhiên mà nó còn là các yếu tố nghệ thuật để thể hiện tâm trạng.

Đặt chân tới đèo ngang vào buổi hoàng hôn “bóng xế tà”. Đây là thời điểm đặc biệt nhất trong một ngày, khi ranh giới giữa ánh sáng và màn đêm chỉ còn là khoảng mờ. Hình ảnh “bóng xế tà” vừa gợi thời gian vừa gợi một nét buồn mênh mênh, tiếc nuối về một ngày sắp tàn. Ở khoảnh khắc ấy, con người rất dễ nảy sinh những cảm xúc cô đơn, buồn sầu, đặc biệt với những người kẻ tha hương đến với vùng đất xa lạ như Bà Huyện Thanh Quan thì những tâm trạng ấy càng trở nên thấm thía.

Trong cảnh chiều tà, bức tranh phong cảnh Đèo Ngang được nhà thơ phác họa bằng những nét vẽ thật đẹp, hùng vĩ, hoang sơ. Với biện pháp liệt kê, nhà thơ đã gợi ra một loạt các hình ảnh quen thuộc của núi rừng đó là cỏ cây, hoa lá, đá núi. Điệp từ “chen” gợi lên một khung cảnh thiên nhiên xanh tươi, rậm rạp giàu sức sống, cỏ cây hoa lá chen chúc nhau dày đặc không hàng lối, không trật tự.

Cảnh tuy hoang sơ ngút ngàn nhưng lại trống vắng, hiu quạnh. Có cỏ cây, có hoa lá nhưng chúng chỉ mải miết đi đua nhau vươn lên tìm sự sống mà quên sứ mệnh tỏa sắc, khoe hương của mình. Ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên ấy càng dễ khiến cho lòng người nảy sinh tâm trạng, không gian càng rộng lớn hoang sơ con người càng trống trải, cô đơn, không gian càng trống vắng lòng người càng quạnh hiu.

Hai câu thơ thực, vẫn là bức tranh thiên nhiên núi rừng Đèo Ngang, nhưng lúc này đã có sự xuất hiện của hình bóng con người:

Với nghệ thuật đảo cấu trúc câu, tác giả đã nhấn mạnh ấn tượng về hình ảnh cuộc sống của con người dưới chân đèo. “Lom khom”, “lác đác” là những từ láy giàu sức gợi hình gợi cảm được đặt lên đầu câu gợi dáng vẻ vất vả mệt mỏi của người tiều phu sau một ngày dài làm việc cùng sự thưa thớt, ít ỏi của những ngôi nhà, khu chợ.

Ngỡ rằng với sự xuất hiện của con người, không gian Đèo Ngang trở nên ấp áp gần gũi hơn, thế nhưng dáng vẻ lom khom của những chú tiều phu cùng sự thưa thớt vắng vẻ của những ngôi nhà, ngôi chợ lác đác như mờ đi trong không gian hùng vĩ càng khiến cảnh vật trở nên vắng vẻ, lạnh lẽo. Hai câu thực đối rất chỉnh cả về âm thanh, từ loại và cấu trúc câu qua đó đã tạo nhịp điệu cân đối cho câu thơ. Không gian càng thưa thớt, vắng vẻ, heo hút càng khiến lòng người càng trở nên quạnh hiu, cô đơn, buồn sầu.

Đến hai câu luận, nhà thơ đã bộc lộ tâm trạng của mình qua những âm thanh thê lương của tiếng chim:

Bức tranh Đèo Ngang không chỉ có thiên nhiên cỏ cây hoa lá, có hình bóng con người mà còn có cả âm thanh của tiếng chim. Giữa cảnh rừng núi mênh mang, tiếng chim cuốc cuốc, đa đa vang lên khắc khoải, da diết càng làm cho cảnh vật trở nên buồn hơn. Thi sĩ lắng nghe âm thanh nhưng đó không phải tiếng kêu của chim nữa mà là tiếng lòng của con người.

Với cách chơi chữ đầy tinh tế, cùng việc sử dụng hai điển tích nổi tiếng của Trung Hoa về chim quốc và chim đa đa để nói về nỗi nhớ nước, sự xót xa, tiếc nuối về một thời kì vàng son của triều đại cũ nay không còn, nỗi thương nhớ nhà bởi bà đang phải rời xa tổ ấm yên vui để đến mảnh đất Kinh thành xa lạ. Hai câu thơ cũng sử dụng cấu trúc đảo trật tự cú pháp câu, qua đó nhấn mạnh sâu sắc tâm trạng buồn sầu, nhớ thương của tác giả qua tiếng chim kêu.

Hai câu thơ kết vừa đóng lại bức tranh cảnh đèo ngang vừa khép lại tâm trạng của con người:

Một lần nữa phong cảnh hùng vĩ, rợn ngợp của Đèo Ngang lại nổi lên trong bức tranh, Trời mây, non nước như hòa lại làm một trong vẻ hoang sơ, mênh mông. Vẻ đẹp của rừng núi khiến nhà thơ không nỡ chối từ, phải dừng chân nghỉ lại để thưởng thức phong cảnh. Thế nhưng, trước cảnh đẹp ấy lại càng khiến lòng người trào dâng nỗi buồn, cô đơn, thổn thức mãnh liệt.

Hai chữ ta xuất hiện trong câu thơ để nhấn mạnh tâm trạng buồn, cô đơn tuyệt đối của nhà thơ. Giữa không gian rộng lớn ngút ngàn chỉ có một mình bà ở đó đối diện với nỗi cô đơn, trống trải của mảnh tình riêng. Hai câu thơ như một tiếng thở dài đầy chua xót cho nỗi lòng thầm kín, ngập tràn nhưng chẳng biết san sẻ cùng ai.

Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, biện pháp tả cảnh ngụ tình, các thủ pháp điệp, đối, đảo trật tự cú pháp câu, bài thơ đã thể hiện sâu sắc nỗi buồn sầu, cô đơn thầm lặng của một người phụ nữ hoài cổ, nhớ nước thương nhà trước không gian Đèo Ngang hùng vĩ, hoang sơ. Qua bài thơ ta thêm hiểu biết và yêu thắng cảnh quê hương cùng với đó là niềm trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn của Bà Huyện Thanh Quan.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Văn mẫu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang lớp 7 sẽ là những gợi ý làm bài hay để các em học sinh nắm được kiến thức cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Xã hội phong kiến luôn có sự chèn ép, ràng buộc tự do của những người phụ nữ bất hạnh, chỉ sống phụ thuộc, không làm chủ cho bản thân mình. Xã hội hiện đại bây giờ, phụ nữ luôn được tôn trọng, bình đẳng, không phân biệt đối xử như ngày xưa nữa.

Tình cảm yêu mến, muốn được bảo vệ hạnh phúc tự do cho mình, cũng không hề kém cạnh các đại nam nhi. Đối với bà Huyện Thanh Quan tuy không đi ra chiến trường chiến đấu, nhưng bà đã gửi gắm tinh thần, sự cổ động mạnh mẽ vào thơ, để tiếp thêm một phần sức mạnh, công lao của mình cho đất nước.

“Qua đèo ngang” gợi lên sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của bà Huyện Thanh Quan làm tiêu biểu cho phong cách thơ. Bài thơ “Qua đèo ngang” được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh vào Phú Xuân (Huế) nhận chức và đi ngang qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, quê hương, thương cho thân người con gái yếu đuối đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú. Với 8 câu thơ mà đã thấy được những thần thái, cái hồn trong cảnh vật và con người trước cảnh núi rừng hiu quạnh.

Hai câu đề hiện rõ khung cảnh rừng núi hoang sơ lúc “bóng xế tà”. Một cảnh chiều nặng nề làm cho lòng người trở nên u buồn, gợn sầu hơn. Tất cả như gợi lên nỗi nhớ muốn tỏ rõ nỗi lòng mà không ai bầu bạn, sẻ chia. Chỉ có “cây cỏ chen lá, đá chen hoa” hiu quạnh. Điệp từ “chen” khẳng định sức sống mạnh mẽ của cỏ, cây, bấu víu để sinh sôi nảy nở.

Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bóng dáng của con người. “người tiều phu” đi lượm củi vẫn tạo cảm giác vô định, “lom khom” từ ngữ nhấn mạnh thể hiện sự vất vả của người tiều phu, phải đi kiếm từng khúc củi, ước tính số lượng cụ thể, sự sống hiếm hoi, xa vời, tìm một người bạn trở nên khó khăn hơn. Tiếp đến hai câu thơ luận phần nào cảm xúc của tác giả như được thể hiện rõ nét hơn:

Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà?

Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh – hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng.

Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày “ta với ta” nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người.

Mời bạn tham khảo 🌠 Bình Giảng Từ Ấy 🌠 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về Khám Phá “Cổng Trời” Trên Đỉnh Đèo Ngang trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!