Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài Hộp Thư Mật Trang 62 Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 – Tuần 24 # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Hộp Thư Mật Trang 62 Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 – Tuần 24 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tập đọc Hộp thư mật Bài đọc

Hộp thư mật

Hai Long phóng xe về phía Phú Lâm tìm hộp thư mật.

Người đặt hộp thư lần nào cũng tạo cho anh sự bất ngờ. Bao giờ hộp thư cũng được đặt tại một nơi dễ tìm mà lại ít bị chú ý nhất. Nhiều lúc, người liên lạc còn gửi gắm vào đây một chút tình cảm của mình, thường bằng những vật gợi ra hình chữ V mà chỉ anh mới nhận thấy. Đó là tên Tổ quốc Việt Nam, là lời chào chiến thắng. Đôi lúc Hai Long đã đáp lại.

Anh dừng xe trước một cột cây số ven đường, giữa cánh đồng vắng. Tháo chiếc bu-gi ra xem, nhưng đôi mắt anh không nhìn chiếc bu-gi mà chăm chú quan sát mặt đất phía sau một cây số. Nó kia rồi! Một hòn đá hình mũi tên (lại hình chữ V quen thuộc) trỏ vào một hòn đá dẹt chỉ cách anh ba bước chân.

Khám Phá Thêm:

 

Mẫu PowerPoint Tìm hiểu về Tết Trung thu Trò chơi Trung thu dạy học online

Hai Long tới ngồi cạnh hòn đá, nhìn trước nhìn sau, một tay vẫn cầm chiếc bu-gi, một tay bẩy nhẹ hòn đá. Hộp thư lần này cũng là một chiếc vỏ đựng thuốc đánh răng. Anh nhẹ nhàng cạy đáy hộp thuốc, rút ra một mảnh giấy nhỏ, thay vào đó thư báo cáo của mình, rồi thả hộp thuốc về chỗ cũ.

Công việc thế là xong. Một giờ nữa sẽ có người đến lấy thư. Anh trở lại bên xe, lắp bu-gi vào rồi đạp cần khởi động máy. Tiếng động cơ nổ giòn. Chưa đầy nửa giờ sau, anh đã hòa lẫn vào dòng người giữa phố phường náo nhiệt.

HỮU MAI

Từ khó

Hai Long: tên thường gọi của Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ (1928 – 2002), một chiến sĩ tình báo nổi tiếng hoạt động trong lòng địch trước ngày miền Nam giải phóng.

Chữ V: chữ cái đầu của tên nước ta, đồng thời là chữ cái mở đầu một từ tiếng Anh có nghĩa là “chiến thắng”

Bu-gi: bộ phận phát lửa của động cơ xe

Cần khởi động: cần đạp ở xe để nổ máy

Động cơ: bộ phận dùng để biến xăng, dầu… thành năng lượng chạy máy

Hướng dẫn đọc

Đọc diễn cảm bài văn với giọng đọc linh hoạt, phù hợp với diễn biến câu chuyện: khi hồi hộp, khi vui sướng, nhẹ nhàng; toàn bài toát lên vẻ bình tĩnh, sự tự tin của nhân vật.

Bố cục

Có thể chia bài đọc thành 4 đoạn:

Đoạn 1: Từ đầu đến đáp lại

Đoạn 2: Từ Anh dừng xe đến ba bước chân

Đoạn 3: Từ Hai Long tới ngồi đến chỗ cũ

Đoạn 4: Phần còn lại

Hướng dẫn giải phần Tập đọc SGK Tiếng Việt 5 tập 2 trang 62 Câu 1

Người liên lạc ngụy trang hộp thư mật khéo léo như thế nào?

Trả lời:

Người liên lạc ngụy trang hộp thư mật vô cùng khéo léo

Hộp thư luôn được đặt ở một nơi dễ tìm mà lại ít bị chú ý nhất

Dấu hiệu nhận biết hộp thư mật chính là những vật có hình chữ V

Hộp thư mật được đặt ở cột cây số ven đường, giữa cánh đồng vắng, hòn đá hình mũi tên trỏ vào nơi giấu hộp thư mật, báo cáo được đặt trong một chiếc vỏ đựng thuốc đánh răng.

Câu 2

Qua những vật có hình chữ V, người liên lạc muốn nhắn gửi chú Hai Long điều gì?

Trả lời:

Qua những vật có hình chữ V, người liên lạc muốn nhắn gửi chú Hai Long:

Gửi gắm tình yêu Tổ quốc của mình

Lời chào chiến thắng

Câu 3

Nêu cách lấy thư và gửi báo cáo của chú Hai Long. Vì sao chú làm như vậy?

Trả lời:

Cách lấy thư và nhận báo cáo của Hai Long vô cùng cẩn thận, tỉ mỉ, bình tĩnh, mưu trí, cảnh giác, nhanh và chính xác. Chú dừng xe trước cột cây số ven đường, giữa cánh đồng vắng, tháo chiếc bu-gi ra xem, vờ như là xe bị hỏng cần phải ngồi xuống sửa chữa. Nhưng thực chất là để có thời gian quan sát xung quanh xem hộp thư mật có thể được để ở đâu. Nhờ khả năng quan sát, chú phát hiện ra hòn đá hình mũi tên (hình chữ V) trỏ vào một hòn đá dẹt cách đó không xa. Bẩy nhẹ hòn đá lên, chú phát hiện một vỏ đựng thuốc đánh răng, nhẹ nhàng và nhanh chóng cạy đáy hộp, lấy ra mảnh giấy rồi thay vào báo cáo của mình rồi trả về chỗ cũ. Chú quay lại xe, lắp lại bu-gi rồi nổ máy rời khỏi địa điểm.

Advertisement

Chú Hai Long phải lấy thư và gửi báo cáo như vậy để đánh lạc hướng chú ý của người khác và không ai có thể nghi ngờ mình

Câu 4

Hoạt động trong vùng địch của các chiến sĩ tình báo có ý nghĩa như thế nào đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc?

Trả lời:

Đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, hoạt động trong vùng địch của các chiến sĩ tình báo có ý nghĩa vô cùng to lớn, bởi vì nhờ có những thông tin mật mà các chiến sĩ tình báo cung cấp ta mới có thể chủ động chống trả và giành được thắng lợi mà không thiệt hại quá nhiều về sức người và sức của

Ý nghĩa bài Hộp thư mật

Ca ngợi Hai Long và những chiến sĩ tình báo hoạt động trong lòng địch vô cùng kiên định, dũng cảm, mưu trí giữ vững đường dây liên lạc, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc.

Soạn Bài Cái Trống Trường Em (Trang 48) Tiếng Việt Lớp 2 Kết Nối Tri Thức Tập 1 – Tuần 6

Tiếng trống trường báo hiệu cho em biết điều gì?

Gợi ý trả lời:

Tiếng trống trường báo hiệu cho em biết giờ vào học, giờ ra chơi, giờ ra về.

1. Bạn học sinh kể gì về trống trường trong những ngày hè?

2. Tiếng trống trường trong khổ thơ cuối báo hiệu điều gì?

3. Khổ thơ nào cho thấy bạn nhỏ trò chuyện với trống trường như người bạn?

4. Em thấy tình cảm của bạn học sinh với trống trường như thế nào?

Gợi ý trả lời:

1. Bạn học sinh kể về trống trường nghỉ ngơi 3 tháng hè các bạn học sinh đi vắng chỉ còn trống với tiếng ve.

2. Tiếng trống trường trong khổ thơ cuối báo hiệu một năm học mới bắt đầu.

3. Khổ thơ thứ 2 cho thấy bạn nhỏ trò chuyện với trống trường như người bạn.

4. Em thấy tình cảm của bạn học sinh với trống trường thân thiết như người bạn.

ngẫm nghĩ     mừng vui        buồn           đi vắng

2. Nói và đáp

a) Lời tạm biệt của bạn học sinh với trống trường.

b) Lời tạm biệt bạn bè khi bắt đầu nghỉ hè.

Gợi ý trả lời:

1. Những từ nói về trống trường như nói về con người: ngẫm nghĩ, mừng vui, buồn

2.

b) Lời tạm biệt bạn bè khi bắt đầu nghỉ hè: Hẹn gặp lại cậu sau kì nghỉ hè. Chúc cậu có một mùa hè vui vẻ!

Viết chữ hoa: Đ

Trả lời:

Cách viết: Viết chữ Đ hoa theo cách giống như chữ viết hoa D có thêm nét lượn ngang ở đường kẻ ngang 3.

Viết ứng dụng: Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

Trả lời:

Viết chữ hoa Đ đầu câu.

Cách nối chữ viết hoa với chữ viết thường: Nét 1 của chữ i cách nét cong chữ cái hoa Đ là 1,2 li.

Độ cao của các chữ cái: chữ cái hoa Đ, chữ g, h, k cao 2,5 li (chữ g 1,5 li dưới đường kẻ ngang), chữ cái đ cao 2 li; chữ cái s cao 1,25 li; các chữ còn lại cao 1 li.

Cách đặt dấu thanh ở các chữ cái: dấu hỏi đặt trên chữ cái ô, o, dấu huyền đặt trên chữ cái a.

Khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng bằng khoảng cách viết một chữ cái o.

Vị trí đặt dấu chấm cuối câu: ngay sau chữ cái n của tiếng “khôn”.

Nói những điều em thích về ngôi trường của em.

G:

– Trường em tên là gì? Ở đâu?

– Điều gì khiến em cảm thấy yêu thích, muốn đến trường hằng ngày?

Gợi ý trả lời:

Mẫu 1: Trường em có vườn hoa rộng rãi trồng rất nhiều loài hoa rực rỡ sắc màu. Sân trường trồng rất nhiều loài cây tỏa bóng mát cho chúng em ngồi ghế đá đọc sách, trò chuyện với nhau. Giờ ra chơi các bạn ùa ra sân chơi rất nhiều trò chơi khác nhau. Em rất thích đến trường vì ở trường rất vui.

Mẫu 2: Trường của em là trường tiểu học Ngọc Hồi. Trên sân trường có những cây bàng rất cao lớn. Mùa hè, dưới gốc cây là những khoảng sân mát rười rượi. Em thích nhất là được cùng các bạn chơi nhảy dây, ô ăn quan và đọc truyện dưới bóng mát cây bàng.

Em muốn trường mình có những thay đổi gì?

Gợi ý trả lời:

Advertisement

Mẫu 1: Em muốn trường mình có thư viện rộng rãi hơn để chúng em có thể ngồi học nhóm thoải mái cùng nhau.

Mẫu 2: Em muốn trường em trồng thêm nhiều cây xanh trên sân, để chúng em có thêm nhiều bóng mát vào mùa hè.

Nói với người thân những điều em muốn trường mình thay đổi.

Trả lời:

Mẫu 1: Em muốn trường mình có thư viện rộng rãi hơn để chúng em có thể ngồi học nhóm thoải mái cùng nhau. Em muốn lớp học nhiều ánh sáng hơn, sân trường có nhiều cây hơn nữa và bữa ăn trưa có nhiều rau hơn.

Mẫu 2: Bố ơi, con ước gì phía sau trường có một vườn hoa hướng dương, để cuối giờ học con được ra đó ngắm hoa và tưới nước cho hoa như các bạn nhỏ ở trường khác.

Tập Làm Văn Lớp 5: Cấu Tạo Của Bài Văn Tả Cảnh Giải Bài Tập Trang 11 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 1 – Tuần 1

Hoàng hôn trên sông Hương

Cuối buổi chiều, Huế thường trở về trong một vẻ yên tĩnh lạ lùng, đến nỗi tôi cảm thấy có một cái gì đó đang lắng xuống thêm một chút nữa trong thành phố vốn hằng ngày đang rất yên tĩnh này.

Mùa thu, gió thổi mây bay về phía cửa sông, mặt nước phía dưới cầu Tràng Tiền đen sẫm lại, trong khi phía trên này lên mãi gần Kim Long, mặt sông sáng màu ngọc lam in những vệt mây hồng rực rỡ của trời chiều. Hình như con sông Hương rất nhạy cảm với ánh sáng nên đến lúc tối hẳn, đứng trên cầu chăm chú nhìn xuống, người ta vẫn còn thấy những mảng sắc mơ hồng ửng lên như một thứ ảo giác trên mặt nước tối thẳm. Phố ít người, con đường ven sông như dài thêm ra dưới vòm lá xanh của hai hàng cây.

Phía bên sông, xóm Cồn Hến nấu cơm chiều, thả khói nghi ngút cả một vùng tre trúc. Đâu đó, từ sau khúc quanh vắng lặng của dòng sông, tiếng lanh canh của thuyền chài gỡ những mẻ cá cuối cùng truyền đi trên mặt nước, khiến mặt sông nghe như rộng hơn. Và khi dãy đèn bên đường bắt đầu thắp lên những quả tròn màu tím nhạt, chuyển dần sang màu xanh lá cây và cuối cùng nở bung ra trong màu trắng soi rõ mặt người qua lại thì khoảnh khắc yên tĩnh của buổi chiều cũng chấm dứt.

Huế thức dậy trong một nhịp chuyển động mới, đi vào cuộc sống ban đầu của nó.

Theo HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Trả lời:

Bài văn Hoàng hôn trên sông Hương có ba phần:

– Mở bài (Từ đầu… đến trong thành phố vốn hằng ngày đã rất yên tĩnh này): Huế đặc biệt yên tĩnh lúc hoàng hôn xuống.

– Thân bài (Từ Mùa thu… đến khoảnh khắc yên tĩnh của buổi chiều cũng chấm dứt): Sự thay đổi màu sắc của sông Hương và hoạt động của con người bên sông từ lúc hoàng hôn đến lúc thành phố lên đèn. Phần này có hai đoạn:

Đoạn đầu từ “Mùa thu… đến hai hàng cây”: Sự thay đổi sắc màu của sông Hương từ hoàng hôn đến tối hẳn.

Đoạn 2 (còn lại): Hoạt động của con người bên sông từ lúc hoàng hôn đến lúc thành phố lên đèn.

– Kết bài (câu cuối): Sự thức dậy của Huế sau hoàng hôn

Thứ tự miêu tả trong bài văn trên có gì khác với bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa mà em đã học? Từ hai bài văn đó, hãy rút ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh. 

Trả lời:

Sự khác biệt về thứ tự miêu tả của hai bài văn:

* Quang cảnh làng mạc ngày mùa:

Giới thiệu màu sắc bao trùm làng mạc ngày mùa là màu vàng.

Tả các màu vàng rất khác nhau của cảnh vật.

Tả thời tiết, con người.

→ Tóm lại: Bài văn này tả từng bộ phận của cảnh.

* Hoàng hôn trên sông Hương:

Nêu nhận xét chung về sự yên tĩnh của Huế lúc hoàng hôn.

Tả sự thay đổi sắc màu của sông Hương từ lúc bắt đầu hoàng hôn đến lúc tối hẳn.

Tả hoạt động của con người trên bờ sông, trên mặt sông lúc bắt đầu hoàng hôn đến lúc thành phố lên đèn.

Nhận xét về sự thức dậy của Huế sau hoàng hôn.

→ Tóm lại: Bài này tả sự thay đổi của cảnh theo thời gian.

Từ hai bài văn đã phân tích, học sinh tự rút ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh.

Nhận xét cấu tạo của bài văn sau:

Nắng trưa

Nắng cứ như từng dòng lửa xối xuống mặt đất.

Buổi trưa ngồi trong nhà nhìn ra sân, thấy rất rõ những sợi không khí nhỏ bé, mỏng manh, nhẹ tênh, vòng vèo lượn từ mặt đất bốc lên, bốc lên mãi:

Tiếng gì xa vắng thế? Tiếng võng kẽo kẹt kêu buồn buồn từ nhà ai vọng lại. Thỉnh thoảng, câu ru em cất lên từng đoạn “ạ ời …” Hình như chị ru em. Em ngủ và chị cũng thiu thiu ngủ theo. Em chợt thức làm chị bừng tỉnh và tiếp tục câu ạ ời. Cho nên câu hát cứ cất lên từng đoạn rồi ngưng lại, rồi cất lên, rồi lại lịm đi trong cái nặng nề của hai mi mắt khép lại.

Con gà nào cất lên một tiếng gáy. Và ở góc vườn, tiếng cục tác làm nắng trưa thêm oi ả. Không một tiếng chim, không một sợi gió. Cây chuối cũng ngủ, tàu lá lặng đi như thiếp vào nắng. Đường làng vắng ngắt. Bóng tre, bóng duối cũng lặng im.

Ấy thế mà mẹ phải vơ vội cái nón cũ, đội lên đầu, bước vào trong nắng, ra đồng cấy nốt thửa ruộng chưa xong.

Advertisement

Thương mẹ biết bao nhiêu, mẹ ơi!

Theo Băng Sơn

Trả lời:

Bài văn Nắng trưa được cấu tạo ba phần:

a. Mở bài (câu văn đầu): Nhận xét chung về nắng trưa.

b. Thân bài: Cảnh vật trong nắng trưa.

Thân bài gồm 4 đoạn sau:

Đoạn 1 (từ Buổi trưa ngồi trong nhà đến bốc lên mãi): Không khí bốc lên trong nắng dữ dội.

Đoạn 2 (từ Tiếng gì xa vắng đến hai mí mắt khép lại): Tiếng võng đưa và câu hát ru em trong nắng trưa.

Đoạn 3 (từ Con gà nào đến bóng duối cũng lặng im): Cây cối và con vật trong nắng trưa.

Đoạn 4 (từ Ấy thế mà đến cấy nốt thửa ruộng chưa xong): Hình ảnh người mẹ trong nắng trưa.

c. Kết bài (câu cuối – kết bài mở rộng): Cảm nghĩ về mẹ (“Thương mẹ biết bao nhiêu, mẹ ơi!”).

Soạn Bài Số Phận Con Người Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 27 (Trang 118)

Soạn văn Số phận con người chi tiết I. Tác giả

– Mi-khai-in A-lếch-xan-đrô-vích Sô-lô-khốp (1905 – 1984) là một nhà văn Nga lỗi lạc, đã vinh dự nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1965.

– Ông sinh ra tại thị trấn Vi-ô-sen-xcai-a thuộc tỉnh Rô-xtốp trên vùng thảo nguyên sông Đông.

– Sô-lô-khốp tham gia cách mạng từ khá sớm (với các công việc như thư ký ủy ban trấn, nhân viên thu mua lương thực, tiễu phỉ…)

– Năm 1922, ông đến Mát-cơ-va rồi làm nhiều nghề để kiếm sống như đập đá, khuân vác, kế toán.

– Năm 1925, ông trở về quê, bắt đầu viết tác phẩm tâm huyết nhất của đời mình: Sông Đông êm đềm.

– Năm 1926, ông đã cho in hai tập truyện ngắn là Truyện sông Đông và Thảo nguyên xanh.

– Năm 1932, Sô-lô-khốp trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô.

– Năm 1939, ông được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô.

– Trong những năm tháng chiến tranh vệ quốc vĩ đại, Sô-lô-khốp đã theo sát Hồng quân trên nhiều chiến trường với tư cách là phóng viên của báo Sự thật.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Truyện ngắn Số phận con người sáng tác 1957, là cột mốc quan trọng mở ra chân trời mới cho văn học Nga.

– Tác phẩm đã thể hiện cách nhìn cuộc sống và chiến tranh một cách toàn diện, chân thực, cũng như sự đổi mới cách miêu tả nhân vật, khám phá tính cách Nga, khí phách anh hùng và nhân hậu của người lính Xô viết.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “đấy chú bé đang nghịch cát đấy”: Lời giới thiệu của nhân vật Xô-cô-lốp.

Phần 2. Tiếp theo đến “cứ chợt lóe lên như thế”: Cuộc gặp gỡ giữa Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a.

Phần 3. Còn lại: Số phận của Xô-cô-lốp và niềm tin vào sức mạnh của con người Nga.

3. Tóm tắt

Trước chiến tranh, Xô-cô-lốp có một gia đình hạnh phúc với người vợ và ba đứa con. Chiến tranh nổ ra, anh phải tham gia lực lượng chống phát xít nhưng bị bắt giam và tra tấn dã man. Chiến đấu khoảng một năm, anh bị thương tới hai lần. Năm 1944, anh trốn thoát, về với Hồng quân, biết được tin vợ và hai con gái đã chết do bị Bom Đức sát hại từ năm 1942. Người con trai duy nhất là thoát chết sau đó anh gia nhập quân ngũ tiến đánh Béc-lin. Nhưng đúng vào ngày chiến thắng 9 tháng 5 năm 1945, A-na-tô-li đã hi sinh. Sau chiến tranh Xô-cô-lốp quay về thời bình nhưng không muốn trở lại quê nhà. Anh đến chỗ của đồng đội cũ, xin làm lái xe cho đội vận tải và tình cờ gặp được Va-ni-a một cậu bé mồ côi đã mất cha mẹ trong chiến tranh. Anh đã nhận Vania làm con nuôi. Hai người nương tựa nhau mà sống. Trong một lần vô tình gây ra tai nạn, anh bị tước bằng lái xe, anh phải chuyển nghề nhưng thợ mộc để kiếm sống. Theo lời mời của một người bạn khác ở Ka-sa-rư, anh dẫn bé Va-ni-a đến đó với hy vọng chừng nửa năm sau anh được cấp lại bằng lái mới. Dù còn nhiều khó khăn trước mắt, nhưng hai cha con vẫn lạc quan tin tưởng vào tương lai phía trước.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Hoàn cảnh của Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a trước khi gặp nhau

a. Nhân vật Xô-cô-lốp:

– Gia đình: vợ và các con đều chết, ngôi nhà chỉ còn là một hố bom, niềm hy vọng duy nhất là A-na-tô-li cũng đã hy sinh nơi chiến trường.

– Cuộc sống: không nhà cửa người thân, lang thang khắp nơi và phải đi tìm người bạn cũ, xin làm lái xe và hàng đêm chìm vào men rượu để chống đỡ nỗi đau.

– Tâm trạng: đau đớn, cô độc, luôn cảm thấy trong người có cái gì đó “vỡ tung ra”.

b. Nhân vật cậu bé Va-ni-a:

– Gia đình: bố chết ở mặt trận, mẹ chết trên tàu hỏa, cũng không có quê hương, không họ hàng thân thích.

– Ngoại hình: lem luốc, bụi bặm, “rách bươm xơ mướp”, “Đầu tóc rối bù”, “bẩn như ma lem” nhưng “cặp mắt như những ngôi sao sáng”.

2. Cuộc gặp gỡ giữa Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a

– Cậu bé Va-ni-a:

Sung sướng: “nhảy chồm lên ôm cổ, hôn vào má, vào môi…”

Vui vẻ, quấn quýt bố không rời.

– Nhân vật Xô-cô-lốp:

Xúc động cực độ, không nghĩ rằng cậu bé vui sướng đến vậy.

Lấy lại thăng bằng trong cuộc sống, tìm được ý nghĩa và mục đích sống.

3. Số phận của Xô-cô-lốp và niềm tin vào sức mạnh của con người Nga

a. Số phận của Xô-cô-lốp

– Gặp khó khăn trong công việc: vô tình đâm phải con bò và bị tước bằng lái.

– Nỗi đau thể xác: “trái tim tôi đã rệu rã lắm rồi, có khi tự nhiên nó nhói lên, thắt lại và giữa ban ngày…”

– Nỗi đau tinh thần: Nỗi đau tìm về trong giấc mộng hằng đêm.

b. Niềm tin vào sức mạnh của con người Nga:

– Nỗi băn khoăn về tương lai: “Hai con người côi cút..phía trước?”

– Tin tưởng vào sức mạnh con người Nga: “Thiết nghĩ…. có thể đương đầu với thử thách”.

Tổng kết: 

– Nội dung: Tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp đã cho thấy bản lĩnh kiên cường và nhân hậu của con người Xô viết.

– Nghệ thuật: nhân vật miêu tả sinh động, cách kể chuyện mộc mạc chân thành…

Soạn văn Số phận con người ngắn gọn I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Hoàn cảnh và tâm trạng của An-đrây Xô-cô-lốp sau khi chiến tranh kết thúc và trước khi gặp bé Va-ni-a được miêu tả như thế nào?

* Nhân vật Xô-cô-lốp:

– Gia đình: vợ và các con đều chết, ngôi nhà chỉ còn là một hố bom, niềm hy vọng duy nhất là A-na-tô-li cũng đã hy sinh nơi chiến trường.

– Cuộc sống: không nhà cửa người thân, lang thang khắp nơi và phải đi tìm người bạn cũ, xin làm lái xe và hàng đêm chìm vào men rượu để chống đỡ nỗi đau.

– Tâm trạng: đau đớn, cô độc, luôn cảm thấy trong người có cái gì đó “vỡ tung ra”.

Câu 2. Việc An-đrây nhận cậu bé Va-ni-a làm con nuôi có tác động lớn lao đến hai cha con như thế nào? Tâm hồn ngây thơ của bé Va-ni-a, và lòng nhân hậu của An-đrây Xô-cô-lốp được hiểu như thế nào? Điểm nhìn của người kể chuyện có giống điểm nhìn của nhân vật không?

– Tác dụng của việc An-đrây nhận cậu bé Va-ni-a làm con nuôi: An-đrây Xô-cô-lốp tìm lại được ý nghĩa và mục đích sống, Va-ni-a tìm được nơi nương tựa và được yêu thương. Cả hai đều được xoa dịu trước những mất mát mà chiến tranh đã gây ra.

– Tâm hồn ngây thơ của bé Va-ni-a, và lòng nhân hậu của An-đrây Xô-cô-lốp:

– Cậu bé Va-ni-a:

Vô cùng sung sướng và xúc động

Niềm hạnh phúc của trẻ thơ khi tìm lại được bố: như con chim chích, ríu rít líu lo, ôm hôn và không chịu tách rời An-đrây Xô-cô-lốp.

Nhớ về người bố ngày xưa

Đặt cho bố nhiều câu hỏi, khi ngủ vẫn gác chân lên cổ bố.

– Nhân vật Xô-cô-lốp:

Đồng cảm với cảnh ngộ của Va-ni-a nên quyết định nhận nuôi cậu bé.

Chăm sóc Va-ni-a chu đáo như con đẻ.

Chịu đựng những nỗi khổ một cách âm thầm vì sợ Va – ni – a đau khổ.

– Điểm nhìn của người kể chuyện: trùng khớp với điểm nhìn của nhân vật.

Câu 3. An-đrây Xô-cô-lốp đã vượt lên nỗi đau và sự cô đơn như thế nào (khó khăn trong đời thường, chiêm bao ám ảnh và nỗi đau khôn nguôi)?

An-đrây Xô-cô-lốp đã vượt lên nỗi đau và sự cô đơn:

– Khắc phục khó khăn của cuộc sống thường ngày để chăm lo cho Va-ni-a, tập làm quen với việc chăm sóc trẻ nhỏ.

– Từ bỏ rượu, nỗ lực làm việc để nuôi con.

– Mất việc vì đâm phải con bò, anh kiên cường đưa con cuốc bộ đến Ka-sa-rư tìm công việc mới.

– Chống chọi với nỗi đau mất vợ con vẫn âm ỉ tìm về trong giấc mộng hàng đêm.

Advertisement

Câu 4. Nhận xét về thái độ của người kể chuyện. Ý nghĩa lời trữ tình ngoại đề ở cuối tác phẩm.

– Thái độ của người kể chuyện: xúc động, cảm phục sự kiên cường của hai cha con.

– Ý nghĩa lời trữ tình ngoại đề:

Bộc lộ sự khâm phục, quý mến với bản lĩnh kiên cường, lòng nhân hậu của con người Xô viết.

Tin tưởng vào những thế hệ tương lai trở nên tốt đẹp hơn.

Tin vào sức mạnh tiềm ẩn và những cống hiến thầm lặng mà to lớn của thế hệ những An-đrây Xô-cô-lốp nói riêng và con người Nga nói chung trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Câu 5. Theo anh (chị) trong đoạn trích này, tác giả đã nghĩ gì về số phận con người?

Con người có thể gặp phải những khó khăn, bất hạnh. Nhưng chỉ cần có niềm tin, nghị lực thì họ sẽ đủ bản lĩnh để vượt qua tất cả.

II. Luyện tập

Câu 1. Tìm cái mới của truyện ngắn Số phận con người trong việc miêu tả cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô.

– Miêu tả chiến tranh với bộ mặt thật nhất của nó: chết chóc, mất mát và đau thương.

– Hình ảnh những con người Nga bình thường nhưng đầy kiên cường.

– Lời nhắc nhở xã hội quan tâm đến số phận của con người sau chiến tranh.

Câu 2. Tưởng tượng và viết một đoạn văn về cuộc sống tương lai của hai bố con.

Gợi ý:

Sau nhiều ngày đi bộ, hai cha con cũng đến được Ka-ra-sư. Tại đây, theo lời giới thiệu của người bạn từ trước đó, Xô-cô-lốp đã tìm được việc làm. Họ thuê được một căn nhỏ gần nơi làm việc của anh. Xô-cô-lốp đã làm việc vô cùng chăm chỉ để tiết kiếm được một khoản tiền nhỏ cho Va-ni-a đi học. Cuộc sống của họ ngày một tốt hơn, những nỗi đau mất mát do chiến tranh cũng dần vơi đi.

Tập Làm Văn Lớp 4: Cấu Tạo Bài Văn Miêu Tả Cây Cối Giải Bài Tập Trang 30 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 2 – Tuần 21

Đọc bài sau đây. Xác định các đoạn văn và nội dung của từng đoạn.

Bãi ngô

Bãi ngô quê em ngày càng xanh tốt. Mới dạo nào những cây ngô còn lấm tấm như mạ non. Thế mà chỉ ít lâu sau, ngô đã thành cây rung rung trước gió và ánh nắng. Những lá ngô rộng dài, trổ ra mạnh mẽ, nõn nà.

Trên ngọn, một thứ búp như kết bằng nhung và phấn vươn lên. Những đàn bướm trắng, bướm vàng bay đến, thoáng đỗ rồi bay đi. Núp trong cuống lá, những búp ngô non nhú lên và lớn dần. Mình có nhiều khía vàng vàng và những sợi tơ hung hung bọc trong làn áo mỏng óng ánh.

Trời nắng chang chang, tiếng tu hú gần xa ran ran. Hoa ngô xơ xác như cỏ may. Lá ngô quắt lại rủ xuống. Những bắp ngô đã mập và chắc, chỉ còn chờ tay người đến bẻ mang về.

NGUYÊN HỒNG

Trả lời:

Bài văn có ba đoạn:

Đoạn 1: (Từ đầu đến “mạnh mẽ, nõn nà”): Đoạn này giới thiệu chung về sự phát triển mau chóng, mạnh mẽ của bãi ngô.

Đoạn 2: (Từ “Trên ngọn” đến “óng ánh”): Đoạn này miêu tả sự ra hoa trổ bắp của cây ngô.

Đoạn 3: (Phần còn lại): Đoạn này tả cảnh bãi ngô đã già, bắp ngô đã chắc hạt, sẵn sàng cho mùa thu hoạch.

Đọc lại bài Cây mai tứ quý (sách Tiếng Việt 4, tập hai, trang 23). Trình tự miêu tả trong bài ấy có điểm gì khác bài Bãi ngô?

Trả lời:

Cây mai tứ quý

Cây mai cao trên hai mét, dáng thanh, thân thẳng như thân trúc. Tán tròn tự nhiên xòe rộng ở phần gốc, thu dần thành một điểm ở đỉnh ngọn. Gốc lớn bằng bắp tay, cành vươn đều, nhánh nào cũng rắn chắc.

Mai tứ quý nở bốn mùa. Cánh hoa vàng thẫm xếp làm ba lớp. Năm cánh dài đỏ tía như ức gà chọi, đỏ suốt từ đời hoa sang đời kết trái. Trái kết màu chín đậm, óng ánh như những hạt cườm đính trên tầng áo lá lúc nào cũng xum xuê một màu xanh chắc bền.

Đứng bên cây ngắm hoa, xem lá, ta thầm cảm phục cái mầu nhiệm của tạo vật trong sự hào phóng và lo xa: đã có mai vàng rực rỡ góp với muôn hoa ngày Tết, lại còn có mai tứ quý cần mẫn, thịnh vượng quanh năm.

Theo Nguyễn Vũ Tiềm

Trình tự miêu tả trong bài Cây mai tứ quý khác bài Bãi ngô như sau:

Bài Cây mai tứ quý cũng gồm có ba phần nhưng phần đầu tả chung về dáng dấp cây mai; đoạn hai tả hoa mai; đoạn ba nói lên cảm xúc của người ngắm hoa xem lá mai.

Bài Bãi ngô cũng có ba đoạn nhưng viết theo sự phát triển của cây ngô: ngô non, ngô ra hoa trổ bắp, ngô đã già.

Từ cấu tạo của hai bài văn trên rút ra nhận xét về cấu tạo của một bài văn miêu tả cây cối.

Trả lời:

Bài văn miêu tả cây cối thường có ba phần:

Phần đầu giới thiệu miêu tả chung về cây (mở bài).

Phần thứ hai đi sâu vào miêu tả một hay nhiều bộ phận của cây hoặc nói về các giai đoạn phát triển quan trọng của cây (thân bài).

Phần kết bài: có thể nêu lợi ích, vẻ đẹp của cây hoặc cảm xúc của người viết.

Bài văn miêu tả cây cối thường có 3 phần:

1. Mở bài: Tả hoặc giới thiệu bao quát về cây

2. Thân bài: Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì phát triển của cây

3. Kết bài: Có thể nêu lợi ích của cây, ấn tượng đặc biệt hoặc tình cảm của người tả với cây.

Đọc bài văn sau và cho biết cây gạo được miêu tả theo trình tự như thế nào?

Cây gạo

Cây gạo già mỗi năm lại trở lại tuổi xuân, cành nặng trĩu những hoa đỏ mọng và đầy tiếng chim hót. Chỉ cần một làn gió nhẹ hay một đôi chim mới đến là có ngay mấy bông gạo lìa cành. Những bông hoa rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống, những cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng nom thật đẹp.

Hết mùa hoa, chim chóc cũng vãn. Cây gạo chấm dứt những ngày tưng bừng ồn ã, lại trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm tư. Cây đứng im cao lớn, hiền lành, làm tiêu cho những con đò cập bến và cho những đứa con về thăm quê mẹ.

Ngày tháng đi thật chậm mà cũng thật nhanh. Những bông hoa đỏ ngày nào đã trở thành những quả gạo múp míp, hai đầu thon vút như con thoi. Sợi bông trong quả đầy dần, căng lên; những mảnh vỏ tách ra cho các múi bông nở đều, chín như nồi cơm chín đội vung mà cười, trắng lóa. Cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới.

Theo Vũ Tú Nam

Trả lời:

Bài Cây gạo được miêu tả theo trình tự sau dãy:

Phần một: Cây gạo vào mùa trổ hoa.

Phần hai: Cây gạo sau mùa hoa.

Phần ba: Quả gạo lớn lên và tách vỏ nở bông.

Lập dàn ý tả một cây ăn quả quen thuộc theo một trong hai cách đã học.

a. Tả lần lượt từng bộ phận của cây

b. Tả lần lượt từng thời kì phát triển của cây

Trả lời:

I. Mở bài: giới thiệu cây ăn quả

Mỗi dịp hè đến là em lại được ba mẹ cho về quê thăm ông bà. Cảnh dưới quê thật yên bình và hiền hòa. Những cánh diều lả lơi cùng mây gió như thướt tha đến lạ. em thích mọi cảnh vật dưới quê, nó làm em cảm thấy thư thái và yên bình. Nhưng em thích nhất là vườn cây ăn quả của ông em, khu vườn có biết bao nhiêu là quả thơm ngon. Và trong đó, em thishc nhất là cây cam. những quả cam trĩu nặng khiến em không thể kìm lòng được.

Advertisement

II. Thân bài

1. Tả bao quát

– Nhìn ta xa cây như thế nào?

Nhìn từ xa cây giống như một cái nấm tròn, chi chít cành và lá nhìn trông thật xinh đẹp.

– Tả chiều cao của cây: cây cao bao nhiêu, so sánh với một vật gì đó.

Cây cao khoảng 2m, chi chit lá và cành.

– Tả thân cây: thân cây to hay không, nhiều cành hay không, tán lá như thế nào?

2. Tả chi tiết

– Lá: hình dáng của lá, màu sắc lá như thế nào?

Khi lá non

Khi lá trưởng thành

Khi lá già

Lá ra sao khi đổi mùa

– Hoa: hình dáng, màu sắc của hoa như thế nào? mùi hương có thu hút ong bướm không

Nụ hoa

Cánh hoa

– Quả: miêu tả hình dáng, màu sắc, mùi vị của quả như thế nào?

Khi trái non

Khi trái già

Khi trái chín

– Vỏ cây: vỏ cây sần sùi, láng bóng hay nó khác

– Rễ cây: ngoằn ngoèo, sần sùi, có nhô lên mặt đất, to hay nhỏ,….

3. Tả bổ sung

Lợi ích, công dụng của cây ăn quả mà em tả đối với e và mọi người

Em có chăm sóc cây và yêu quý nó như thế nào

III. Kết bài

Nêu tình cảm và cảm nghĩ với cây ăn quả mà em tả

Thể hiện lời nhắc nhở, lời hứa của em với cây ăn quả đó

Soạn Bài Tiếng Nói Của Văn Nghệ Soạn Văn 9 Tập 2 Bài 19 (Trang 12)

Soạn bài Tiếng nói của văn nghệ

Mong rằng với tài liệu này, các bạn học sinh lớp 9 sẽ có thể chuẩn bị bài một cách nhanh chóng và đầy đủ.

I. Tác giả

– Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003), quê ở Hà Nội.

– Sau Cách mạng, ông là thành viên của tổ chức Văn hóa cứu quốc do Đảng Cộng sản thành lập từ năm 1943.

– Từ 1958 đến 1989, Nguyễn Đình Thi giữ chức Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.

– Từ năm 1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật.

– Hoạt động văn nghệ của Nguyễn Đình Thi khá phong phú, đa dạng gồm có: làm thơ, viết văn, sáng tác nhạc, soạn kịch…

– Năm 1996, Nguyễn Đình Thi được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Một số tác phẩm tiêu biểu:

Truyện, văn xuôi: Xung kích (1951), Bên bờ sông Lô (tập truyện ngắn, 1957), Vỡ bờ (tập I năm 1962, tập II năm 1970)…

Tiểu luận: Mấy vấn đề về văn học (1956), Công việc của người viết tiểu thuyết (1964).

Thơ: Người chiến sĩ (1958), Dòng sông trong xanh (1974), Đất nước (1948 – 1955)…

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

Bài tiểu luận “Tiếng nói của văn nghệ” viết năm 1948, in trong cuốn “Mấy vấn đề về văn học” (xuất bản 1956).

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “một cách sống của tâm hồn”. Nội dung của văn nghệ.

Phần 2. Tiếp theo đến “Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm”. Sự cần thiết của văn nghệ trong cuộc sống của con người.

Phần 3. Còn lại. Sự cảm hóa, sức mạnh lôi cuốn của văn nghệ.

3. Tóm tắt

Nội dung chủ yếu của văn nghệ là hiện thực cuộc sống qua cái nhìn của người nghệ sĩ. Văn nghệ là sợi dây đồng cảm kì diệu giữa người nghệ sĩ và bạn đọc thông qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim. Văn nghệ giúp cho con người được sống phong phú hơn, tự hoàn thiện nhân cách, tâm hồn mình.

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Bài nghị luận này phân tích nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ, khẳng định sức mạnh lớn lao của nó đối với đời sống con người. Hãy tóm tắt hệ thống luận điểm và nhận xét về bố cục của bài nghị luận.

– Bài “Tiếng nói của văn nghệ” phân tích sức mạnh lớn lao của văn nghệ đối với đời sống của con người qua hai nội dung chính:

Văn nghệ là mối dây đồng cảm kì diệu giữa nghệ sĩ với bạn đọc qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim,

Văn nghệ giúp cho con người được sống phong phú hơn và tự hoàn thiện nhân cách, tâm hồn.

– Gồm 3 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “một cách sống của tâm hồn”. Nội dung của văn nghệ.

Phần 2. Tiếp theo đến “Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm”. Sự cần thiết của văn nghệ trong cuộc sống của con người.

Phần 3. Còn lại. Sự cảm hóa, sức mạnh lôi cuốn của văn nghệ.

Câu 2. Nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ là gì?

– Đời sống, tình cảm của con người qua góc nhìn của người nghệ sĩ.

– Khám phá sâu cuộc sống trong các quan hệ về tính cách, số phận.

– Đời sống khách quan, cách nhìn, cách đánh giá và tư tưởng của người nghệ sĩ.

– Có tính giáo dục, tác động mạnh tới người đọc bởi những tình cảm sâu sắc, buồn vui, nghệ sĩ.

– Khiến ta rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống, làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, lối sống, quan điểm

Câu 3. Tại sao con người cần tiếng nói của văn nghệ?

Con người cần tiếng nói văn nghệ vì văn nghệ có sức mạnh to lớn trong đời sống tâm hồn, trong cuộc sống con người:

– Văn nghệ làm cho đời sống tinh thần của con người được đầy đủ, phong phú hơn, đem đến cảm xúc yêu ghét, ý đẹp xấu, niềm vui buồn trong lao động, cuộc sống.

– Văn nghệ góp phần làm tươi mát cuộc sống vất vả, giúp con người biết rung cảm và ước mơ, giữ niềm tin trong cuộc sống.

Câu 4. Tiếng nói của văn nghệ đến với người đọc bằng cách nào mà có khả năng kì diệu đến vậy? (Tư tưởng, nội dung của văn nghệ được thể hiện bằng hình thức nào? Tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc qua con đường nào, bằng cách gì?)

– Khả năng kì diệu của văn nghệ được lí giải thật sâu sắc:

Mở rộng khả năng của tâm hồn là cho con người được sống nhiều hơn với tất cả vui buồn, yêu thương, căm hờn, biết nhìn, biết nghe một cách tinh tế, sâu sắc.

Giải phóng con người khỏi biên giới của chính mình, giúp con người tự xây dựng mình.

Xây dựng đời sống tâm hồn cho xã hội.

– Tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc qua con đường tình cảm.

Câu 5. Nêu vài nét đặc sắc trong nghệ thuật nghị luận của Nguyễn Đình Thi qua bài tiểu luận này (cách bố cục, dẫn dắt vấn đề, cách nêu và chứng minh các luận điểm, sự kết hợp giữa nhận định, lí lẽ với dẫn chứng thực tế…)

Đặc sắc nghệ thuật nghị luận của Nguyễn Đình Thi:

Bố cục chặt chẽ, hợp lí.

Giàu hình ảnh, có nhiều dẫn chứng về thơ văn, về đời sống thực tế.

Giọng văn chân thành, đầy cảm hứng.

Tổng kết:

Nội dung: Văn nghệ nối sợi dây đồng cảm kì diệu giữa nghệ sĩ với bạn đọc thông qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim. Văn nghệ giúp con người được sống phong phú và tự hoàn thiện nhân cách tâm hồn mình.

Nghệ thuật: Cách viết chặt chẽ, giàu hình ảnh và cảm xúc…

IV. Luyện tập

Nêu một tác phẩm văn nghệ mà em yêu thích và phân tích ý nghĩa, tác động của tác phẩm ấy đối với mình.

Gợi ý:

Tác phẩm văn nghệ mà em yêu thích là “ Chuyện con mèo dạy hải âu bay” của nhà văn Lu-i Xe-pun-ve-da. Với tác phẩm này, Lu-i Xe-pun-ve-da đã giúp người đọc nhận thấy sự chân thành là hương vị quan trọng để cuộc sống ý nghĩa hơn. Đồng thời khi chúng ta biết chấp nhận sự khác biệt sẽ đem lại hạnh phúc cho mình và cả những người bên cạnh. Bắt đầu bằng một lời hứa, nhưng chính trái tim nhân hậu của chú mèo Gióc-ba đã làm lay động trái tim của biết bao độc giả. Khi đọc từng trang sách, chúng ta đã cùng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc lẫn lộn: vui vẻ, buồn bã, tức giận đến hồi hộp, hạnh phúc của những nhân vật trong truyện. Không chỉ vậy, một thế giới của loài vật hiện lên thật sự sinh động, thú vị khiến cho người đọc không thể rời mắt khỏi trang sách.

Câu 1. Bài nghị luận này phân tích nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ, khẳng định sức mạnh lớn lao của nó đối với đời sống con người. Hãy tóm tắt hệ thống luận điểm và nhận xét về bố cục của bài nghị luận.

– Hệ thống luận điểm:

Nội dung của văn nghệ: Cùng với thực tại khách quan, nội dung của văn nghệ còn là nhận thức mới mẻ, là tất cả tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ. Mỗi tác phẩm lớn là một cách sống của tâm hồn, từ đó làm thay đổi hẳn “mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”.

Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết với cuộc sống của con người, nhất là trong hoàn cảnh chiến đấu, sản xuất vô cùng gian khổ của dân tộc ta ở những năm đầu kháng chiến.

Văn nghệ có khả năng cảm hóa, sức mạnh lôi cuốn của nó thật kì diệu bởi đó là tiếng nói của tình cảm, tác động mỗi con người qua mỗi rung cảm sâu xa của trái tim.

– Bố cục:

Phần 1. Từ đầu đến “một cách sống của tâm hồn”. Nội dung của văn nghệ.

Phần 2. Tiếp theo đến “Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm”. Sự cần thiết của văn nghệ trong cuộc sống của con người.

Phần 3. Còn lại. Sự cảm hóa, sức mạnh lôi cuốn của văn nghệ.

Câu 2. Nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ là gì?

– Đời sống, tình cảm của con người qua góc nhìn của người nghệ sĩ.

– Khám phá sâu cuộc sống trong các quan hệ về tính cách, số phận.

– Đời sống khách quan, cách nhìn, cách đánh giá và tư tưởng của người nghệ sĩ.

– Có tính giáo dục, tác động mạnh tới người đọc bởi những tình cảm sâu sắc, buồn vui, nghệ sĩ.

– Khiến ta rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống, làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, lối sống, quan điểm

Advertisement

Câu 3. Tại sao con người cần tiếng nói của văn nghệ?

Con người cần tiếng nói văn nghệ vì văn nghệ có sức mạnh to lớn trong đời sống tâm hồn, trong cuộc sống con người:

– Văn nghệ làm cho đời sống tinh thần của con người được đầy đủ, phong phú hơn, đem đến cảm xúc yêu ghét, ý đẹp xấu, niềm vui buồn trong lao động, cuộc sống.

– Trong những trường hợp con người bị ngăn cách với cuộc sống, tiếng nói của văn nghệ là sợi dây buộc chặt họ với cuộc sống bên ngoài, tất cả sự sống, hoạt động, vui buồn gần gũi…

– Văn nghệ góp phần làm tươi mát cuộc sống vất vả, giúp con người biết rung cảm và ước mơ, giữ niềm tin trong cuộc sống.

Câu 4. Tiếng nói của văn nghệ đến với người đọc bằng cách nào mà có khả năng kì diệu đến vậy? (Tư tưởng, nội dung của văn nghệ được thể hiện bằng hình thức nào? Tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc qua con đường nào, bằng cách gì?)

Sức mạnh riêng của văn nghệ bắt nguồn từ nội dung của nó và con đường đến với người đọc, người nghe.

Văn nghệ giúp mọi người tự nhận thức, xây dựng bản thân.

Câu 5. Nêu vài nét đặc sắc trong nghệ thuật nghị luận của Nguyễn Đình Thi qua bài tiểu luận này (cách bố cục, dẫn dắt vấn đề, cách nêu và chứng minh các luận điểm, sự kết hợp giữa nhận định, lí lẽ với dẫn chứng thực tế…)

Bố cục chặt chẽ, hợp lí, dẫn dắt tự nhiên…

Cách viết giàu hình ảnh, có nhiều dẫn chứng về thơ văn, đời sống thực tế để khẳng định thuyết phục các ý kiến, tăng thêm sự hấp dẫn cho tác phẩm.

Giọng văn toát lên lòng chân thành, say sưa và hứng khởi…

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Hộp Thư Mật Trang 62 Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 – Tuần 24 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!