Xu Hướng 2/2024 # Top 6 Tác Phẩm Hay Nhất Của Nhà Văn Vũ Phương Thanh (Gào) # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Top 6 Tác Phẩm Hay Nhất Của Nhà Văn Vũ Phương Thanh (Gào) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chúng ta rồi sẽ ổn thôi

“Đến một ngày, chúng ta sẽ cùng ngồi lại nơi nào đó, khi mỗi người đã có những khoảng trời riêng, nhìn nhau bình thản, và nhận ra dù đã đi qua những khó khăn đến mấy, dù đã vấp bao nhiêu lần, dù chuyện gì xảy ra…Thì, chúng ta rồi sẽ ổn thôi.”

Đôi khi tình yêu có những nghịch lý mà không ai có thể giải thích được: Khi ai đó vứt bỏ, ta lại cố sức chạy theo lượm nhặt những mảnh vụn để cố ghép thành một bức tranh hạnh phúc. Nhưng càng ghép càng thấy tổn thương. Chúng ta rồi sẽ ổn thôi viết về những câu chuyện, những mối tình dở dang như thế. Đó là tình yêu của tuổi trẻ, của sự ngơ dại, sự đĩnh đạc tình trường… Đó là những lời nói dối yêu thương trong vô thức, sự hi sinh không điểm cuối của người đàn bà, là câu chuyện về những “người cũ – người mới”, là những yêu thương chẳng có giới hạn bao giờ.

Để rồi, khi ta đi qua từng bước, từng bậc trên chặng đường dài của cuộc sống, bước qua tất cả những xước xát của tình yêu, lúc ấy mới có thể hiểu yêu thương mình, nuôi giữ ước mơ của chính mình mới là thứ cần yêu hơn bất cứ người đàn ông nào cả.

“Chúng ta rồi sẽ ổn thôi”, hãy tin rằng như thế. Vì cuộc sống này đâu chỉ có những nỗi buồn. Ngoài kia mặt trời vẫn chiếu những tia nắng mới. Ngoài kia, chim vẫn hót véo von cho một ngày nắng đẹp. Ngoài kia, có nhiều con đường để lựa chọn, nhiều niềm vui để tận hưởng hết. Ngoài kia, cuộc đời vẫn đang gọi bằng những tiếng gọi yêu thương…

Quan trọng là hãy bước đi và cứ bước đi: “Chúng ta rồi sẽ ổn thôi!”

Chúng ta rồi sẽ ổn thôi

Nhật ký son môi

Chúng ta rồi sẽ ổn thôiChúng ta rồi sẽ ổn thôi

Vẫn là những chuyện tình buồn, nhưng độc giả sẽ chẳng bao giờ thấy được cái lặp lại nhàm chán trong nội dung, trong cách viết của Gào. Nó đủ hay, đủ gần gũi, thân thuộc, đủ quằn quại, đau đớn mà không thấy sự gò bó, chuẩn mực. Thành công của chị có lẽ nằm ở đó.

Với Nhật ký son môi thì đó là câu chuyện tình yêu thường nhật của ba người phụ nữ với ba hoàn cảnh khác nhau, quyết định khác nhau nhưng trớ trêu ở chỗ có điểm chung như nhau là đều không gặp may mắn, không hạnh phúc, không có được người thật lòng với họ bởi họ quá cố chấp. Họ sợ bị bỏ rơi, họ tiếc những kỉ niệm, tiếc người mình dốc lòng dốc dạ yêu thương nhưng thản nhiên phản bội. Họ không dám sống cho thực tại, không dám đối diện với vết thương của mình, nên họ mãi như vậy…

Toàn bộ cuốn truyện không phải là những trang nhật ký ghi lại những sự việc, cảm xúc diễn ra theo kiểu từng ngày, từng giờ, trái lại, nó được kết cấu chặt chẽ với cốt truyện rõ ràng và đơn tuyến. Thời gian ước tính kéo dài khoảng 5 tháng, xoay quanh câu chuyện nhân vật “Tôi” – một cô gái hơn hai mươi tuổi xinh đẹp, cá tính, sắc sảo, dám yêu, dám sống và dám chịu trách nhiệm với cuộc sống của mình. Cô có người yêu kém 2 tuổi đang du học nơi trời Tây, chàng trai ấy phản bội cô và cô sống khổ sở trong sự ngăn cấm của gia đình chàng trai, trong tình yêu da diết mãnh liệt và tinh thần thủy chung như nhất dù có bao cách trở, cũng như phải đối mặt với những khó khăn trong công việc, cuộc sống và thời kỳ khó khăn “khủng hoảng tuổi hai mươi”.

Cùng với đó là các cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ với những cô gái tuổi 8X, 7X khác – những cô gái với các câu chuyện tình, với quan niệm yêu, quan niệm sống khác nhau – nhưng có tác động không nhỏ đến “Tôi”. Câu chuyện kết thúc với nỗi buồn mênh mang khi cô gái chiêm nghiệm về tất cả những gì ào ạt xảy đến với mình trong mấy tháng qua, nhưng cũng hé mở những tin yêu, những nhớ thương chờ đợi của một cô gái vẫn còn quá tha thiết với cuộc đời…

Hoa Linh Lan

Nhật ký son môiNhật ký son môi

Hoa Linh Lan là câu chuyện về sự tuyệt vọng, cô đơn của người trẻ trong xã hội đông đúc, ồn ào. Cuốn tiểu thuyết kể về mối tình tay ba hiện đại nhưng rất truyền thống, dữ dội ghen tuông nhưng cũng sẵn lòng bỏ cuộc, được Gào chắp bút và hoàn thành sau 6 năm lên ý tưởng và đặt bút viết. Mỗi nhân vật trong câu chuyện của chị đều tràn đầy bi thương, mất mát, cay đắng và tuyệt vọng, nhưng không vì thế mà đi vào bế tắc. Họ mạnh mẽ dù cũng mong manh, bước qua mỗi nỗi đau là một chút trưởng thành. Cuộc đời là của họ, không chấp nhận bị số phận đẩy đưa, kìm kẹp, họ cuối cùng cũng vực dậy và tìm được lối thoát cho bản thân.

“Tôi đã từng rất hoang mang với thời đại của mình. Thời đại của những con người cô đơn được giấu trong hình hài nhỏ bé. Thời đại huyên náo của đám đông, đầy ắp những cá nhân lặng lẽ. À, cô đơn, hóa ra ai cũng đã từng có cái cảm giác buồn cười như thế: Một mình giữa mọi người. Hoa Linh Lan được viết vào đầu năm 2008, khi cảm giác lúng túng tìm lối ra trong thời đại ấy, kiểm soát tâm trí tôi – một cô gái ngày ấy mới bước vào tuổi hai mươi, chưa biết làm chủ cuộc đời mình thế nào mới đúng?

Đã gần sáu năm trôi qua, tôi – giờ đây đã là một bà mẹ. Không còn thấy thời đại này xa lạ như khi mới bỡ ngỡ bước vào đời. Tôi bắt đầu viết tiếp cái kết cho câu chuyện ấy trong một buổi chiều trưởng thành, sau nhiều năm dang dở. Sáu năm, có nhiều thứ đổi thay hơn ta tưởng. Suy nghĩ ngày hôm qua, cùng với thời gian, hôm nay, cũng đã khác xưa nhiều.

Đọc Hoa Linh Lan và kiên nhẫn với nó, bạn sẽ thấy đâu đó trong những dòng tâm sự, trải nghiệm của từng nhân vật: một chút hy vọng, một chút trưởng thành và cả một chút mong manh trong vô vàn cứng rắn. Cảm giác bắt gặp lại chính mình nơi quá khứ bi thương, nhưng tràn trề hy vọng. Cảm thấy nhắm mắt, có thể với tới trời xanh lạc lõng.

Hoa Linh LanHoa Linh Lan

Yêu anh bởi tất cả những gì em có – Mất anh bởi tất cả những thứ em cho

Hoa Linh LanHoa Linh Lan

Trong tình yêu, những cô gái nào yêu mãnh liệt hơn, thì cũng thường yếu đuối hơn. Họ cho nhiều hơn, và khi đã mất, cũng thường mất nhiều hơn. Dù ngốc nghếch hay là khôn ngoan, dù ngây thơ hay là từng trải, một khi đã yêu thật lòng, thì họ cũng chấp nhận hết cái sự “cho” và “mất” ấy. Nếu bạn là một cô gái như thế, hãy cầm trên tay hai cuốn sách Yêu anh bằng tất cả những gì em có và Mất anh bởi tất cả những thứ em cho của nữ tác giả Gào. Hãy đọc và cảm nhận hai cuốn sách này, để cùng nhận về những tiếng nói sẻ chia, để biết yêu thương nhiều hơn trong mất mát, biết hy vọng nhiều hơn trong những vô vọng đợi chờ, và để xác định cho mình một đường đi đích thực trong mối tình mông lung…

Hai tác phẩm đều là tập hợp những câu chuyện nhỏ mà người con gái đang yêu ghi lại hàng ngày, gọi là nhật ký cũng được, gọi là những bức thư tình cũng được – những bức thư tình gửi một người con trai không bao giờ xuất hiện nữa. Cô gái yêu chàng trai rất nhiều, nhưng chàng trai ấy khi đã qua những phút giây nồng cháy, thì chợt thờ ơ, lạnh lùng… Xen vào đó là một vài câu chuyện ngắn về tình yêu, ngắn nhưng ngọt ngào, như ru lòng người đọc, người nghe.

Gào từng tâm sự trên facebook cá nhân rằng, hai tác phẩm mới của cô sẽ là quà tặng Valetine cho những người độc thân, hoặc những ai đã từng có tình yêu nhưng để mất… Nhưng nếu từng đọc qua Yêu anh bằng tất cả những gì em có và Mất anh bởi tất cả những thứ em cho, bạn sẽ chắc chắn một điều rằng: hai cuốn sách sẽ là món quà tặng tuyệt vời cho tất cả những ai đã, đang và sẽ yêu; bởi bạn sẽ tìm thấy ở trong đó muôn vàn cảm xúc, rất nhiều bài học, và quan trọng hơn, như đã nói ở trên, xác định được cho mình một đường đi đích thực trong mối tình mông lung…

Yêu anh bởi tất cả những gì em có – Mất anh bởi tất cả những thứ em cho

Tự sát

Yêu anh bởi tất cả những gì em có – Mất anh bởi tất cả những thứ em cho

Câu chuyện lần này rất khác với những câu chuyện của Gào mà người ta đã quen từ trước, ngay từ những tình tiết đầu tiên đã lạ và ám ảnh. Nếu như ở những truyện kia, nhân vật của Gào “khổ” do những ảnh hưởng tự tâm, từ xung quanh cuộc sống nhỏ bé của họ; thì ở Tự sát, những tác động và ảnh hưởng dường như đến từ thế giới rộng lớn bên ngoài đã bao vây và kìm kẹp con người.

Câu chuyện phát triển một cách tự nhiên như chính những nhịp thở cuộc sống của Gào, tự nó đòi hỏi nó phải có một tầm vóc xứng đáng hơn. Đáng lẽ sẽ có một cái kết mở của sự bế tắc sau ba chương, nhưng chính nhân vật của Gào không thỏa mãn, mà tò mò muốn biết tương lai của mình ra sao. Và Gào đã viết. Mười ba chương tạo thành một câu chuyện hoàn chỉnh.

Một câu chuyện về những khoảnh khắc u tối, khi ta dần đánh mất đi những người xung quanh; để rồi đánh mất chính bản thân mình. Nhưng các bạn, những độc giả, xin đừng vội nản lòng, hãy dành niềm tin cho cái kết – một cái kết khác mọi cái kết mà Gào từng viết trước đó.

Đặc biệt, câu chuyện này còn được tác giả và nhóm nhạc 365daband có ý định kết hợp dựng thành phim ngắn, đã có Official trailer và OST nhưng vì một vài lí do nội bộ nên sau đó cũng không có tiến triển gì thêm, để lại sự tiếc nuối vô hạn cho khán, độc giả.

Cho em gần anh thêm chút nữa

Tự sát

Tác phẩm gồm 13 truyện ngắn, là 13 câu chuyện, 13 nỗi buồn chạm đến từng ngõ ngách trái tim người đọc. Khi nghiền ngẫm từng câu chuyện một, có thể bạn sẽ thấy bóng hình mình thấp thoáng đâu đó, ẩn nấp trong từng nỗi đau của mỗi nhân vật. Chúng ta cứ mải miết chạy theo những thứ vô thường của cuộc sống, để rồi đến cuối cùng mới nhận ra, mình đã đánh mất nhiều thứ chỉ để đuổi theo cái khao khát yêu và được yêu.

“Bình thường, khi đọc một cuốn sách hay, tôi hay có cảm giác yêu tác giả, nhưng đọc truyện của Gào, có thể bạn cũng sẽ như tôi, thấy ghét cay ghét đắng cái giọng văn đanh đá…ghét như thế, nhưng vẫn cứ phải đọc cho hết không thì sẽ rất khó chịu, bứt rứt…và đọc xong lại thấy thèm đọc nữa…để rồi ghét thêm…” – Vũ Ngọc Phượng – MC Tôi 20! – Đài VTC

– “Một giọng văn thật táo bạo, một lối viết khá tự do đôi khi pha chút ngỗ ngược…Đâu đó trong những câu chuyện của Gào là chuỗi tưởng tượng vô cùng phong phú đôi lúc pha chút viễn vông nhưng khi ngẫm lại ta lại thấy chúng chẳng xa vời thực tế chút nào” – Thùy Linh – Nhóm Năm Dòng Kẻ

– “Một đốm lau ngày hôm nay có thể là cả một đồng lau lan tận đến chân núi vào những hôm sau. Tôi tin văn của Gào sẽ như thế, bởi lửa tự thân đâu đó giữa những dòng chữ” – Lê Cát Trọng Lý – Ca sĩ, Nhạc sĩ

Cho em gần anh thêm chút nữaCho em gần anh thêm chút nữa

Dù bây giờ, Gào đang bận rộn với những dự án kinh doanh riêng của mình và chăm lo cho gia đình nhỏ có hai em bé, nên chúng ta tạm thời sẽ chẳng mong chờ gì được ở những tác phẩm mới của chị. Tuy nhiên, những tâm sự chị chia sẻ trên trang facebook cá nhân lại vô cùng hay, đáng yêu và hữu ích. Đôi khi đó là sự giận dỗi nhưng dễ thương, đôi khi lại là những cách nuôi con hay chia sẻ về mỹ phẩm, làm đẹp rất thu hút phái nữ, đôi khi lại là những trải lòng về cuộc sống khiến chúng ta cũng chững mất vài nhịp để chiêm nghiệm … Bận chăm sóc gia đình nhỏ của mình cộng thêm những bộn bề, ngổn ngang trăm thứ việc phải lo, chị vẫn bằng lòng và hạnh phúc. Chúc chị luôn cảm thấy viên mãn với cuộc sống mình đã chọn.

Đăng bởi: Huỳnh Triệu

Từ khoá: Top 6 Tác phẩm hay nhất của nhà văn Vũ Phương Thanh (Gào)

10 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm “Hai Chữ Nước Nhà” Của Trần Tuấn Khải Hay Nhất

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 10

Trên văn đàn hợp pháp ba mươi năm đầu thế kỉ XX, Á Nam Trần Tuấn Khải là một tên tuổi để lại nhiều dấu ấn sâu đậm. Thơ Trần Tuấn Khải đã rung vào dấy đàn yếu nước thương nòi của mọi lòng người (Xuân Diệu).

LГ  mб»™t hб»“n thЖЎ yГЄu nЖ°б»›c lЖ°u hГ nh cГґng khai, hб»Јp phГЎp, nГЄn nб»™i dung yГЄu nЖ°б»›c trong thЖЎ Гґng thЖ°б»ќng Д‘Ж°б»Јc biб»ѓu hiện mб»™t cГЎch riГЄng biệt Д‘б»ѓ cГі thб»ѓ lб»Ќt qua vГІng kiб»ѓm duyệt khбєЇt khe của chГ­nh quyб»Ѓn thб»±c dГўn lГєc bấy giб»ќ. MЖ°б»Јn Д‘б»Ѓ tГ i lб»‹ch sб»­ Д‘б»ѓ kГ­ thГЎc tГўm sб»± yГЄu nЖ°б»›c lГ  mб»™t cГЎch thб»©c biб»ѓu hiện hб»Їu hiệu vГ  lГ

Nhà thơ đã chọn một bối cảnh không gian thật đặc biệt để làm nền cho cuộc chia li của hai cha con. Đó là chốn Ải Bắc heo hút, ảm đạm. Ải Bắc là một địa danh có sức gợi cảm lớn, và đối với cuộc ra đi không ngày trở lại của ông Nguyễn Phi Khanh thì đây là điểm cuối cùng để rồi chia biệt vĩnh viễn đối với Tổ quốc, với quê hương:

Và cảnh vật tang tóc, thê lương càng tô đậm thêm nỗi buồn đau trong lòng người hóa thành máu và lệ chia li:

Nước đã mất, nhà đã tan, hai cha con trở thành một kẻ vong quốc. Hơn nữa, tình cảnh của ông Nguyễn Phi Khanh là tình cảnh của một tù binh đang phải chịu cảnh lưu đày biệt xứ. Hình ảnh người cha già với chút thân tàn đang lê bước tới chốn lưu đày khiến người con rất đỗi đau lòng. Nguyễn Trãi những muốn đi theo để phụng dưỡng cha già cho tròn đạo hiếu.

Nhưng thù nhà, nợ nước chất chồng, làm sao ông Nguyễn Phi Khanh có thể để con báo hiếu. Đối với người cha, nỗi đau mất nước đè nặng tâm hồn ông như: hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, khiến ông không thể nghĩ đến tình riêng. Người cha ngậm ngùi gạt nước mắt chia li, dằn lòng khuyên con quay trở lại tìm cách diệt thù báo quốc. Cảnh nước mất nhà tan, cha con li biệt thật đau đớn, xót xa. Bao trùm lên nỗi đau thương ấy là tình nhà nghĩa nước thiết tha, sâu đậm khiến người đọc không thể không bồi hồi, xúc động.

Trong hoàn cảnh cha con chia lìa, lời khuyên của người cha trở thành lời trăn trối thiêng liêng và xúc động. Trong lời trăn trối đầy máu và nước mắt của người cha, hiện tình đất nước hiện ra đầy đau thương tang tóc:

Thảm cảnh ấy gắn liền với tội ác của giặc thù, của bọn lòng lang, dạ sói: Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu. Thảm cảnh của đất nước và tội ác của quân giặc khiến người cha tột cùng đau đớn và căm uất:

Vượt lên trên số phận của cá nhân là số phận của một dân tộc, một quốc gia. Vì thế nỗi đau của ông Nguyễn Phi Khanh đã trở thành nỗi đau lớn lao, cao cả: nỗi đau non nước; một nỗi đau thấu cả đất trời: Ngậm ngùi đất khóc giời than. Gắn bài thơ với hoàn cảnh ra đời của nó là bối cảnh đầu thế kỉ XX, thì những người dân Việt Nam lúc này cũng chỉ là những kẻ vong quốc đang chịu cảnh lầm than cơ cực. Nỗi đau mất nước của người xưa cũng là nỗi đau thương của cả dân tộc ta đầu thế kỉ XX. Lời thơ Trần Tuấn Khải đã tác động đến sâu thẳm trái tim yêu nước thương nòi của người dân đất Việt.

Trở lại với đoạn thơ và tâm sự của ông Nguyễn Phi Khanh, ta nhận thấy hình như trong tiếng nấc xót xa cho tình cảnh đau thương của đất nước, có cả sự ngậm ngùi chua xót của một người cảm thấy mình có lỗi với nước, với dân:

Nên ông càng thêm tha thiết mong mỏi con trai có thể thay mình mà phục thù, báo quốc, rửa được mối hận cho cha già:

Càng đọc kĩ đoạn thơ, ta càng xúc động sâu sắc trước tâm sự yêu nước mãnh liệt của người cha, cũng là tâm sự yêu nước mãnh liệt của nhà thơ. Và ta càng hiểu vì sao thơ Trần Tuấn Khải lại nhận được sự đón chào nồng nhiệt của công chúng độc giả, nhất là tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 10

Hai chữ nước nhà là bài thơ mở đầu tập Bút quan hoài I của Trần Tuấn Khải, được sáng tác vào năm 1926. Bài thơ lấy đề tài lịch sử thời kì nước ta bị quân Minh xâm lược (thế kỉ XV). Cha con Nguyễn Trãi đã bị thất thế trong cuộc xâm lược này của quân giặc. Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt giải về Trung Quốc, Nguyễn Trãi định theo cha nhưng tới biên giới phía Bắc, Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trãi nên quay trở về để tính chuyện trả thù cho cha, cho dân tộc.

Tác giả bài thơ đã mượn lời người cha căn dặn con để viết nên tác phẩm mang tinh thần yêu nước sâu sắc và ý nguyện độc lập dân tộc. Đoạn trích “Hai chữ nước nhà” gồm 36 câu thơ được Trấn Tuấn Khải sáng tác vào năm 1926, in trong tập Bút quan hoài I. Những đề tài lịch sử, những gương anh hùng dân tộc đã được Trần Tuấn Khải ghi lại nhằm khích lệ tinh thần yêu nước, nói lên nỗi nhục của những người mất nước, qua đó thể hiện khác vọng độc lập, tự do của tác giả.

Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm,

Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu,…

Chút thân tàn lần bước dặm khơi,

Trông con tầm tã châu rơi

Trước cảnh đất nước bị đô hộ người cha trên đường đi đày vẫn còn ngỗn ngang nỗi niềm. Các chữ trong đoạn thơ đã thể hiện niềm uất hận của người anh hùng thất thế, một bi kịch mà người cha đang gặp. Câu thơ thấm đầy nỗi niềm, giọng thơ vừa thiết tha vừa nào nùng: Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Trước khi ra đi, người cha chỉ kịp nhắn gửi đến con những nỗi niềm của mình giao phó trách nhiệm trọng đại lại cho con:

Giống Hồng Lạc hoàng tiên đã định,

Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay

Giời Nam riêng một cõi này,

Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì!

Câu Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì! như muốn nhắc người con khắc ghi lòng tự tôn dân tộc, nối tiếp truyền thống của những người đi trước quên mình vì độc lập của dân tộc. Những câu thơ sau trở nên đầy hận khí khi người cha nói về những tội ác tày trời của quân giặc:

Bốn phương khói lửa bừng bừng,

Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông!

Những hình ảnh như khói lửa bừng bừng, xương rừng máu sông, thành tung quách vỡ, đất khóc giời than… tuy mang tính ước lệ nhưng vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ vì đã gợi lên bao nỗi nhục mất nước, lòng căm thù đối với quân giặc. Người cha trước khi đi nhìn cảnh đất nước mà đau đớn lòng. Càng lo cho vận mệnh của đất nước thì nỗi đau ấy càng thêm chất chứa. Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ cất lên vô cùng thống thiết:

Con ơi! càng nói càng đau,

Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?

Lời thơ như chứa đầy lệ, có lời than, có tiếng nức nở. Ở đây không còn là lời cha dặn con đơn thuần mà là lời của cả một dân tộc. Những câu cuối cùng trong bài thơ vừa nói lên bi kịch của người cha: tuổi già sức yếu, sa cơ đành chịu bó tay, vừa đặt niềm tin vào người con trong việc trả thù nhà, gánh nợ nước: Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Những lời tha thiết dặn con lần cuối như vì nước, nhớ tổ tông mệnh lệnh cho người con trong hoàn cảnh đau buồn của đất nước.

Con nên nhớ tổ tông khi trước

Đã từng phen vì nước gian lao,

Bắc Nam bờ cõi phân mao

Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây…

Hai chữ nước nhà là bài thơ hay và cảm động. Bài thơ thể hiện một cách cô đọng nỗi đau mất nước, đồng thời khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, nêu cao khát vọng độc lập tự do của cả dân tộc. Hai chữ nước nhà không còn là lời giữa hai cha con với nhau mà là lời của Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 8

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 9

Với những áng thơ của thế kỷ XX lấy hướng sáng tác chủ đạo về lịch sử đáng tự hào dân tộc, tình yêu nước và tìm kiếm những hơi hướng mới mẻ để phát triển đất nước. Các nhà thơ đem lòng nhiệt huyết của mình gửi gắm vào mỗi tác phẩm, Hai Chữ Nước Nhà là một trong những tác phẩm hay,tác giả Trần Tuấn Khải đã hóa thân đắm chìm với nhân vật, khai thác thể thơ hay cùng dòng tâm sự chân thực để nói lên cuộc sống của thế hệ chí sĩ yêu nước, truyền tiếp tâm huyết của mình đến những thế hệ trẻ của một dân tộc anh hùng.

Cả bài thơ chính là đoạn trích dài 36 câu được, là bài thơ nổi tiếng được viết trong tập Bút quan hoài I, sáng tác năm 1924, từng suy nghĩ rành mạch của tác giả dường như gửi gắm trọn vẹn, hoàn hảo hơn nhờ thể thơ song thất lục bát rất điêu luyện và mang được nhiều cảm xúc đến độc giả.

Nội dung của bài thơ vô cùng quen thuộc nhưng lại đầy ấn tượng khi đề tài yêu nước ấy lại được thể hiện qua những lời tâm sự rất chân thực, mong mỏi của người cha- nhà chí sĩ, nhà anh hùng, vị quan tài giỏi lại sắp phải ly biệt tổ quốc vì bọn giặc Minh đương thời quá tàn ác với nước ta với người con trai đầy hiếu thảo, có ý chí, giúp con hình dung được hoàn cảnh đất nước với quy luật thịnh suy của các triều đại.

Những tội ác mà bọn giặc gây ra đau khổ lên người dân nhẫn nhục, đắng cay, vô tội và cố gắng gạt tình riêng mà mơ tưởng về một tương lai đầy trách nhiệm với tổ quốc nối tiếp sự nghiệp của người cha với tổ quốc, đánh đuổi giặc, giải phóng đất nước, giúp đất nước đi lên.

Cả bài thơ có thể chia làm 3 phần rõ rệt. Phần 1(8 câu đầu) với nội dung: Tâm trạng của người cha trong khi sắp phải rời xa đất nước. Phần 2( 20 câu tiếp theo) là thể hiện rõ được cảnh ngộ của người cha trong cảnh nước mất nhà tan. Bên cạnh đó phần thứ 3 (còn lại) đưa đến lời dặn làm người và trao con lời tâm nguyện cứu nước. Nội dung của bài thơ có thể thấy đã ngay từ đầu ấn tượng với ta rõ nét qua Nhan đề của bài thơ “Hai chữ nước nhà”.

Nước có nghĩa chỉ chung dân tộc, nhà chỉ những nơi nhỏ rất thân thiết. Trong hoàn cảnh lịch sử hay thời kì hiện đại thì hai từ này vẫn được dùng chung vói nhau để tăng thêm ý nghĩa quan trọng và gần gũi với mỗi con người, nhưng ở thời kì lịch sử của nhân vật- thời kỳ lầm than, phong kiến thống trị, lũ giặc bán nước cướp nước ngang nhiên lộng hành, thì có lẽ hai từ này đi kèm dường như không tách rời được và sâu sắc đến mức được rất nhiều nhà yêu nước đã sớm nhận ra, làm ta hình dung được câu nói “ Nước mất nhà tan”.

Tình yêu gia đình phải được nâng lên thành tình yêu nước, thù nhà được giải quyết chỉ khi nợ nước được giải quyết. Bởi vậy Nhà yêu nước Nguyễn Phi Khanh đã giúp con hiểu được tình cảm cá nhân, tình hiếu thảo với cha mẹ, nên được quện trong tình yêu nước lớn lao mới có ý nghĩa.

Chẳng thể ngừng suy nghĩ, liên tưởng khung cảnh xúc động về cuộc chia ly không hẹn gặp lại giữa người cha, người con biến nơi vùng biên giới trở nên là một nơi ảm đạm, buồn đau nó là nơi ra đi của hàng vạn chiến sĩ yêu nước,chỉ kịp nói lời vĩnh biệt tổ quốc trong lặng lẽ, với nỗi đau nhà chí sĩ phải dồn nén đáy lòng gợi mở ra được sự gửi gắm những niềm tin quý báu cho con những phút giây gặp gỡ cuối cùng ngắn ngủi thể hiện rõ trong từng chữ vần thơ ngắn nhưng lại rất giàu hình ảnh, cảm xúc lắng đọng ở phần đầu

Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu.

Bốn bề hổ thét chim kêu,

Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình.

Và ở ta thấy được qua lời thơ không chỉ là lời trò chuyện chân thành của giữa 2 người đàn ông trưởng thành rất thân thiết đơn thuần mà trong đó là cả những lời dường như là lời trăng trối thiêng liêng nặng ân tình mang nhiều ý nghĩa lớn lao, cuộc chia li diễn ra trong buồn bã đầy căm tức quân giặc nhưng bất lực trong lời than như tiếng khóc ai oán khiến người con phải khắc cốt ghi tâm.

Trước hoàn cảnh Con trai duy nhất luôn mong muốn được đi theo để báo hiếu lại tình phụ tử, nhưng Người cha mẫu mực, đầy khí chất đã gạt đi tình riêng, mang theo nợ nước thù nhà thiêng liêng sâu đậm nhưng còn dang dở đặt lên vai người con như một khẩn nguyện cuối cùng.

Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước

Chút thân tàn lần bước dậm khơi

Trông con tầm tã châu rơi

Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:

Phần một đã giúp mở ra những nội dung cụ thể sâu sắc của phần 2 là tình cảm của người cha với đất nước, từ hoàn cảnh thực tế nước nhà vẫn lầm than nô lệ,tội ác tày trời của giặc đã tiếp nối những dòng nhấn mạnh ở đó là xuất thân của dân tộc, khí phách quật cường thời nào cũng có và quan trọng là lời dặn dò về lòng tự hào dân tộc đã khởi tác dụng.

Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định

Trời Nam riêng một cõi này

Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!

Một lời nhắc đầy tự hào về lịch sử quê hương “giống hồng lạc” đã trở thành chủ của đất nước riêng, được “Trời định đoạt sẵn”. Ông hào hứng phân tích cho con qua các thời kì triều đại có quy luật “ Thịnh suy” là giai đoạn tất yếu lúc lên hưng thịnh r cũng đến lúc phải đối diện với sự suy tàn, thay thế nhưng trong mỗi thời, đều có những anh hùng vĩ đại làm nên những chiến công hiển hách đáng tự hào cho dân tộc, nơi ấy những người đàn bà vốn chỉ được ví “chân yếu tay mềm” giờ cũng đã trở thành những “nữ hiệp cứu nước”.

Tiếp đó những lời than thở đầy hận thù nhưng có chút bế tắc khi nói đến tội ác của quân Minh xâm lược chúng dễ nhằm vào sơ hở và luôn có mưu đồ hòng cướp nước ta, gây bao đau khổ mất mát cho người dân vô tội.

Than vận nước gặp khi biến đổi

Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng

Bốn phương khói lửa bừng bừng

Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! …

Tác giả có lẽ sử dụng hết được ý nghĩa của thể thơ mình chọn để gửi gắm tâm sự, thành công lớn trong việc sử dụng lối nghệ thuật riêng của thể thơ những vần trắc (yên vận) xô xát giữa câu, réo rắt, da diết, rất hợp để diễn đạt nỗi uất ức, nỗi căm giận, lời mắng nhiếc, tiếng thở than, sự nghĩ ngợi, nỗi u sầu.

“Càng nói thì lại càng đau”, suy xét về thời thế triều đại sau, bật tiếng khóc nghẹn ngào cho hoàn cảnh của chính mình “lực bất tòng tâm”, người cha ấy vốn rất mẫu mực suy tính và đầy chí khí anh hùng luôn biết lấy giang sơn làm trọng gạt nước mắt cố khuyên con những điều tâm huyết nhất biết lấy giang sơn làm trọng vì vậy mà Nguyễn Trãi là người có học, sống tình cảm đã dặn lòng, ghi tạc trong lòng để rồi tiếp nối thế hệ, được ghi danh trong bảng vàng những người tài, có công lao to lớn cho dân tộc.

Cha xót phận tuổi già sức yếu

Lỡ sa cơ đành chịu bó tay

Thân lươn bao quản vũng lầy

Giang sơn gánh vác sau này cậy con

Tác giả bài thơ như đắm hồn mình vào cảm xúc của nhân vật để cùng tự hào với người đời về những chiến tích lịch sử rạng ngời không thể quên được của đất nước ngàn đời.

Ðã từng phen vì nước gian lao

Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây ….

Những câu thơ đậm tình yêu nước từ thể thơ cổ điển ước lệ công thức nhưng đã biến thành những hình ảnh truyền tải thêm sắc nét, chân thực khắc họa sâu đậm vấn đề tầm vóc thời đại. Với những hình ảnh mạnh mẽ, tự cường cao của dân tộc, ngọn cờ nước Đại Cồ Việt ấy như luôn bay phấp phới trong trái tim đầy tự hào của mỗi người con khi nhắc về tổ quốc thiêng liêng.

Đây cũng là sự khuyến khích đến người con để hoàn thành trách nhiệm to lớn nhưng không hề trở thành gánh nặng áp lực vì nơi ấy có tình yêu đất nước, sẵn sàng noi gương như nhiều vị anh hùng để củng cố cho nền độc lập, sự phát triển của đất nước.

Bước sang khổ 3 đậm ý nghĩa qua những dòng thơ còn lại lời ông dặn con chính là luôn phải là chính mình- một con người có học thức, sống hiên ngang với “Chí làm trai” vẫn còn thật đúng đắn và là mẫu mực tiêu chuẩn lưu lại cho người đời sau. Và đặc biệt xoáy sâu vào sự kích thích lòng yêu nước nơi người con, phải nuôi một mối thù truyền kiếp của dân tộc,luôn trong thế chủ động tìm cơ hội để đánh đuổi giặc cướp nước, chớ dại dột để mất nước dễ dàng, mù quáng.

Hơn hết thảy vẫn là niềm tin vào thế hệ trẻ và tương lai của đất nước mãnh mẽ có thể làm nên những điều to lớn cho sự vững bền của dân tộc, làm dù có ít những vẫn suy xét hành động quyết liệt để cho thế hệ cha ông dù có nằm xuống vẫn cảm thấy không nuối tiếc.

Hai chữ nước nhà là một trong những bài thơ hay nhất của tác giả,sự mượn lời thông minh trước dòng suy nghĩ đúc kết thống thiết, đau đáu của nhà yêu nước Nguyễn Phi Khanh trong dòng xúc cảm khi đứng trước hoàn cảnh li biệt với Tổ Quốc, thực trạng mất nước hiện thời, để gieo vào đó lòng yêu nước bất diệt, tạo nên sức sống vĩnh cửu cho đất nước là trách nhiệm của các thế hệ trẻ.

Có thể nói đây là một Bài thơ tuyên truyền yêu nước, không khác gì những bài thơ về cách mạng trong phong trào thơ Mới hiện nay.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 7

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 8

Bài thơ Hai chữ nước nhà là những cảm xúc chân thành, mãnh liệt, vừa gợi tả tâm trạng khắc khoải, đau thương của nhân vật lịch sử, vừa bộc lộ cảm xúc, khích lệ lòng yêu nước, ý chí cứu nước của đồng bào.Mở đầu bài thơ, tác giả thuật dựng lại hoàn cảnh mà hai cha con chia li, đó là ở biên giới hoang vu của tổ quốc:

Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm

Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu

Bốn bề hổ thét chim kêu

Ðoái nom phong cảnh như khêu bất bình

Không thể biết đây là cảnh buồn hay chính là người đang buồn. Nguyễn Phi Khanh bị đưa sang Tàu, đây là chuyến đi mà ông hiểu rằng sẽ là một đi không trở lại, có lẽ đây là lần cuối cùng mà ông có thể đứng trên mảnh đất quê hương mình mà nói chuyện với con trai. Chính vì vậy mà:

“Hạt máu nóng” ở đây phải chăng là giọt nước mắt đau đớn như giọt máu rỉ ra từ lòng của một người cha. Hình ảnh “thân tàn lần bước dặm khơi” cho người đọc ấn tượng về dáng đi tiêu điều, xơ xác đau thương của người cha già đang đứt từng khúc ruột vì quê hương. Người cha ấy trong cơn đau đớn, chỉ còn biết khuyên bảo con những lời sau cuối:

Người cha ấy trong lòng còn ôm bao nhiêu là nỗi canh cánh không thể nào dứt ra được, trong lòng ông còn đang đớn đau muôn phần bởi:

Nơi đô thị thành tung quách vỡ

Chốn dân gian bỏ vợ lìa con

Làm cho xiêu tán hao mòn

Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!

Thảm vong quốc kể sao cho xiết

Trông cơ đồ nhường xé tâm can

Ngậm ngùi khóc đất giời than

Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!

Tất cả những điều mà Nguyễn Phi Khanh còn đau đáu lúc ra đi chỉ có về nòi giống, cơ đồ dân tộc, ông đau đớn xiết bao trước cảnh nhân dân lầm than, bị chà đạp, chịu khổ đau, xót xa biết nhường nào khi thấy cơ đồ cố quốc sụp đổ, điêu tàn. Và có lẽ không chỉ có nỗi đau nơi con người, lòng thù hận nhuốm lên cả thiên nhiên cảnh vật:

Khói Nùng lĩnh như xây khối uất

Sóng Long giang nhường vật cơn sầu

Con ơi! càng nói càng đau…

Câu hỏi tu từ gói gọn hết tất cả những trăn trở của ông về nước nhà, ông lo lắng cho vận mệnh quốc gia, dân tộc, lo lắng cho cả thế hệ sau và cả cho lịch sử nòi giống. Nhưng hoàn cảnh của ông lúc này chỉ có thể:

Vì đem hết cơ ngơi mong muốn đặt lên vai con nên người cha ấy mong đợi ở con rất nhiều, ông muốn răn con những điều hay lẽ phải trong giây phút chia li này để hướng con đến lí tưởng mục đích tốt đẹp:

Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây

Kìa Trưng nữ ra tay buồm lái

Phận liễu bồ xoay với cuồng phong

Giết giặc nước, trả thù chồng

Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi

Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến

Vì giống nòi quyết chiến bao phen

Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên

Gươm reo chính khí nước rền dư uy

Coi lịch sử gươm kia còn tỏ

Mở dư đồ đất nọ chưa tan

Giang san này vẫn giang san

Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?

Nguyễn Phi Khanh đưa ra lịch sử nước nhà nhắc con đến mối thù xâm lăng, đến những tướng lính đã ghi danh sử sách cốt để nhắc nhở trách nhiệm của con đối với giang sơn xã tắc:

Con nay cũng một người trong nước

Phải nhắc câu Gia, Quốc đôi đường

Làm trai hồ thỉ bốn phương

Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng

Thời thế có anh hùng là thế

Chữ vinh hoa xá kể làm chi!

Mấy trang hào kiệt xưa kia

Hy sinh thân thế cũng vì nước non

Con đương độ đầu xanh tuổi trẻ

Bước cạnh tranh há dễ nhường ai?

Phải nên thương lấy giống nòi

Đừng tham phú quí mà nguôi tấc lòng

Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục;

Thân tự do chiên chúc mà vinh

Con ơi nhớ đức sinh thành

Sao cho khỏi để ô danh với đời

Chớ lần lữa theo loài nô lệ

Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai

Đem thân đầy đọa tôi đòi

Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?

Sống như thế, sống đê, sống mạt

Sống làm chi thêm chật non sông!

Thà rằng chết quách cho xong

Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!

Huống con cũng học hành khôn biết

Làm giống người phải xét nông sâu

Tuồng chi gục mặt cúi đầu

Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành!

Nỗi tâm sự đinh ninh dường ấy

Cha khuyên con có bấy nhiêu lời

Con ơi! con phải là người

Thì con theo lấy những lời cha khuyên

Cha nay đã muôn nghìn bi thảm

Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau!

Chân mây mặt cỏ rầu rầu

Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!

Lời cha dặn khắc xương để dạ

Mấy gian lao con chớ sai nguyền

Tuốt gươm thề với vương thiên

Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu

Gan tráng sĩ vững sau như trước

ChГ­ nam nhi lấy nЖ°б»›c lГ m nhГ

Tấm thГўn xбє» vб»›i san hГ

Tượng đồng bia đá họa là cam công

Nữa mai mốt giết xong thù nghịch

Mũi long tuyền lau sạch màu tanh

Làm cho đất rộng trời kinh

Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày!

Những điều mà ông khuyên con vô cùng sâu sắc, chân quý, đó đều là những đạo lí để nên người: yêu nước, thương nòi, không tham vinh hoa, biết căm thù số kiếp nô lệ, nuôi chí lớn thống nhất non sông. Đó có lẽ là tất cả những điều ông mong ở người con trai của mình:

Nghĩa vụ đó con hay chăng tá?

Tính toán sao vẹn cả đôi đường

Cha dù đất lạ gởi xương

TrГґng vб»Ѓ cб»‘ quб»‘c khб»Џi thЖ°ЖЎng hб»“n giГ

Con ơi! Hai chữ nước nhà!

Thời khắc chia li cuối cùng đã đến, sau tất cả, khi hình ảnh hai cha con đã mờ vào dặm xa, vẫn còn vẳng nghe “hai chữ nước nhà”. Bốn chữ đơn thuần mà gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Đọc “Hai chữ nước nhà” ta cảm động biết bao trước tình cảnh của hai cha con cùng lí tưởng, tình cảm cao đẹp của những con người lịch sử đáng khâm phục.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 7

Lấy cảm hứng từ việc ông nghĩ tớ lời ông Nguyễn Phi Khanh dặn ông Nguyên Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu, Á Nam Trần Tuấn Khải đã sáng tác bài thơ “Hai chữ nước nhà”. Bài thơ đã mượn câu chuyện lịch sử có sức gợi cảm để bộc lộ cảm xúc, khích lệ lòng yêu nước, ý chí cứu nước của đồng bào.

Thiên nhiên được miêu tả thật u sầu, ảm đạm ở một nơi là chốn ải Bắc, một nơi là cõi trời Nam. Đó là một khung cảnh thiên nhiên hết sức hoang vu, vắng vẻ thậm chí ẩn tàng cả hiểm nguy và là phông nền cho cuộc chia li của hai cha con Nguyễn Phi Khanh:

Chút thân tàn lần bước dặm khơi

“Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước” có lẽ là ẩn dụ cho tình yêu nước hay là tình cha con trong cảm xúc về tình yêu nước trong lời người cha khuyên con:

Với giọng hào sảng xen lẫn xót xa, trong lời mà ông khuyên con trai là nỗi căm thù với quân giặc đã biến tổ quốc, quê hương thành biển lửa:

Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!

Hình ảnh hiện lên rõ ràng về tội ác chất chồng của quân giặc, quân Minh tới gây cho nhân dân biết bao thương đau, làm cho một chốn giang san tan tác tiêu điều khiến cho những bậc trung thần nghĩa sĩ phải đau lòng mà thốt lên:

Trong nỗi thương giống nòi vô hạn, Nguyễn Phi Khanh để lại cho con một mối lo lắng đó là “Lấy ai tế độ đàn sau”, câu hỏi tu từ thiết tha nặng trĩu niềm đau đớn trích từ máu xương của người cha, ông lo cho thế hệ sau, còn đâu giống nòi, còn đâu xã tắc? Ông trải hết tấm lòng này với con đó là vì ông biết mình lần đi này một đi không trở lại, giờ phút chia tay cuối cùng ở chốn biên ải này, ông muốn gửi gắm sự nghiệp, lí tưởng cả đời cho con, muốn con hoàn thành chí lớn của mình:

Ông nhắc cho con nhớ về tổ tiên, về truyền thống dân tộc, về những chiến công của những anh hùng trong lịch sử để khuyên con hãy vì dân, vì nước mà hiểu bản thân cần làm gì:

Đem thân đầy đoạ tôi đòi

Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?

Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!

Thì con theo lấy những lời cha khuyên

Nguyễn Phi Khanh giống như muốn dặn con những lời gan ruột cuối cùng, ông dặn con yêu nước thương nòi, sống có nhân có đức, không tham vinh hoa phú quý, đặc biệt phải biết căm phẫn cái thân nô lệ mà làm sao cho không hổ thẹn với đời. Dặn con xong những lời ấy, cũng là lúc ông phải đi, xa quê hương tổ quốc mãi mãi:

Chốn biên ải đã hoang vu, nỗi sầu muộn của hai cha con lại càng làm cho nó trở nên buồn thảm hơn bao giờ hết và chân bước đi, đầu vẫn muốn ngoảnh lại mói với con những lời sau cuối, muốn con khắc sâu những lời dặn dò ấy của mình để nuôi chí đánh đuổi xâm lăng, lấy lại tự do độc lập cho giang sơn:

Tượng đồng bia đá hoạ là cam công

Đó chính là “nghĩa vụ” của một con người ở đời, nghĩ vụ với “hai chữ nước nhà”. Câu thơ cuối như nghĩa lời vang vọng cuối cùng của một tấm lòng yêu nước thiết tha nồng đượm mà sao nghe xót xa, đau nhói, gây ấn tượng mãi cho trái tim bạn đọc. Đọc “Hai chữ nước nhà” có cảm nhận như trong lòng ta trào dâng một tình yêu nước đang ngủ yên trong sâu thẳm trái tim.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 5

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 6

Trong rất nhiều những sáng tác văn chương được lưu hành công khai trên văn đàn hợp pháp ba mươi năm đầu thế kỉ XX, bài thơ: Hai chữ nước nhà nhận được sự đón chào nồng nhiệt của công chúng độc giả. Bởi lẽ sáng tác đó đã nói hộ tấm lòng và trái tim yêu nước của người dân Việt Nam lúc bấy giờ.

Là người có trái tim yêu nước sôi nổi, thiết tha, Trần Tuấn Khải xót xa tận đáy lòng trước hiện tình đau thương của đất nước. Để giãi bày tâm sự của mình, ông hoá thân vào các nhân vật lịch sử. Tâm trạng phẫn uất, đau thương của các nhân vật lịch sử trước cảnh nước mất nhà tan cũng chính là tâm trạng của ông. Tình cảm ấy đã trở thành nguồn cảm hứng chân thành và xúc động cho mạch thơ yêu nước của Trần Tuấn Khải tuôn chảy vào lòng người.

Bài thơ Hai chữ nước nhà nằm trong tập Bút quan hoài, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1924. Lấy đề tài lịch sử thời quân Minh xâm lược, Trần Tuấn Khải đã chọn một khoảnh khắc lịch sử đặc biệt để câu chuyện thêm phần xúc động. Đó là giờ phút chia li vĩnh biệt của hai nạn nhân vong quốc: cha con ông Nguyễn Phi Khanh. Cảnh tình ấy khiến lời dặn dò của người cha hoá thành lời trăng trối thấm đầy máu và nước mắt.

Tâm trạng phẫn uất đau thương cùng với lời trăng trối thấm máu và lệ được nhà thơ diễn tả bằng một lời thơ lâm li, thống thiết của thể song thất lục bát nên có sức rung động và truyền cảm mạnh mẽ.Cuộc chia li của hai cha con diễn ra ở chốn ải Bắc, nơi tận cùng của đất nước.

Người cha li biệt gia đình, quê hương xứ sở để lê tấm thân tàn tới chốn lưu đày biệt xứ. Người con quay trở lại quê hương đất nước mình nhưng tình cảnh cũng chua xót không kém cha: cũng chỉ là một nạn nhân vong quốc! Trong tâm trạng u uất của hai cha con, cảnh vật nhuốm một màu thê lương, tang tóc:

Cõi giời Nam gió thổi đìu hiu,

Và cảnh vật thê lương tang tóc càng làm tăng thêm nỗi sầu muộn, buồn đau trong lòng người:Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình.Bốn câu song thất lục bát với những từ ngữ, hình ảnh cũ mòn, ước lệ mà lại có sức gợi cảm, tạo được không khí đau thương của cả thời xưa và nay!

Trong không khí tang tóc đau thương của đất nước, tình cảnh của hai cha con càng éo le, chua xót: người con những muốn đi theo cha để làm tròn đạo hiếu, người cha phải dằn lòng khuyên con quay trở lại để lo tính việc trả thù nhà, đền nự nước. Tình cha con tuy thật da diết, nhưng nghĩa nước còn sâu đậm hơn nhiều! Tình nhà nghĩa nước giằng xé, khiến cả hai cha con đều tột cùng đau đớn, xót xa:

Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước,

Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên

Trong bối cảnh không gian và tâm trạng như thế, lời trăng trối của người cha thật thiêng liêng, xúc động và có sức truyền cảm mạnh mẽ, khiến người con phải khắc cốt ghi xương. Để lời trăng trối của mình tăng thêm sức mạnh, người cha chỉ ra cho người con tội ác tày trời của quân giặc và hiện tình bi thảm của đất nước:

Than vận nước gặp khi biến đổi,

Để quân Minh thừa hội xâm lăng,

Bốn phương khối lửa bừng bừng

Nơi đô thị thành tung quách vỡ,

Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con,

Làm cho xiêu tán hao mòn,

Lời thơ tràn đầy sự phẫn uất và xót đau da diết, làm xúc động tận tâm can người đọc. Người đọc những năm 20 của thế kỉ XX cũng là những nạn nhân vong quốc, dễ dàng cảm nhận nỗi đau của cha con ông Nguyễn Phi Khanh như chính nỗi đau của mình. Sau khi miêu tả hiện tình đất nước và tội ác của quân giặc, người cha trực tiếp bày tỏ nỗi lòng của mình:

Thảm vong quốc kể sao xiết kể,

Trông cơ đồ nhường xé tâm can,

Ngậm ngùi đất khóc giời than,

Thương tâm nòi giống lầm than nỗi nàyỊ

Khối Nùng Lĩnh như xây khối uất,

Sông Hồng Giang nhường uất cơn sầu,

Con ơi! Càng nói càng đau

Lấy ai té độ đàn sau đó mà?

Tám câu song thất lục bát cũng là tám câu cảm thán với những từ ngữ, hình ảnh đầy cảm xúc: kể sao kể xiết, xé tâm can, ngậm ngùi, khóc, than, thương tâm… đã có tác dụng diễn tả sâu sắc, mạnh mẽ nỗi đau đớn, xót xa trong tâm trạng người cha.Dường như người cha đã quên đi nỗi đau và số phận của bản thân mình, ông chỉ nghĩ đến nỗi đau thương và số phận của cả đất nước, dân tộc.

Một tấm lòng như thế, thật xiết bao cảm phục! Từ trong đau thương, nhân vật trữ tình vụt lớn lên. Và lòng nhiệt tình yêu nước của ông còn làm rung động cả ngàn đời sau.Nhiệt tình ấy được kí thác vào lời trao gửi cho con, cho cả thế hệ sau: Con ơi! Con nhớ lấy lời cha khuyên.

Câu chuyện của người cha xưa hay chính nỗi lòng của nhà thơ luôn trăn trở về đất nước? Sự trăn trở ấy đã làm nên một giọng thơ tâm huyết đầy bi phẫn có tác dụng rung vào dây đàn yêu nước thương nòi của mọi lòng người, (Xuân Diệu).

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 5

Những năm 20 của thế kỉ trước, những bài thơ hát theo làn điệu dân ca, những bài thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn… được truyền bá sâu rộng trong dân gian. Những gương anh hùng được Trần Tuấn Khải nói đến có giá trị khích lệ tinh thần yêu nước, nói lên nỗi đau nhục nô lệ lầm than, bày tỏ khát vọng độc lập tự do không bao giờ nguôi.

Đoạn trích bài thơ “hai chữ nước nhà” gồm có 36 câu thơ song thất lục bát được Trần Tuấn Khải sáng tác vào năm 1926, in trong tập “Bút quan hoài”. Trong lời đề từ, nhà thơ nói rõ cảm hứng của mình là “nghĩtới lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu”. Qua đó,ta cảm nhận được “Hai chữ nước nhà” là bài thơ mượn đề tài lịch sử để thể hiện cảm hứng yêu nước, kích thích lòng yêu nước cho quốc dân đồng bào khi đang làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp.

Lời đề từ đưa chúng ta trở về những năm tháng đau thương của đất nước và dân tộc. Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, dìm đất nước ta vào trong máu lửa, chúng ta bắt cha con ông Hồ Quý Li và một số đại thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh giải về Tàu. Có thể nói bài thơ là lời cha dặn con về “Hai chữ nước nhà”, về mối thù nhà nợ nước.

Trong phần đầu tiên của đoạn trích, tác giả đã gợi lên cảnh đất nước đau thương dưới ách thống trị của giặc Minh tàn bạo. Những hình ảnh nhân hóa rất gợi: “mây sâu ảm đạm”, “gió thảm đìu hiu” “hổ thét chim kêu”… Cảnh vật núi sông như mang nỗi đau con người. Cả một không gian rộng lớn từ “chôn ải Bắc” đến “chốn ải Nam’’ và “khắp bốn bể” đều thấm máu và nước mắt của hàng triệu con người:

Trước thảm cảnh “vong quốc”, người cha già trên con đường đi đày càng ngổn ngang nỗi niềm. Các chữ, các hình ảnh như: “bất bình”, “hạt máu nóng thấm quanh hồn nước”, “tầm tã châu rơi” đã nói lên một cách cảm động “di hận” của người anh hùng thất thế, một bi kịch lịch sử của cha con Phi Khanh và Nguyễn Trãi. Câu thơ như thấm đầy lệ, giọng thơ thiết tha não nùng:

Nguyễn Trãi có câu thơ chữ Hán “Anh hùng di hận kỉ thiên niên”, nghĩa là người anh hùng để lại mối hận đến nghìn năm. Phần đầu bài “hai chữ nước nhà”, Trần Tuấn Khải đã nói lên thật xúc động nỗi đau nước mất nhà tan, nỗi “di hận” của người anh hùng thất thế Nguyễn Phi Khanh.

Phần thứ hai là những lời thống thiết cha dặn con. Nhớ “hai chữ nước nhà” là nhớ về dòng giống Hồng Lạc, là nhớ về lịch sử trường tồn “mấy ngàn năm” của dân tộc, là nhớ giang sơn “giời Nam riêng một cõi này”, là nhớ đến bao “anh hùng hiệp nữ” như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn… Nhớ “Hai chữ nước nhà” là để nâng cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc:

Giọng thơ trở nên bừng bừng căm giận khi cha dặn con hãy khắc cốt ghi tâm những tội ác tày trời của quân “cuồng Minh”:

Những từ ngữ hình ảnh “khói lửa bừng bừng”, “xương rừng máu sông”, “thành tung quách vỡ”, “đất khóc giời than”, “xây khối nát”, “vật cơn sầu”… tuy mang tính ước lệ, nhưng trong văn cảnh vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ vì đã gợi lên bao nỗi nhục mất nước, lòng căm thù đối với quân xâm lược. Đặc biệt đoạn thơ của Trần Tuấn Khải đã đem đến liên tưởng cho người đọc về “Bình Ngô đại cáo”đoạn nói về tội ác giặc Minh tàn bạo:

Người cha bị cùm trói, bị giải sang Tàu, nhìn cơ đồ giang san mà đau đớn như xé tâm can. Càng đau đớn, ông càng lo lắng cho vận mệnh của đất nước, tương lai của giống nòi. Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ cất lên vô cùng thống thiết:

Vần thơ như chứa đầy lệ, có lời than, có tiếng nức nở. Lời cha dặn con cũng là lời non nước. Tám câu cuối trong phần cuối bài thơ vừa nói lên bi kịch của người cha: “tuổi già sức yếu”, “sa cơ đành chịu bó tay”… vừa trông cậy vào con để trả thù, rửa hận nước: “Giang san gánh vác sau này cậy con”… Cha thiết tha dặn con lần cuối: “Vì nước” hãy “nhớ tổ tông”, hãy đem máu đào mà hi sinh chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Đó là “hai chữ nước nhà” đó là những lời huyết lệ:

“Hai chữ nước nhà” là một bài thơ hay và cảm động. Nói lên một cách hàm súc cô đọng nỗi đau, nỗi nhục mất nước của dân tộc ta trong thế kỉ XV và căm thù đối với giặc Minh cướp nước. Sâu xa hơn, bài thơ đã khích lệ lòng yêu nước của đồng bào, khêu gợi khát vọng độc lập tự do của dân tộc khi đang làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp. “Hai chữ nước nhà” vừa là lời cha dặn con, vừa là lời Tổ quốc kêu gọi.

Từ ngôn ngữ, hình ảnh đến giọng thơ, vần thơ, từ những cặp câu thất ngôn đối nhau đến những hình ảnh nhân hóa, tượng trưng ước lệ đều cho thấy một bút pháp nghệ thuật rất già dặn, giàu bản sắc của Á Nam. Trong thời Pháp thuộc, bài thơ “Hai chữ nước nhà” đã làm lay động hàng triệu con người. Ngày nay, nó vẫn làm ta xúc động.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 3

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 4

Trần Tuấn Khải (1895 – 1983), bút hiệu Á Nam quê ở làng Quang Xán, xã Mĩ Hà, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định. Là một nhà Nho tiến bộ, ông thường mượn đề tài lịch sử hoặc những biểu tượng nghệ thuật bóng gió để kín đáo bộc lộ nỗi đau mất nước, thái độ căm giận bọn cướp nước cùng bè lũ tay sai và bày tỏ khát vọng độc lập, tự do của mình, đồng thời động viên, khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào.

Thơ Trần Tuấn Khải được truyền tụng rộng rãi trong giai đoạn đầu thế kỉ XX, nổi tiếng nhất là những bài hát theo làn điệu dân ca như Gánh nước đêm, Anh đi anh nhớ, Hai chữ nước nhà được viết dưới hình thức thơ lục bát và song thất lục bát.

Đoạn trích trong sách giáo khoa gồm 36 câu là phần mỗ đầu của bài thơ dài 101 câu, nội dung kể lại cuộc chia tay đầy ý nghĩa của cha con Nguyễn Trãi đã được ghi vào lịch sử chống ngoại xâm đau thương và oanh liệt của dân tộc. Trong cảnh ngộ đau thương, Nguyễn Phi Khanh gạt lệ khuyên con trai bao điều hữu ích.

Đất nước thịnh suy là lẽ thường tình. Làm trai phải biết nuốt hận, chờ thời cơ để trả nợ nước, báo thù nhà. Người cha già lực bất tòng tâm, đành gửi trọn niềm tin vào con trai, mong con nối chí lớn của mình, tiếp tục sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng đất nước. Đoạn trích có thể chia làm ba phần:

Phần 1 : Từ đầu… đến lời cha khuyên: Tâm trạng đau đớn của người cha trong cảnh ngộ éo le;

Phần 2: Tiếp theo… đến sau đó mà: Hiện tình đất nước trong cảnh đau thương, tang tóc.

Phần còn lại : Sự bất lực của người cha và lời trao gửi tâm huyết dành cho con.

Sức truyền cảm mạnh mẽ của bài thơ toát lên từ nội dung yêu nước. Tác giả đã tái hiện khá đầy đủ khung cảnh buổi chia li và tâm trạng đau thương, khắc khoải cua hai cha con Nguyễn trãi. Điều đó giống như “gảy đúng vào dây đàn yêu nước thương nòi của mọi lòng người”. (Xuân Diệu).

Có thể coi những lời khuyên của Nguyễn Phi Khanh trong bối cảnh nước mất, nhà tan là lời trăn trối của cha với con trong giờ vĩnh biệt. Các câu cảm thán đã tạo nên âm hưởng lâm li, thống thiết. Thể thơ song thất lục bát rất phù hợp với việc diễn tả tâm trạng nặng trĩu buồn thương của nhân vật.

Nội dung bài thơ không chỉ đơn thuần mang tính chất hoài cổ mà nó chất chứa tâm sự phẫn uất, đau thương của tác giả trước tình cảnh nước mất, nhà tan trong hiện tại. Vì vậy, nó làm rung động lòng người và được truyền tụng rộng rãi, đặc biệt là trong tầng lớp trí thức, thanh niên và học sinh yêu nước. Đốn câu thơ đầu là khung cảnh cuộc chia li:

Cuộc chia tay giữa hai cha con diễn ra ở biên ải phía Bắc vốn là nơi ảm đạm, heo hút, bốn bề rừng núi trập trùng, mây sâu, gió thảm, hổ thốt, chim kêu… Đối với cuộc ra đi không có ngày trở lại của Nguyễn Phi Khanh thì đây tựa điểm dừng chân cuối cùng để rồi vĩnh viễn xa lìa Tổ quốc, quê hương và những người ruột thịt. Tâm trạng đau đớn của kẻ bị lưu đày biệt xứ đã phủ lên cảnh vật một màu tang tóc, thê lương và ngược lại, cảnh vật ấy càng như giục Cơn sầu trong lòng người vốn nặng tình non nước.

Tình cảm yêu nước của tác giả đã biến những hình ảnh ước lệ và từ ngữ sáo mòn trong thơ cổ điển thành chân thực và cảm động. Dường như tác giả được trực tiếp chứng kiến cuộc chia tay đau đớn ấy và hóa thân vào cả kẻ ở lẫn người đi để thấu hiểu, đồng cảm với tâm trạng nhân vật, từ đó viết nên những dòng thơ máu hòa nước mắt:

Trông con tầm tã châu rơi,

Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên.

Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định,

Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay.

Anh hùng hiệp hữ xưa nay kém gì!

Hoàn cảnh của cha con Nguyễn Trãi thật éo le: cha bị giặc bắt giải sang Tàu, không mong ngày trở lại; con muốn đi theo để phụng dưỡng cha già cho trọn đạo hiếu, nhưng cha dằn lòng khuyên con trở lại để mưu tính việc đền nợ nước, trả thù nhà. Đối với cả hai cha con, nghĩa nước, tình nhà đều thiêng liêng sâu đậm.

Trước cảnh nước mất, nhà tan, cha con li biệt, nỗi đau đớn xót xa trong lòng họ càng tăng lên gấp bội.Nguyễn Phi Khanh  khuyên con những điều tâm huyết. Trước hết, ông nhắc nhở con về dòng giống cao quý của dân tộc Việt : Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định.

Sau đó phân tích cho con hiểu về quy luật của lịch sử là các triều đại phong kiến ắt phải trải qua các giai đoạn hưng thịnh và suy vong nhưng gương anh hùng, hiệp nữ cứu nước thì xưa nay không hiếm và không kém gì những gương sáng trong lịch sử phong kiến phương Bắc. Để bảo vệ đất nước, người phụ nữ còn làm nghĩa hiệp, huống chi các bậc nam nhi?!

Nguyễn Phi Khanh lấy bốn chữ Giang sơn làm trọng để giải thích cho Nguyễn Trãi – người con mà ông yêu quý và tin tưởng nhất. Trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế, lời khuyên của người cha có ý nghĩa như một lời trăng trối. Nó thiêng liêng, xúc động vô cùng, khiến người con phải khắc cốt ghi xương.

Tác giả hóa thân vào Nguyễn Phi Khanh, người bị biệt xứ lưu đày, tâm tư trĩu nặng nỗi lo đời để miêu tả tình hình bi thảm của đất nước và lên án tội ác trời không dung đất không tha của quân xâm lược:

Thân vận nước gặp khi biến đổi,

Những câu thơ này xoáy mạnh vào nỗi nhục mất nước trong tâm can người đọc đương thời. Giặc Pháp bây giờ nào có khác chi giặc Minh thuở ấy, cũng đang gây ra bao cảnh đau thương tang tóc trên đất nước ta. Xen giữa những dòng tâm tư đắng cay, chua xót là những lời cảm thán ngậm ngùi, bi thương:

Những động từ, tính từ có sức gợi cảm cao như: kể sao xiết kể, xé tâm can, thương tâm, lầm than đã phản ánh mức độ bi thảm của thực trạng mất nước lúc bấy giờ. Gây xúc động nhất là hình ảnh: Ngậm ngùi đất khóc giời than, quả là “tình cảnh cảm sầu, kể sao cho xiết” đúng như nhận định của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.

Tâm sự đau đớn của Nguyễn Phi Khanh được thể hiện trong bài thơ là nỗi đau lớn lao, vượt lên số phận cá nhân, trở thành nỗi đau non nước. Mỗi lời nhắn nhủ con là một tiếng than, tiếng nấc nghẹn ngào, cay đắng. Giọng thơ bi phẫn vốn là sở trường của Trần Tuấn Khải rất phù hợp với việc diễn tả tâm trạng khắc khoải, buồn thương của nhân vật Nguyễn Phi Khanh. Do đó bài thơ có sức lay động lòng người, nhất là đối với những tâm hồn đồng điệu đương thời.

Trong những giây phút cuối cùng được sống bên con, Nguyễn Phi Khanh đã đặt ra cho Nguyễn Trãi một câu hỏi lớn, cũng là nỗi niềm băn khoăn không lúc nào nguôi trong lòng ông:

Khói Nùng Lĩnh như xây khối uất,

Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu,

Con ơi! Càng nói càng đau,

Lấy ai tế độ đàn sau đó mà ?

Tác già mượn hình ảnh khói núi Nùng, sóng sông Nhị (sông Hồng còn gọi là Nhị Hà) biểu tượng của kinh đô nước Đại Việt để thể hiện mức độ căm giận quân xâm lược của mình, cơ nghiệp lớn lao vững chắc của ông cha, tổ tiên gây dựng tự bao đời, nay con cháu há lại để rơi vào tay giặc dữ? Nói đến tình cảnh “lực bất tòng tâm” của Nguyễn Phi Khanh, ngòi bút tác giả như đẫm nước mắt:

Cha xót phận tuổi già sức yếu,

Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,

Thân lươn bao quản vũng lầy,

Giang sơn gánh vác sau này cậy con.

Con nên nhớ tổ tông khi trước,

Đã từng phen vì nước gian lao.

Bắc Nam bờ cõi phân mao,

Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây…

Tất cả những lời nói trên của Nguyễn Phi Khanh đều là lời gan ruột, tâm huyết trao lại cho con. Gánh nặng sơn hà, xã tắc đã uỷ thác cho thế hệ sau với tất cả niềm tin tưởng và hi vọng. Lời khuyên của cha kích thích, hun đúc chí nam nhi của con, động viên con hãy tỏ ra xứng đáng với sự nghiệp oanh liệt của tổ tông đã bao phen vì nước.

Hai chữ nước nhà là bài thơ nổi tiếng của Á Nam Trần Tuấn Khải. Tác giả tái hiện cuộc chia tay giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong bối cảnh nước mất nhà tan để thông qua đó bộc lộ cảm xúc của mình, đồng thời khích lệ lòng yêu nước, ý chí cứu nước của đồng bào ta. Tình cảm sâu đậm, mãnh liệt đối với nước nhà của tác giả đã tạo nên sức sống lâu dài cho bài thơ.

Nhà thơ Xuân Diệu nhận xét rất đúng: “Hai chữ nước nhà được xem là bài thơ hay nhất đã tổng hợp các mô típ văn thơ yêu nước của Á Nam, từ giọng bi tráng đến giọng mỉa mai, từ chất căm hờn đến lời mắng mỏ, từ sự dỗi tức nguyền rủa bọn Việt gian chết tiệt đến nỗi đau thương ôm lấy bà mẹ giang san”.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 2

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 3

Tác giả : Á Nam Trần Tuấn Khải (1895 – 1983), bút hiệu Á Nam quê ở làng Quang Xán, xã Mĩ Hà, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định. Á Nam Á Nam Trần Tuấn Khải thường mượn những chuyện lịch sử để giãi bày tấm lòng yêu nước, nỗi đau mất nước, qua đó mà thức tỉnh tinh thần của đồng bào.

Bài thơ nổi bật và để lại nhiều ấn tượng nhất của tác giả có lẽ là ” Hai chữ nước nhà”. Bởi lẽ sáng tác đó đã nói hộ tấm lòng và trái tim yêu nước của người dân Việt Nam lúc bấy giờ.

Hai chữ nước nhà là bài thơ mở đầu cho tập Bút quan hoài I (xuất bản năm 1924). Bài thơ lấy đề tài lịch sử thời quân Minh xâm lược nước ta. Nhà thơ đã mượn lời của người cha là Nguyễn Phi Khanh dặn dò con là Nguyễn Trãi để gửi gắm nỗi lòng của mình. Đoạn trích gồm 36 câu thơ thể song thất lục bát.

Đây là đoạn trích trong tập “Bút Quan hoài” sáng tác vào năm 1926. Để phân tích cụ thể tác phẩm chúng ta có thể chia bài thơ thành ba phần. Phần đầu: Có 8 câu là cảnh chia li ở nơi biên giới, giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi diễn ra rất ảm đạm, thê lương.

Phần thứ hai: gồm 20 câu tiếp theo là lời người cha kể về dòng giống Lạc Hồng, về lịch sử trường tồn mấy ngàn năm của dân tộc và những mất mát đau thương đất nước đang phải gánh chịu. Phần thứ ba:gồm 8 câu, tác giả đã để cho người cha dặn dò người con, là nói lên niềm tin tha thiết về đất nước.

Mở đầu bài thơ gợi nên khung cảnh nơi chia ly không thể trở về của người cha, tạo không khí bao trùm cả bài thơ:

Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm

Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu

Bốn bề hổ thét chim kêu

Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước

Chút thân tàn lần bước dậm khơi

Mở đầu, tác giả đã gợi lên cảnh đất nước đau thương dưới ách thống trị của giặc ngoại xâm. Những hình ảnh nhân hóa rất điêu luyện : “mây sâu ảm đạm”, “gió thảm đìu hiu” “hổ thét chim kêu”… Cảnh vật núi sông như mang nỗi đau con người. Cả một không gian rộng lớn từ “chôn ải Bắc” đến “chốn ải Nam” và “khắp bốn bể” đều chung một niềm đau với con người nơi đây. Từng câu thơ như thấm đầy nước mắt, giọng thơ thiết tha não nùng: “Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước/ Chút thân tàn lần bước dậm khơi / Trông con tầm tã châu rơi”.

Hình ảnh người cha già với chút thân tàn đang lê bước tới chốn lưu đày khiến người con rất đỗi đau lòng. Hoàn cảnh của cha con Nguyễn Trãi thật éo le, con muốn đi theo để phụng dưỡng cha, nhưng cha dằn lòng khuyên con trở lại để mưu tính việc trả thù nhà, đền nợ nước.

Phần thứ hai là lời dặn từ tâm can của Nguyễn Phi Khanh giành cho Nguyễn Trãi . Nhớ “hai chữ nước nhà” là nhớ về dòng giống Hồng Lạc, là nhớ về lịch sử trường tồn “mấy ngàn năm” của dân tộc, là nhớ giang sơn “giời Nam riêng một cõi này”, là nhớ đến bao “anh hùng hiệp nữ” .., là để nâng cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc. Phải thật khâm phục tác giả đã hóa thân mượn lời bày tỏ nỗi lòng thật tài tình. Nhưng sau đó là những câu thơ bày tỏ bức tranh thê thảm của non sông đất nước, giọng thơ trở nên căm phẫn hơn hết:

Than vận nước gặp khi biến đổi

Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng

Bốn phương khói lửa bừng bừng

Xiết bao thảm hoạ xương rừng máu sông!

Nơi đô thị thành tung quách vỡ

Chốn dân gian bỏ vợ lìa con

Làm cho xiêu tán hao mòn

Thảm vong quốc kể sao cho xiết

Trông cơ đồ nhường xé tâm can

Ngậm ngùi khóc đất giời than

Khói Nùng lĩnh như xây khối uất

Sóng Long giang nhường vật cơn sầu

Tác giả sử dụng tự sự và miêu tả xen lẫn những lời cảm thán để làm nổi bật nỗi đau mất nước nhà tan, tất cả đang chìm ngập trong thảm họa “xương rừng máu sông”, lòng dân căm phẫn. Những từ ngữ hình ảnh “khói lửa bừng bừng”, “xương rừng máu sông”, “thành tung quách vỡ”, “đất khóc giời than”, “xây khối nát”, “vật cơn sầu”… tuy mang tính ước lệ, nhưng trong văn cảnh vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ vì đã gợi lên bao nỗi nhục mất nước, lòng căm thù đối với quân xâm lược.

Ngoài ra tác giả đã sử dụng những động từ, tính từ có sức gợi cảm cao như: “kể sao xiết kể”, “xé tâm can”, “thương tâm”, lầm than” và những hình ảnh gây xúc động “Ngậm ngùi đất khóc giời than” đã phản ánh mức độ bi thảm của thực trạng mất nước lúc bấy giờ. Tám câu cuối cùng là lời kêu gọi, dặn dò của người cha trước lúc từ biệt:

Thay lời cho người cha, Á Nam Trần Tuấn Khải đã viết nên những lời gan ruột, tâm huyết trao lại cho Nguyễn Trãi. Người cha muốn thắp lên trong người con tin yêu của mình ngọn lửa căm thù xâm lăng, ngọn lửa ý chí quyết tâm khôi phục cơ đồ nước nhà. Gánh nặng sơn hà, xã tắc xin uỷ thác cho thế hệ sau này với tất cả niềm tin tưởng và hi vọng .

Mượn xưa để nói nay, mượn người để nói ta vốn là thủ pháp có từ lâu đời trong truyền thống văn học. Á Nam Trần Tuấn Khải đã thành công khi tạo cảm xúc sâu sắc trước tâm sự yêu nước mãnh liệt của người cha, cũng là tâm sự yêu nước mãnh liệt của nhà thơ để tác phẩm của ông mãi đi vào lòng người đọc sau này.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 1

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 2

Trần Tuấn Khải thường mượn những chuyện lịch sử để giãi bày tấm lòng yêu nước, nỗi đau mất nước, qua đó mà thức tỉnh tinh thần của đồng bào. Ở những năm đầu thế kỉ XX, ông là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu với giọng điệu bi tráng, thống thiết. Hai chữ nước nhà là tác phẩm tiêu biểu của ông.

Dưới hình thức song thất lục bát, bài thơ Hai chữ nước nhà để lại một ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc trong lòng người đọc. “Tâm trạng xã hội khoảng 1926 uất ức, bi tráng, điệu lục bát du dương êm hòa không đủ, mà đòi hỏi một điệu thơ song thất lục bát để toát, để thoát, xé nỗi niềm u uất đè nặng tâm hồn” (Xuân Diệu).

Cuộc chia tay cảm động giữa hai cha con Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong bối cảnh nước mất nhà tan trong bài thơ là những khoảnh khắc đặc biệt, có sức lay động lớn đã được Trần Tuấn Khải sử dụng để kí thác tâm trạng, cảm xúc hiện tại, thực của mình. Lời trăng trối của người cha đối với con khi vĩnh biệt trĩu nặng ân tình, nhuốm đậm những đau thương. Tiếng lòng sầu thảm, ai oán kia khi thì trùng điệp dồn nén, khi thì da diết xót xa. Tác giả quả là đã không uổng công chút nào khi lựa chọn âm điệu phong phú của thể thơ song thất lục bát để dồn tả những tiếng lòng ấy.

Có thể hình dung bố cục của văn bản trích Hai chữ nước nhà thành ba phần. Phần 1 (8 câu thơ đầu): diễn tả tâm trạng của người cha trong cảnh ngộ éo le, đau lòng; phần 2 (20 câu tiếp): phác họa tình cảnh đau thương tang tóc của đất nước; phần 3 (8 câu thơ còn lại): xót phận mình bất lực, người cha trao gửi cho con tâm nguyện cứu nước. Đi vào tìm hiểu từng phần ta sẽ cảm nhận được mạch xúc cảm thống thiết, chân thành của bài thơ.

Ở 8 câu thơ đầu, tác giả gợi ra bối cảnh không gian biên ải ảm đạm, hun hút và tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bốn câu đầu là không gian chia li:

Cõi giời nam gió thảm đìu hiu.

Trong cuộc ra đi không có ngày trở lại thì biên ải này chính là điểm mà Nguyễn Phi Khanh vĩnh biệt tổ quốc, quê hương, vĩnh biệt người con thân yêu của mình. Tâm trạng của kẻ sắp ra đi vĩnh viễn phủ lên khung cảnh vốn đã heo hút, ảm đạm một màu tang tóc, thê lương. Tâm sầu, cảnh sầu cũ khơi gợi lẫn nhau thành một mối sầu thảm tái tê, u hoài dằng dặc.

Đoạn thơ này tạo ra không khí chung cho toàn bài, không khí thời cuộc năm xưa (thời Phi Khanh – Nguyễn Trãi) và cũng là không khí của xã hội Việt Nam những năm 20 thế kỉ XX. Bốn câu tiếp đầm đìa máu lệ:

Chút thân tài lần bước dặm khơi,

Giờ phút này đây, cha sẽ ra đi mà chẳng bao giờ về nữa. Đất nước lầm than, cha con li biệt, tình đất nước lớn lao hòa trong tình phụ tử sâu nặng Nguyễn Phi Khanh bị giải sang Tàu. Để làm tròn đạo hiếu với cha già, Nguyễn Trãi muốn đi theo để phụng dưỡng. Nhưng Phi Khanh gạt tình riêng, dằn lòng khuyên con trở lại để trả thù nhà, đền nợ nước. Người sắp ra đi vĩnh viễn thường nói những lời gan ruột, những lời mà người còn sống phải khắc cốt ghi xương.

Tấm lòng đối với đất nước của người cha thật cảm động. Ở những câu thơ tiếp theo trong phần 2 tác giả đã hóa thân vào người trong cuộc li tan để phác ra tình cảnh đau thương của đất nước lầm than nô lệ. Trong đó tác giả sử dụng cả tự sự và miêu tả xen lẫn những lời cảm thán để làm nổi bật nỗi đau mất nước nhà tan, tất cả đang chìm ngập trong thảm họa “xương rừng máu sông”; uất hận sầu đau đang ngùn ngụt ngút trời:

Trông cơ đổ nhường xé tâm can,

Nỗi đau ở đây là một nỗi đau lớn, vượt lên nỗi đau riêng để thành nỗi đau cao cả, thiêng liêng của cả đất nước, giống nòi. Sự lớn lao ấy được diễn tả bằng hàng loạt các hình ảnh mang tầm vóc vĩ mô: vong quốc, cơ đồ, đất khóc, giời than, nòi giống. Dòng xúc cảm mãnh liệt thống thiết biểu hiện qua những từ ngữ diễn tả tình cảm ở cung bậc mạnh, bi thiết: kể sao kể xiết, xé tâm can, ngậm ngùi, khóc than, thương tâm.

Mỗi dòng thơ là một tiếng kêu than đứt ruột, đầy những hờn căm, bi phẫn. Chẳng đủ nước mắt để khóc than cho những đớn đau đang tràn ngập giang sơn, đắng cay đành nuốt sâu trong dạ, người cha nhắn nhủ tâm huyết lại cho con:

Nói phận mình bất lực để ủy thác tất cả cho con, cha “tuổi già sức yếu”, lại gặp cơn nguy nan, đành uất hận, tủi hờn mà bó tay. Khơi gợi lại truyền thống kiên cường bất khuất của tổ tiên, người cha muốn thắp lên trong người con tin yêu của mình ngọn lửa căm thù xâm lăng, ngọn lửa ý chí quyết tâm khôi phục cơ đồ nước nhà và là cả niềm hi vọng lớn vào con trước khi đi mãi. Lời trao gửi nặng tựa Thái sơn. Nước mất thì nhà cũng tan, thù nhà chỉ có thể trả được khi thù nước đã rửa sạch. Nguyễn Phi Khanh muốn con mình biến nỗi đau mất cha thành nỗi hận mất nước.

Mượn xưa để nói nay, mượn người để nói ta vốn là thủ pháp có từ lâu đời trong truyền thống văn học. Trần Tuấn Khải đã rất thành công khi lựa chọn chuyện chia li giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi để gửi gắm tâm sự, nỗi đau mất nước nhằm khơi gợi tinh thần yêu nước thương nòi khi non sông đang bị giày xéo bởi gót giày thực dân.

Bằng tình cảm sâu đậm, mãnh liệt, với một giọng điệu thống thiết, thán ca, tác giả của Hai chữ nước nhà đã thực hiện bổn phận, sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ yêu nước. Thơ ông thôi thúc lòng người, khích lệ mọi người tranh đấu cho giang sơn độc lập, tự do.

Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải số 1

Tác phẩm đã hâm nóng tinh thần yêu nước tha thiết trong mỗi con người, càng đọc càng thấy thấm thía.

Đăng bởi: Đình Huấn

Từ khoá: 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải hay nhất

11 Tác Phẩm Ngôn Tình Hay Nhất Của Tác Giả Mạc Nhan

Anh Xin Đầu Hàng

Anh Xin Đầu Hàng kể về câu chuyện giữa hai nhân vật chính là Giang Chấn Vũ và An Mật Nhi. Một lần tình cờ, họ vô tình gặp nhau trong nhà hàng và anh đã ngay lập tức bị trúng “tiếng sét ái tình” từ cô. Lần gặp mặt sau, cô từ một cô gái xinh đẹp, dịu dàng trở thành một cô nàng nam tính và yêu bạo lực, cực kỳ hung dữ. Cô là một nhiếp ảnh gia nổi tiếng thì sao, lấy quyền gì đuổi cổ anh ra khỏi phòng làm việc, mắng xối xả còn bao phen đánh anh tháo chạy. Đây có thật sự là con gái hay không?

Danh hiệu “cầu thủ vàng” của anh chỉ là “hữu danh vô thực” à, làm gì phải dây dưa với loại con gái đáng ghét đó? Con cọp cái ấy nhìn tới nhìn lui vẫn không thấy “hợp nhãn”, không đủ tiêu chuẩn làm bạn gái. Phải chăng định mệnh gặp gỡ một năm trước chỉ là một trò đùa của Thượng đế, cô đâu ngờ mình có thể làm điên đảo một thần tượng bóng đá nổi tiếng. Cô suy nghĩ có nên cho anh chàng này một cơ hội hoặc là cứ bắt nạt hắn tiếp tục. Dù sao, cô là một người cuồng công việc, trước mắt cứ bắt anh ta ngoan ngoãn làm người mẫu cho album ảnh của cô.

Anh Xin Đầu Hàng kể về câu chuyện giữa hai nhân vật chính là Giang Chấn Vũ và An Mật Nhi

Củi Khô Bốc Lửa

Củi Khô Bốc Lửa là một câu chuyện tình khá thú vị, giống như kiểu “oan gia ngõ hẹp” giữa nhân vật nam chính và nữ chính. Cuộc sống của cô rất bình yên, an nhàn và hạnh phúc, chỉ việc cố gắng học thật giỏi để giành lấy học bổng. Nào ngờ, tất cả đều bị hắn cướp mất, thật sự rất xui xẻo. Đến khi nhìn thấy thông báo tuyển bảo mẫu, cô liền xin ứng cứ nào ngờ cũng đụng phải hắn. Thì ra, cái kẻ ra yêu cầu tuyển bảo mẫu với những điều kiện quái đản không ai khác. Chẳng một ai đáp ứng đủ yêu cầu hắn đưa ra, đến khi gặp cô thì hắn chợt nhớ cô cùng hắn học chung. Trên đời sao lại có những chuyện lạ lùng đến thế?

Củi Khô Bốc Lửa là một câu chuyện tình khá thú vị, giống như kiểu “oan gia ngõ hẹp”

Lắng Nghe Trái Tim Anh

Nếu bạn là một fan của những câu chuyện tình nhiệm màu thì Lắng Nghe Trái Tim Anh sẽ là một lựa chọn tuyệt vời để tìm thấy sự đồng điệu trong trái tim.

Người ta có câu: “Lòng của phụ nữ như kim dưới đáy biển”, nếu như bảo anh xuống biển tìm một cây kim thay vì để anh nuôi một con chó trung thành để làm bạn còn vui vẻ hơn nhiều. Tính tình nóng nảy, thô lỗ không quen được bạn gái thì đã sao? Điều đó quan trọng lắm à? Thế nhưng, mọi suy nghĩ đều thật sự thay đổi kể từ khi anh bắt đầu gặp được An Hân Hân. Uy nghiêm của Đường Quan Vũ anh bắt đầu bị khiêu chiến. Cô gái nhỏ kia không chỉ không sợ anh mà còn trưng ra nụ cười mê người thu hút, cô chưa từng hiểu lầm hay nghi ngờ gì với anh. Phải chăng bên cạnh anh có mật thám hay không nếu không tại sao cô lại hiểu anh đến như vậy?

Lắng Nghe Trái Tim Anh sẽ là một lựa chọn tuyệt vời để tìm thấy sự đồng điệu trong trái tim

Tình Nhân Trí Mạng

Bộ truyện ngôn tình Tình Nhân Trí Mạng của tác giả Mạc Nhan mang đến cho người đọc một câu chuyện tình yêu đầy màu sắc giữa một chàng cao thủ tình trường và một cô nàng ngổ ngáo. Thật ra, hắn đang có một hành trình nghiên cứu vĩ đại về “cuộc sống “nồng nhiệt” và đối tượng là một cô nàng ngổ ngáo. Hắn hôn lên môi cô vậy mà cô dám bảo buồn nôn. Thật sự quá sỉ nhục. Hắn tự tin khẳng định rằng sẽ cho cô biết thế nào là tình yêu đích thực. Bước đầu hắn làm đầu óc cô hỗn loạn, sau đó thì…

Liệu cao thủ tình trường trong câu chuyện này sẽ làm gì ở bước tiếp theo để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình?

Chuyện tình yêu đầy màu sắc giữa một chàng cao thủ tình trường và một cô nàng ngổ ngáo

Nhận Tội Với Em

Tình yêu luôn mang đầy màu sắc, bộ truyện Nhận Tội Với Em của tác giả Mạc Nhan mang đến cho người đọc một câu chuyện lãng mạn nhưng cũng không khỏi làm người ta phải suy nghĩ nhiều điều trong cuộc sống.

Đầu tiên, hắn nói là không muốn kết hôn với cô nhưng còn cô thì sao? Thanh xuân của cô thì sao? Từ một cô tiếp viên hàng không xinh đẹp, cô bỗng trở thành một bà nội trợ đúng nghĩa, hàng ngày chăm vén gia đình để làm một bà chủ của gia đình nhỏ hạnh phúc. Mọi việc trong nhà đều do cô làm, từ giặt giũ, nấu cơm,.. dù có vất vả ra sao cũng không một lời than oán. Cô càng tỏ ra tích cực bao nhiêu thì anh lại càng tỏ ra chậm chạp bấy nhiêu, không hề cho cô một lời hứa hẹn. Anh khẳng định rằng anh không đủ yêu cô. Sự thật khắc nghiệt và đau lòng.

Cũng từ đó, cô học được cách yêu thương bản thân mình, vứt bỏ tính cách yêu đuối cùng người đàn ông không tốt này và trở nên thông minh hơn. Không ai có thể tự cứu vớt đời mình thoát khỏi cơn mộng mị của tình yêu bằng bản thân mình. Thiên Tầm thu dọn hành lý rời khỏi nhà trong khi Đường Sĩ Thành vẫn giữ nguyên tư tưởng hai người lại tiếp tục ngọt ngọt ngào ngào như trước kia.

Cô gái nhỏ bắt đầu bận rộn với cuộc sống mới không có sự tồn tại của hắn. Hắn vì tình yêu mà bi lụy, xót xa và hối hận. Khi không thể chịu đựng được nữa, hắn chỉ muốn nói với cô rằng: “Chúng ta hòa hợp lại đi”.

Truyện làm cho người ta phải suy nghĩ nhiều điều trong cuộc sống

Tiếu Tướng Quân

Bộ ngôn tình Tiếu Tướng Quân thuộc thể loại cổ đại, rất được yêu thích của tác giả Mạc Nhan.

Sư phụ nàng dặn dò, nếu như ai trông thấy mặt nàng thì nàng phải lấy hắn. Vì thế, nàng ẩn sâu trong nơi thâm sơn cùng cốc mà không hề lo lắng có người phát hiện. Vậy mà, định mệnh phu quân lại đột ngột xuất hiện. Trong lúc nguy cấp, một đại tướng quân uy phong lẫm lẫm trấn thủ biên cương cứu mạng nàng và vô tình tháo lớp mặt nạ thỏ, thấy rõ gương mặt thật của nàng.

Hắn không tin lời thổ lộ của nàng, không thể chấp nhận nàng bởi tên nam nhân mặt lạnh này không quên được nữ nhân đã từng tạo vết sẹo trên gương mặt hắn, vĩnh viễn không bao giờ phai. Nàng không chịu thua, làm đủ mọi cách để hắn vui vẻ. Hắn không thích vết sẹo trên mặt thì nàng làm vết sẹo liền không thấy. Hắn không cười, nàng làm mặt nạ mặt cười đưa hắn. Đến cuối cùng, cái mà nàng nhận lấy vẫn chỉ là một sắc mặt lãnh khốc. Yêu tướng quân không biết cười, nàng bắt đầu hiểu thế nào là ưu sầu.

Tiếu Tướng Quân thuộc thể loại cổ đại, rất được yêu thích của tác giả Mạc Nhan

Nộ Bảo Chủ

Nộ Bảo Chủ cũng là một trong những tác phẩm ngôn tình được yêu thích nhất của tác giả. Bộ truyện kể về một nữ nhân tên Thi Dược Nhi, tính tình đạm mạc, chỉ đối với kì dược dị thảo có hứng thú. Lần đầu tiên, nàng phá lệ cứu sống một nam nhân đang trúng kịch độc lại thương tích đầy mình. Chuyện tốt là nàng cũng thuận tiện lợi dụng thân thể hắn đến làm thuốc thảo thí nghiệm, thử xem tân dược đan. Vậy mà, tên nam nhân kia không hề biết đến ơn cứu mạng của nàng mà còn mắng nàng là yêu nữ, thậm chí tuyên bố muốn giết nàng. Hảo tâm không được báo đáp rồi.

Bộ truyện kể về một nữ nhân tên Thi Dược Nhi, tính tình đạm mạc, chỉ đối với kì dược dị thảo có hứng thú

Yêu Thương Ma Cà Rồng

Yêu Thương Ma Cà Rồng thuộc thể loại ngôn tình huyền huyễn. Nội dung truyện xoay quanh câu chuyện tình yêu của cô gái Khâu Phù Lạc ột nữ pháp y xuất sắc, kiêm xinh đẹp và trí tuệ, lí trí bình tĩnh, tính chất đặc biệt, ngoại hình đẹp. Vậy mà, nàng cứ lại độc thân làm trong lòng cũng có chút bận tâm. Nguyên nhân là không phải không ai theo đuổi nàng mà sự thật tất cả người theo đuổi đều bị nàng dọa đến bỏ chạy. Tiêu chuẩn bạn trai hơi cao một chút đâu vấn đề gì. Người đó ít nhất thì có sở trường phải là giải phẫu, ham mê các vụ án trinh thám, trình độ chuyên nghiệp hơn người, ngay cả khi đi ăn bò bích tết thì cũng phải nói về người chết,…

Vào một đêm, nàng bị kẻ bắt cóc tập kích, hết sức nguy cấp, Farl mặc áo choàng màu đen xuất hiện cứu nàng. Hai mắt hắn như muốn phóng ra sóng điện, khí chất tao nhã thần bí làm nàng liên tưởng đến ma cà rồng trong truyền thuyết. Thế là lòng hiếu kỳ nhanh chóng trổi dậy, nàng tập trung ngay vào đối tượng nghiên cứu mới.

Yêu Thương Ma Cà Rồng thuộc thể loại ngôn tình huyền huyễn

Nữ trinh sát và sát thủ

Nữ trinh sát và sát thủ là một bộ ngôn tình thể loại trinh thám vô cùng hấp dẫn của tác giả Mạc Nhan. Nếu bạn là một fan của thể loại trinh thám thì đừng bao giờ bỏ qua bộ truyện này.

Hắn tên Hắc Ưng, một kẻ có thể làm cho hai giới hắc bạch lưỡng đạo khi nghe thấy đều kinh hoàng. Hắn nhận lệnh giết cô nhưng đến khi đối diện với đôi mắt to tròn không hề biết sợ của cô thì lập tức trúng ngay tiếng sét ái tình, vô thức yêu thương cô. Vậy mà, người con gái ấy lại dám trốn thoát ở trước mắt hắn. Hắn quyết định bắt cô cả đời để trừng phạt. Hắn không chỉ tiếp cận mà còn dùng thương thế uy hiếp, cưỡng bức cô, ăn đến sạch sẽ.

Có cái mã đẹp trai thì có thể tự tiện quyết định à? Thù mới cùng hận cũ, cô thề tuyệt đối làm cho hắn sống không bằng chết, hối hận cả đời.

Nữ trinh sát và sát thủ là một bộ ngôn tình thể loại trinh thám vô cùng hấp dẫn

Hợp Đồng Tình Yêu Nguy Hiểm

Hợp Đồng Tình Yêu Nguy Hiểm mang cốt truyện bình thường nhưng lại làm người đọc yêu thích, cứ lưu luyến mãi không thôi. Nội dung bộ truyện kể về cô gái có tên Hách Linh Nhi vì cần tiền mà phải bán mình cho một người đàn ông. Mọi sự tự tôn trong lòng đều buông bỏ, lấy vóc dáng để phối hợp cùng anh, cắn răng chịu đựng để một ngày có thể rời đi sau khi bản hợp đồng kết thúc. Sự thật là cô giống như một con ngốc, đem tình yêu thật lòng dành tặng cho người đàn ông vô tâm này.

Cô càng yêu anh thì anh càng tỏ ra lạnh lùng. Phụ nữ đối với anh mà nói chỉ là sủng vật để phát tiết, không bao giờ đặt trái tim mình lên phụ nữ. Sự đơn thuần của cô làm anh bối rối. Khi đó, tất cả đều buông bỏ như lúc ban đầu, cô rời đi. Tất cả chỉ là một cuộc giao dịch.

Hợp Đồng Tình Yêu Nguy Hiểm mang cốt truyện bình thường nhưng lại làm người đọc yêu thích

Cho Thuê Người Yêu

Ban đầu là diễn nhưng sau đó trở thành thật không ai hay, trách ai chi bằng trách mình. nào ngờ, sự thật phũ phàng. Chuyên gia tình yêu gặp phải cao thủ tán gái rất biết ngụy trang. Từ một người sáng suốt già dặn kinh nghiệm lại thông minh lanh lợi cũng có ngày trượt chân rơi vào lưới tình.

Cho Thuê Người Yêu có thể gọi là một bộ ngôn tình hài hước, mang tính giải trí cao

Đăng bởi: Hoàng Phạm Quốc

Từ khoá: 11 tác phẩm ngôn tình hay nhất của tác giả Mạc Nhan

7 Tác Phẩm Ngôn Tình Hay Nhất Của Tác Giả Đường Gia Tam Thiếu

Đấu La Đại Lục

Đấu La Đại Lục thuộc thể loại ngôn tình tiên hiệp huyền huyễn, là một trong những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của tác giả Đường Gia Tam Thiếu. Chắc chắn rằng người đọc sẽ bị lôi cuốn ngay từ những chương đầu tiên của tác phẩm.

Nội dung bộ truyện kể về nhân vật chính là con một thợ rèn vì nỗi đau mất vợ nên đã trở thành tửu quỷ. Trong thế giới Đấu La đại lục rộng lớn, cư dân đông đúc và chức nghiệp được người người tôn kính nhất ở đây được gọi là Hồn Sư. Trong đó, mỗi người được sinh ra đều có riêng một vũ hồn bẩm sinh và những vụ hồn ấy bao gồm cái cuốc, liêm đao,… Những thứ này đều thuộc về khối công cụ, một đóa hoa cúc, một cành mai,…thuộc thực vật hệ đến các vũ hồn cường đại như Tuyết Ảnh Ma Hùng, Tật Phong Ma Lang,… Một người muốn tu luyện để trở thành một Hồn Sư thì cần phải có nhiều yếu tố như vũ hồn cường mạnh, hồn lực. Tất nhiên, vũ hồn càng lớn thì hồn lực càng cao. Câu chuyện sẽ mang đến cho người đọc những trải nghiệm thú vị qua quá trình tu luyện, bí mật cái chết của mẫu thân hay bí mật tông sư của phụ thân.

Đấu La Đại Lục thuộc thể loại ngôn tình tiên hiệp huyền huyễn

Đấu la Đại Lục

Tuyệt Thế Đường Môn

Tuyệt Thế Đường Môn là phần hai của tác phẩm tiên hiệp Đấu La Đại Lục. Nơi đây không tồn tại ma pháp cũng không có đấu khí và võ thuật chỉ tồn tại duy nhất một thứ gọi là Vũ Hồn. Trên mảnh đất Đấu La Đại Lục, Đường Môn bắt đầu bước vào giai đoạn suy thoái sau vạn năm huy hoàng và rực rỡ. Từ đây đã xuất hiện một lớp những anh hùng cái thế nhưng liệu rằng thế hệ Sử Lai Khắc Thất Quái mới này có chấn hưng được Đường Môn hay không? Bằng cách nào có thể tái hiện lại bản anh hùng ca khi xưa một thời đầy lẫm liệt của Đường Môn?

Hắn, một người có trong tay Bách vạn niên hồn thú, thần cung Nhật Nguyệt Trích Tinh của Tử Linh Thánh Pháp Thần và cứ thế mỗi lần xuất hiện đều tiếp thêm một luồng sinh khí mới cho Đường Môn. Bí mật cũng từ đó dần hé mở. Ám khí Đường Môn liệu có đủ sức chấn hưng thiên hạ thêm một lần nữa? Mọi thứ đều được giải đáp sau khi bạn đọc xong tác phẩm.

Tuyệt Thế Đường Môn là phần hai của tác phẩm tiên hiệp Đấu La Đại Lục

Tuyệt Thế Đường Môn

Thần Ấn Vương Tọa

Thần Ấn Vương Tọa thuộc thể loại tiên hiệp dị giới, giọng văn ngắn gọn súc tích, không quá nhiều những chi tiết tình cảm ướt át nhưng cũng đủ làm say đắm trái tim bao độc giả.

Nhân loại đang dần bước vào bờ vực của diệt vong, Ma Tộc hùng mạnh, cường thế, dưới sự quật khởi của Lục Đại Thánh Điện với hi mong có thể dẫn dắt nhân loại chúng sinh bảo vệ được mảnh đất cuối cùng. Chàng thiếu niên trẻ tuổi vì cứu mẫu thân mà gia nhập Kỵ Sĩ Thánh Điện, kỳ tích, quỷ kế không ngừng xoay quanh hắn. Qua từng chặng đường giải cứu nhân loại mà hắn đi qua, trong quá trình tu luyện tìm đến đỉnh cao của hắn, rất nhiều bí ẩn được giải đáp. Đạp lên sự hỗn nát của cái thế giới đầy đấu đá này, làm sao hắn có thể bước chân lên vương tọa tượng trưng cho sự vinh quang cao nhất của kỵ sĩ?

Thần Ấn Vương Tọa thuộc thể loại tiên hiệp dị giới

Thần Ấn Vương Tọa

Long Vương Truyền Thuyết

Long Vương Truyền Thuyết là một tác phẩm ngôn tình thuộc thể loại tiên hiệp. Nội dung bộ truyện xoay quanh vấn đề chinh phục hải dương của nhân loại. Lúc này, hai mảnh Đại Lục mới đã được phát hiện. Hồn thú theo những Hồn Sư săn giết vô độ hướng tới diệt vong, Hồn Thú Chi Vương tại Tinh Đấu Đại Sâm Lâm ngủ say vô số năm cuối cùng Tịnh thổ thức tỉnh, nó muốn dẫn dắt các tộc nhân còn sống nhằm mục đích báo thù nhân loại.

Đường Vũ Lân lập chí muốn trở thành một vị Hồn Sư cường đại huyền huyễn với tài năng có một không hai. Khi Võ Hồn thức tỉnh cũng là lúc Long Vương giao tranh.

Võ Hồn thức tỉnh cũng là lúc Long Vương giao tranh

Long Vương Truyền Thuyết

Thiện Lương Tử Thần

Thiện Lương Tử Thần thuộc thể loại khoa huyễn, huyền huyễn kể về đại lục có tên Thiên Nguyên có 5 quốc gia. Mỗi quốc gia trấn giữ những vùng cõi khác nhau, Thiên Kim đế quốc ở phía Bắc, Hoa Thịnh đế quốc phía Nam, Lạc Nhật đế quốc ở phía Tây, Tác Vực liên bang ở phía Đông, và một mảnh đất diện tích không lớn hình lục giác ở giữa tiếp giáp với bốn đại quốc nổi tiếng nhất ở Thiên Nguyên đại lục gọi là Thần Thánh giáo đình. Trong bốn đại vương quốc, ngoại trừ Lạc Nhật đế quốc và Hoa Thịnh đế quốc quan hệ không tốt, các quốc gia khác đều có thể chung sống hòa bình.

Nhân vật chính A Ngốc từ một kẻ hiền lành làm nghề móc túi bỗng chốc học được võ công cái thế do một tên sát thủ truyền lại. Trên con đường học tuyệt thế võ kỹ để báo thù cùng sự giúp đỡ những người bạn hắn trở nên mạnh mẽ hơn. Bí mật về thân thế được tiết lộ. Thế giới với tình thân, hắn sẽ lựa chọn thế nào?

Thiện Lương Tử Thần thuộc thể loại khoa huyễn, huyền huyễn

Thiện Lương Tử Thần

Băng Hỏa Ma Trù

Băng Hỏa Ma Trù là một tác phẩm ngôn tình thuộc thể loại tiên hiệp huyền huyễn với cốt truyện biến ảo quái dị kết hợp khả năng sáng tạo phi thường của Đường Gia Tam Thiếu chắc chắn sẽ là một tác phẩm không thể bỏ qua cho độc giả yêu thích thể loại này.

Tiên hiệp là một thế giới đầy màu sắc huyền ảo , một trù nghệ mang đậm chất Trung Hoa nổi tiếng mấy ngàn năm được tái hiện dưới bàn tay tài hoa của tác giả đã mang đến cho người đọc một cảm nhận mới đầy thú vị. Nhân vật chính là chàng thanh niên có tên Dung Niệm Băng, mang trên người mối thù sát hại phụ thân, một lòng quyết luyện phép thuật để báo thù, dẫn dắt người xem vào một thế giới kỳ lạ nơi trù nghệ kết hợp với ma pháp thành một đường có một không hai : ma trù ma pháp. Chắc chắn, sự kết hợp mới mẻ này sẽ làm bạn không thể rời mắt khỏi tác phẩm.

Thế giới kỳ lạ nơi trù nghệ kết hợp với ma pháp thành một đường có một không hai : ma trù ma pháp

Băng Hỏa Ma Trù

Quang Chi Tử

Quang Chi Tử là tác phẩm đầu tiên của Đường Gia Tam Thiếu dài 386 chương, nội dung khá hay, cách viết, cách miêu tả cũng rất sống động. Mặc dù vẫn còn một số thiếu sót do là tác phẩm đầu tiên nhưng nhìn toàn cục thì Quang Chi Tử là một truyện rất đáng để đọc.

Quang Chi Tử được xếp thứ 6 trong các truyện được đọc nhiều nhất tại Ảo kiếm thư minh và trong các trang web khác cũng được đánh giá rất cao. Quang Chi Tử là khởi đầu cho loạt truyện về thế giới nhân – ma – thú của Đường Gia Tam Thiếu, truyện xoay quanh vận mệnh của Trường Cung Uy, một tiểu hài tử lười nhác từng bước từng bước trở thành người cứu vãn thế giới.

Quang Chi Tử

Quang Chi Tử

Đăng bởi: Phát Nguyễn

Từ khoá: 7 Tác phẩm ngôn tình hay nhất của tác giả Đường Gia Tam Thiếu

Văn Mẫu Lớp 12: Tổng Hợp Mở Bài Về Tác Phẩm Vợ Nhặt Hay Nhất (90 Mẫu) Mở Bài Vợ Nhặt Của Kim Lân

Nhà văn Kim Lân từng nói về nạn đói năm 1945 rằng: “Đói, nó vừa đắng cay, vừa đau đớn, đồng thời một mặt nào đó nó lại lóe lên một tia sáng về đạo đức, danh dự“. Và “Vợ nhặt” của ông chính là tác phẩm đi sâu vào khai thác tia sáng đẹp đẽ trong bi kịch tăm tối ấy của nạn đói. Thông qua câu chuyện nhặt được vợ của anh cu Tràng, nhà văn Kim Lân không chỉ nói lên sự sống mỏng manh của con người trước nạn đói khủng khiếp mà quan trọng hơn cả là đứng trên bờ vực của sự sống và cái chết ấy vẻ đẹp của con người vẫn luôn tỏa rạng, trong cái khốn cùng, thiếu thốn, đói nghèo con người vẫn dành cho nhau những tình cảm thật chân thành và đáng trân trọng nhất.

Lịch sử dân tộc Việt Nam ta đã phải trải qua biết bao khổ cực, gian truân, phải đấu tranh với những lũ giặc thâm thù ác độc. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ngoài việc đánh dấu mốc son chói lọi, vẻ vang song vận mệnh của đất nước lại rơi vào lâm nguy. Đây cũng là thời điểm nạn đói hoành hành khiến cho hàng triệu người dân chết đói, là một nỗi ám ảnh kinh hoàng trong ký ức của biết bao con người. Và cho đến tận ngày nay, không ai có thể phủ nhận được sự khủng khiếp của nó. Nhà văn Kim Lân, bằng sự nhân đạo và tài năng nghệ thuật của mình đã khắc họa lại rõ nét khung cảnh nghèo đói của con người lúc bấy giờ qua truyện ngắn “Vợ nhặt’. Ngoài việc tái hiện lại khung cảnh thê lương ấy, “Vợ nhặt” còn ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con người, niềm khao khát được sống, được hạnh phúc, khao khát về một tương lai tươi sáng dù họ có ở mấp mé bờ vực của cái chết.

“Vợ nhặt” là một tác phẩm hay nhất trong sự nghiệp văn chương của Kim Lân viết về cuộc sống ngột ngạt của người dân trong nạn đói năm 1945. Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết có tên “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau cách mạng tháng tám bùng nổ nhưng còn dang dở. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), Kim Lân đã dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết lên thiên truyện ngắn này. Với “Vợ nhặt”, Kim Lân đã vô cùng thành công trong việc đi sâu vào việc phân tách diễn biến tâm lí nhân vật, tiêu biểu là ………..(tùy vào đề bài để dẫn dắt).

“Vợ nhặt” là truyện ngắn đặc sắc, tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác văn chương của nhà văn Kim Lân. Nội dung truyện kể về anh cu Tràng ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò thuê. Giữa trận đói kinh hoàng năm 1945 nuôi thân còn khó, thế mà bất ngờ, anh cu Tràng – nhân vật chính của tác phẩm còn dám đèo bòng thêm cô vợ nhặt. Kim Lân đã xây dựng, sáng tạo ra tình huống nhặt vợ hết sức độc đáo, đồng thời vận dụng ngôn ngữ bình dị, mộc mạc tự nhiên để khắc họa lên tính cách của từng nhân vật. Từ anh cu Tràng , người vợ nhặt đến bà cụ Tứ nhân vật nào cũng sinh động và chân thực.

Mỗi một tác phẩm văn học hay và để lại ấn tượng trong lòng độc giả thì đều ẩn chứa những điểm sáng tuyệt vời. Người nghệ sỹ tài năng là người phải biết nắm bắt và đưa vào tác phẩm của mình những điểm sáng tuyệt vời đó. Viết về đề tài người nông dân nghèo, ta từng biết đến một lão Hạc nghèo khổ, bất hạnh nhưng lại có tâm hồn đẹp của Nam Cao, một ông Hai tràn đầy tình yêu với làng quê, đất nước của Kim Lân, hay “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi cũng viết về người nông dân với những mất mát đau thương. Song phải đến “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, người ta mới cảm nhận được tận cùng của sự xót thương về một thảm cảnh khốc liệt – nạn đói kinh hoàng năm 1945. Truyện ngắn viết về cuộc sống nghèo đói của con người lúc bấy gờ, tuy họ đang đứng bên bờ vực của cái chết nhưng vẫn luôn khát khao được sống, được hạnh phúc, ở họ luôn hiện ra những vẻ đẹp phẩm chất cao quý của những người nông dân chân chất.

Lịch sử dân tộc ta đã phải trải qua biết bao khổ cực, phải đấu tranh với những lũ giặc thâm độc. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ngoài việc ghi dấu mốc son chói lọi, song vận mệnh đất nước lại lâm nguy. Đây cũng là thời điểm nạn đói hoành hành, là một nỗi ám ảnh trong ký ức của biết bao con người. Cho đến tận ngày nay, không ai có thể phủ nhận sự khủng khiếp của nó. Nhà văn Kim Lân, bằng sự nhân đạo và tài năng của mình đã khắc họa lại rõ nét bức tranh nghèo đói của con người thời ấy. Nhưng vượt lên cả là niềm sống mãnh liệt, sự khao khát về một tương lai tươi sáng dù trong cái tận cùng của chết chóc. Điều này được thể hiện rất rõ nét qua tác phẩm Vợ nhặt.

Nếu coi tác phẩm văn học là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung thì người nghệ sỹ cần phát huy tài năng xuất chúng của mình để làm nên một tác phẩm hay. Trong đó, phải kể đến truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. Đây là tác phẩm xuất sắc nhất của ông viết về những con người trong nạn đói năm 1945. Sự đau khổ, mất mát đâu chỉ có trên chiến trường ác liệt mà còn thể hiện ngay trong cuộc sống đói khổ lúc bấy giờ. Kim Lân đã tái hiện lại thảm cảnh nghèo đói đến đìu hiu, xơ xác của những con người vốn rất hiền lành. Nhưng ẩn chứa là niềm khao khát sống, ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp phía trước.

Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam. Một trong những tác phẩm nổi bật của ông phải kể đến trong truyện ngắn Vợ nhặt. Trong truyện, tác giả đã xây dựng nhân vật Tràng, đặc biệt trong đoạn sáng hôm sau khi có được vợ.

Vợ nhặt là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân. Truyện kể về anh cu Tràng – một người nông dân hiền lành chất phác trong hoàn cảnh khó khăn lại có được hạnh phúc. Kim Lân đã xây dựng thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật này, đặc biệt ở đoạn sáng hôm sau khi Tràng có vợ.

Truyện ngắn Vợ nhặt đã miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Qua đó, Kim Lân còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của họ. Nhân vật Tràng được Kim Lân khắc họa với những diễn biến tâm trạng, đặc biệt là trong đoạn sáng hôm sau khi Tràng có vợ.

Nhà văn Nga I.Bônđarep từng có ý tưởng rằng “Nghệ thuật sinh ra từ những thái cực và xung đột”. Ý kiến này quả đúng khi bàn về truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân. Với tác phẩm Vợ Nhặt nhà văn đã làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sinh động về hiện thực thê thảm ấy và lạ thay, giữa khoảng trống lay lắt,tối tăm của cuộc sống đói nghèo nhà văn đã cho ta thấy được tấm lòng của những con người đói khổ dù đang bị cái đói, cái chết rình rập nhưng họ vẫn cưu mang, đùm bọc, yêu thương và san sẻ, cùng hướng về sự sống, về hạnh phúc và tương lai. Nó được thể hiện như thế nào qua hình tượng nhân vật Tràng?

Văn là đời. Chuyện văn là chuyện đời. Qua một cảnh ngộ, một tình huống, một nỗi lòng của nhân vật, nhà văn muốn mang đến cho bạn đọc những vấn đề nhân sinh. “Vợ nhặt” của Kim Lân là một tác phẩm như thế. Tất cả những gì nhà văn muốn gửi gắm có chăng đều được sáng ngời qua nhân vật Tràng- một gã nông dân nghèo, thô kệch nhưng nhân hậu và luôn giàu khát khao sống.

Kim Lân thuộc tốp những nhà văn viết ít, trong khi một số tác giả như Tô Hoài có đến hàng trăm tác phẩm, thì số tác phẩm của Kim Lân có thể đếm được trên đầu ngón tay. Nhưng những gì mà ông để lại nhớ nhiều , nhớ mãi. Chỉ một “vợ nhặt”, một “làng” cũng đủ để đưa ông lên hàng những tác giả nổi tiếng. “Vợ Nhặt” chỉ có 3 nhân vật, mà nhân vật nào cũng có ấn tượng điều đó được thể hiện rất rõ qua nhân vật Tràng.

Kim Lân nhà văn thường viết về người nông dân, truyện ngắn Vợ nhặt mang giá trị tư tưởng nhân đạo lớn dù cuộc sống nghèo khổ, cơ cực nhưng vẫn yêu thương đùm bọc nhau. Trong đó nhân vật Tràng là một trong những con người tốt bụng, nhân hậu. Truyện Vợ nhặt được tác giả viết vào thời điểm khi mà nạn đói đang hoành hành dữ dội và cướp đi mạng sống của rất nhiều người. Tràng và gia đình của mình cũng đang vật lộn để mưu sinh.

Nói về nạn đói năm 1945, nhà văn Kim Lân từng nói: “Đói, nó vừa đắng cay, vừa đau đớn, đồng thời một mặt nào đó nó lại lóe lên một tia sáng về đạo đức, danh dự”. “Vợ nhặt” của ông chính là truyện ngắn đi sâu khai thác tia sáng đẹp đẽ trong bi kịch tăm tối ấy của nạn đói. Thông qua câu chuyện nhặt vợ của anh Tràng, nhà văn Kim Lân không chỉ tái hiện sự sống mỏng manh của con người trước nạn đói mà quan trọng hơn cả là đứng trên ranh giới của sự sống và cái chết ấy vẻ đẹp của con người vẫn tỏa rạng, trong cái khốn cùng, thiếu thốn con người vẫn dành cho nhau những tình cảm thật đáng trân trọng.

Văn học chính là lăng kính chủ quan, phản ánh hiện thực một cách khách quan, chính xác nhất. Bởi vậy mà nhà văn Kim Lân đã dùng ngòi bút của mình để phác họa thành công bức tranh cuộc sống, sinh hoạt của người nông dân trong nạn đói năm Ất Dậu qua tác phẩm “Vợ nhặt”. Nhà văn đã đem vào thiên truyện của mình một điểm sáng mới, đó là niềm tin, niềm hi vọng vào một tương lai tốt đẹp dù hiện tại có khó khăn đến nhường nào.

Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn, ngòi bút của ông thật sắc sảo khi tập trung miêu tả những phong tục tập quán và đời sống làng quê với những “thú vui đồng quê hay phong lưu đồng ruộng”. “Vợ nhặt” là tác phẩm xuất sắc được in trong tập “Con chó xấu xí” của nhà văn, viết về người nông dân trong tình cảnh thê thảm của nạn đói với bản chất tốt đẹp, lương thiện. Bằng khả năng sáng tạo của mình, nhà văn đã thành công ở nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật và hàng loạt các biện pháp nghệ thuật đặc sắc khác khi xây dựng nhân vật của mình.

Kim Lân là nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại, ông viết nhiều, viết hay về nông thôn, về cuộc sống của người nông dân. Hiện lên trong những trang văn của ông là hình ảnh những người nông dân nghèo khổ, khốn đốn trong những hoàn cảnh riêng nhưng ở họ vẫn sáng ngời những vẻ đẹp đáng trân trọng, đó là ông Hai – một người dân yêu làng, yêu nước nhưng phải đối mặt với bi kịch làng chợ Dầu theo giặc trong “Làng”, đó còn là anh Tràng – người đàn ông xấu xí, nghèo khổ sống ở xóm Ngụ cư vẫn chấp nhận cưu mang một người đàn bà xa lạ ngay giữa nạn đói trong truyện ngắn Vợ nhặt. Trong truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân đã hướng ngòi bút nhân đạo của mình để lột tả những vẻ đẹp đáng quý trong tâm hồn con người, đó là tình thương, là sức sống mãnh liệt.

Nạn đói năm 1945 đã trở thành nỗi ám ảnh khủng khiếp đối với con người Việt Nam, nó gợi nhắc về một thời kỳ đen tối của lịch sử. Viết về nạn đói, Tô Hoài từng viết: “Mỗi khi chợt nghĩ lại, tôi vẫn bàng hoàng về những năm khủng khiếp ấy”, nhà văn Kim Lân cũng từng có những chia sẻ về cái dữ đội của nạn đói đồng thời cũng phát hiện “hào quang” được tỏa ra từ chính những con người trong nạn đói “Đói, nó vừa đắng cay, vừa đau đớn, đồng thời một mặt nào đó nó lại lóe lên một tia sáng về đạo đức, danh dự”. “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân viết về nạn đói, đồng thời qua đó nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của tình thương, sức sống tiềm tàng của con người.

Cái đói là nỗi lo lắng của con người ở tất cả mọi dân tộc và mọi thời đại. Có lẽ vì vậy mà các nhà văn thường viết về nó ở những khía cạnh tối tăm và bất lực. Nhưng với tác phẩm Vợ Nhặt, nhà văn Kim Lân đã thật sự tìm được một tiếng nói riêng khi ông đã mang đến cho những nạn nhân của năm đói một khát khao cháy bỏng về tương lai tươi sáng và nhất là làm nổi bật vẻ đẹp của truyền thống nhân văn: Lòng yêu thương và quý trọng hai chữ Con Người.

Kim Lân, nhà văn chuyên viết truyện ngắn, với biệt tài viết về người nông dân. Người nông dân trong trang viết của Kim Lân dù nghèo khổ nhưng luôn sáng ngời những phẩm chất: yêu đời, thật thà, chất phác, hóm hỉnh, tài hoa. Vợ nhặt là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông khi viết về người nông dân.

Kim Lân một trong những nhà văn viết truyện ngắn từ năm 1941. Sáng tác của ông tập trung phản ánh bức tranh của nông thôn Việt Nam và hình tượng người nông dân. Dưới ngòi bút tài hoa của Kim Lân, bức tranh hiện thực của nông thôn Việt Nam cũng như nỗi niềm, cuộc sống, cảnh ngộ và khát vọng của người nông dân được thể hiện chân thực và sinh động. “Vợ Nhặt” là một trong những tác phẩm thành công của Kim Lân với cốt truyện độc đáo cùng lối dẫn chuyện hóm hỉnh hấp dẫn người đọc.

Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã khiến cho nhân dân ta rơi vào tình cảnh vô cùng thê thảm. Tình cảnh ấy được các nhà văn tái hiện chân thực trong những sáng tác của mình. Nhà văn Kim Lân cũng là một trong số đó. Ông đã khắc họa số phận của những người nông dân qua tác phẩm “Vợ nhặt” bằng một lòng thương cảm sâu sắc.

Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của người nông dân, của làng quê Việt Nam bởi trong các tác phẩm của ông luôn hướng tới hình ảnh người nông dân. Với văn phong giản dị, mộc mạc nhưng sâu sắc thấm đẫm tinh thần nhân văn, tác giả Kim Lân đã gửi tới người đọc một tác phẩm kinh điển thể hiện tình cảm đậm đà của ông dành cho những số phận người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ.

Kim Lân là một trong số những nhà văn xuất sắc viết về nông thôn và nông dân Việt Nam trong nền văn học hiện đại với những tác phẩm độc đáo tỏng cách xây dựng tình huống truyện, cách xây dựng và miêu tả nhân vật. Và có thể nói, truyện ngắn Vợ nhặt – rút từ tập Con chó xấu xí là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách sáng tác của ông.

Nhà văn Pháp Napoli từng nhận định: “Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên, gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm không cần tìm nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa, nó là cuốn sách hay do người nghệ sĩ có thực tài viết ra”. Vâng, một tác phẩm hay luôn biết cách đưa tâm hồn con người tới địa hạt mới – địa hạt của những yêu thương, những sẻ chia và những khát khao. Viết “Vợ nhặt”, Kim Lân đã thể hiện niềm cảm thương trước số phận của con người cùng khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của họ khi bị đẩy đến mức đường cùng của cái đói.

Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân – một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với “thuần hậu phong thuỷ” ấy. Ngay sau Cách mạng, ông đã bắt tay ngay vào viết tác phẩm Xóm ngụ cư khi hoà bình lặp lại (1954), nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng, truyện ngắn “Vợ Nhặt” ra đời.

Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phải đi làm. Yêu thích văn chương, ông bắt đầu sáng tác từ năm 1941. Một số truyện ngắn của ông lấy đề tài ở cuộc sống lam lũ của người nông dân hoặc các sinh hoạt văn hóa truyền thống ở thôn quê. Sau Cách mạng tháng Tám, ông chuyên viết truyện ngắn về làng quê, mảng hiện thực mà ông hiểu biết sâu sắc. Theo Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với những gì thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn. Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962). Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ nhưng đến sau hòa bình lập lại 1954 mới cho ra mắt bạn đọc trong tập Con chó xấu xí.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp năm 1945 để diễn tả được cái đói có sức nặng như thế nào, nhưng ngụ ý của tác giả chính là việc dựa trên nạn đói để lột tả tính cách “trong như ngọc sáng ngời” của những con người, những mảnh đời lầm thân. Nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng điển hình cho người đàn bà nghèo khổ đến cùng cực nhưng có tình yêu thương con đến vô bờ bến. Hẳn rằng người đọc sẽ không bao giờ quên những lời mà Kim Lân đã dành cho bà.

Nhà văn Kim Lân là một nhà văn nổi tiếng của nền văn học hiện thực Việt Nam. Ông được xem là nhà văn của làng quê Việt Nam với những sáng tác luôn chạm đến trái tim người đọc bằng sự giản dị, gần gũi. Tác phẩm Vợ Nhặt của ông được sáng tác trong bối cảnh đất nước lầm than, nạn đói hoành hành năm 1945. Thành công của tác phẩm chính là nhờ sự thành công trong việc khắc họa nhân vật của tác giả. Nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo, khắc khổ nhưng giàu tình yêu thương là một nhân vật được khắc họa rất thành công.

Đoạn trích Vợ nhặt của Kim Lân đã thành đề tài bàn luận không chỉ của tác giả mà còn của nhiều độc giả đón đọc. Thành công của tác phẩm không dừng lại ở việc khắc họa hiện thực xã hội đói nghèo và thiếu thốn, người chết như ngả rạ, khắp nơi bao trùm bởi không khí tang thương mà còn là vẽ ra những mảnh đời, những câu chuyện bình dị nhưng vô cùng ý nghĩa. Bên cạnh Tràng – nhân vật chính của câu chuyện, còn có chị vợ và bà cụ Tứ, mẹ của Tràng. Tuy xuất hiện ít hơn nhưng nhân vật bà cụ Tứ để lại nhiều ấn tượng và sự thương cảm trong lòng người đọc.

Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Trong tác phẩm ta không chỉ nhớ về anh cu Tràng và chị vợ nhặt mà còn nhớ đến bà mẹ tảo tần, chịu nhiều vất vả. Bà cụ Tứ là hình ảnh bà mẹ nông dân Việt Nam trước 1945. Ở nhân vật này, Kim Lân không chú ý vào hành động mà đi sâu vào khai thác tâm trạng nhân vật, qua đó khẳng định tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của ông.

Người mẹ Việt Nam luôn là một nguồn cảm hứng sáng tạo của văn chương. Không một thể loại nào là không có các tác phẩm viết về mẹ. Trong các tác phẩm của nhà văn của Kim Lân, người đọc chắc có lẽ không thể không bị ấn tượng bởi nhân vật bà cụ Tứ. Bà là một người mẹ nghèo có tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương con người và có niềm tin vào tương lai.

Không phải là nhân vật chính, lại xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm nhưng bà cụ Tứ – mẹ của anh cu Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân đã góp phần làm cho tác phẩm sâu sắc hơn. Với tình huống anh cu Tràng “nhặt” được vợ trong những ngày đói deo dắt, Kim Lân muốn khắc họa số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám, thể hiện sự cảm thông, sẻ chia trước khát khao hạnh phúc của những số phận khốn cùng ấy.

Những người mẹ luôn là người đem lại tình thương yêu lớn nhất, tình yêu bao la ấy có thể vượt qua những khó khăn, những thiếu thốn vật chất để mang lại một cuộc sống an lành hạnh phúc cho nhau. Trong nền văn học Việt nam biết bao nhiêu nhà văn xây dựng được hình tượng người mẹ như thế. nếu như Nguyễn Minh Châu xây dựng người mẹ đầy đức hi sinh là người đàn bà hàng chài thì Kim lân lại xây dựng thành công nhân vật Bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ Nhặt. Ngoài những phẩm chất của bà thì nhà văn đi vào miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật này. Để từ đó chúng ta càng thấy được những hi sinh, những nỗi niềm thương con vô bờ bến của bà.

Vợ nhặt là một trong những tác phẩm hay của văn học Việt Nam với đề tài cuộc sống người lao động trước Cách mạng. Xuất hiện trong truyện là ba nhân vật với những cơ cực, tủi hờn khác nhau, nhưng có lẽ đáng thương hơn cả vẫn là bà cụ Tứ. Trong truyện, nhà văn Kim Lân đã dừng lại miêu tả khá sâu sắc diễn biến tâm trạng nhân vật này khi bất ngờ đón nhận tin vui của cậu con trai: Thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ có qua được cơn đói khát này không!

Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Trong tác phẩm ta không chỉ nhớ về anh cu Tràng và chị vợ nhặt mà còn nhớ đến bà mẹ tần tảo, chịu nhiều vất vả. Bà cụ Tứ là hình ảnh bà mẹ nông dân Việt Nam trước 1945. Ở nhân vật này, Kim Lân không chú ý vào hành động mà đi sâu vào khai thác tâm trạng nhân vật, qua đó khẳng định tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của ông.

Kim Lân với phong cách viết giản dị, gần gũi với đời sống của nhân dân nên ông được xem là nhà văn của làng quê Việt Nam. Những sáng tác của ông luôn chạm vào trái tim người đọc cảm xúc ấm áp, thân quen nhất. Truyện ngắn “Vợ nhặt” ra đời giữa bối cảnh đất nước ta đang lầm than, nạn đói hoành hành. Tác giả đã khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ khắc khổ nhưng tràn đầy tình yêu thương.

Không phải là nhân vật chính, lại xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm nhưng bà cụ Tứ – mẹ của anh cu Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân đã góp phần làm cho tác phẩm sâu sắc hơn. Với tình huống anh cu Tràng “nhặt” được vợ trong những ngày đói deo dắt, Kim Lân muốn khắc hoạ số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám, thể hiện sự cảm thông, sẻ chia trước khát khao hạnh phúc của những số phận khốn cùng ấy.

Viết về nạn đói năm 1945 nhưng truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ tập trung vào miêu tả cuộc sống ngột ngạt hay cái đói thương tâm mà qua đó để đi sâu vào tâm hồn và những phẩm chất tốt đẹp của con người cùng chung bước lầm than. Vẻ đẹp nhân văn, nhân đạo ấy được tác giả xây dựng thành công ở nhân vật bà cụ Tứ – mẹ của anh Tràng – trước tình huống anh Tràng bất ngờ có vợ.

Vợ nhặt là tác phẩm hoàn hảo của Kim Lân viết về cuộc sống ngột ngạt của dân chúng ta trong nạn đói năm 1945. Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết “xóm ngụ cư” được viết ngay sau cách mạng tháng tám nhưng dang dở. Sau lúc hòa bình lập lại (1954), Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này. với tác phẩm vợ nhặt, Kim Lân đã rất thành công trong việc đi sâu phân tách diễn biến tâm lí nhân vật, tiêu biểu là nhân vật bà cụ Tứ.

“Vợ nhặt” có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được nhà văn Kim Lân viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau này, dựa vào một phần cốt truyện cũ của “Xóm ngụ cư”, nhà văn Kim Lân đã bổ sung và cho ra đời truyện ngắn “Vợ nhặt”. Tác phẩm lấy bối cảnh nạn đói hoành hành tại nước ta năm 1945 khiến 2 triệu người dân chết đói. Trong truyện ngắn, bên cạnh nhân vật Tràng, người vợ nhặt, nhân vật bà cụ Tứ được xây dựng rất thành công bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, qua đó ta có thể thấy rõ tấm lòng, đức hy sinh của một người mẹ nông dân trước Cách mạng.

Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ôngTác phẩm đã khắc hoạ tình cảnh thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945 đồng thời khẳng định, ca ngợi tình yêu thương, đùm bọc, khát khao hạnh phúc, hướng đến tương lai của những người dân lao động. Trong đó nhân vật bà cụ Tứ được nhà văn khắc hoạ rất sinh động, tinh tế, là một người mẹ nghèo khổ, trải đời, giàu tình yêu thương và có nội tâm phong phú, phức tạp.

Đặt câu chuyện trong bóng tối của thời sự đói khát và chết chóc ấy, nhà văn đã thể hiện cảm động tấm lòng yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và niềm khao khát hạnh phúc của những người nghèo khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả phát hiện và tập trung xây dựng thành công ở nhân vật bà cụ Tứ, mẹ của anh Tràng – người đã “nhặt” vợ.

Là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, những trang viết của nhà văn Kim Lân luôn hướng về cuộc sống và người dân quê với cuộc sống nghèo khổ thiếu thốn mà lạc quan, yêu đời, và truyện ngắn “Vợ nhặt” là một trong số những tác phẩm như thế. Truyện ngắn “Vợ nhặt” đã khắc họa thành công những hình tượng nhân vật độc đáo để từ đó, người đọc có thể cảm nhận hết cuộc sống, số phận con người trong nạn đói ấy và nhân vật bà cụ Tứ là một trong những nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.

Tác phẩm Vợ nhặt xoay quanh câu chuyện của ba người trong một gia đình ngụ cư. Điều lạ là một người làm nên chính cái tên của truyện lại không có tên, không biết tuổi. Đó chính là vợ Tràng. Người phụ nữ ấy chỉ là một trong số hàng ngàn, hàng vạn thân phận phụ nữ cùng thời. Do đó, người ấy rất rễ bị lãng quên, ít ai chú ý tới nhưng với nhà văn đó là một số phận không thể bỏ qua, một số phận gây nhức nhối, trăn trở. Sự hấp dẫn của nhân vật nữ này phải chăng là từ một người trong cõi mù mịt, không đâu vào đâu trở thành một nàng dâu hiền thục của bà cụ Tứ?

Kim Lân là nhà văn có vốn am hiểu phong phú về cuộc sống và tâm hồn của người nông dân. Viết về làng quê, người nông dân bằng những tình cảm chân thành, bình dị nhưng vô cùng tinh tế nên văn của Kim Lân thường dễ chạm đến những tình cảm sâu kín nhất bên trong mỗi độc giả. Vợ nhặt không chỉ là truyện ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân mà còn là tác phẩm tiêu biểu của nền văn học hiện thực Việt Nam khi khắc họa sống động cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của con người trong nạn đói. Tiêu biểu cho hình ảnh và thân phận con người trong nạn đói, đó chính là nhân vật người vợ nhặt.

Người vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Kim Lân dù không phải nhân vật trung tâm nhưng lại giữ một vị trí cực kì quan trọng trong toàn bộ tác phẩm. Có thể nói với nhân vật này, thì giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm mới được hoàn chỉnh hơn.

Kim Lân là một trong số ít những nhà văn thành công khi viết về cái nghèo, cái đói để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Khi viết về cái đói, Kim Lân không dừng lại ở việc khơi gợi lòng thương cảm, xót xa mà còn tạo ra một nỗi ghê sợ, ám ảnh về sức mạnh hủy diệt của nó đối với nhân phẩm và thể xác con người. Tuy nhiên, với thông điệp “Hãy tin ở con người”, hầu hết nhân vật của Kim Lân, đến cuối truyện luôn tìm về với bản chất tốt đẹp, đáng quý của mình. Đại diện cho kiểu nhân vật này, chúng ta có thể kể đến người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn. Đây là nhân vật bị cái đói xui khiến, sẵn sàng vứt bỏ tự tôn, nhắm mắt đưa chân theo người xa lạ vì một miếng ăn. Nhưng, ở đâu đó trong con người thị vẫn luôn tồn tại những phẩm chất đáng trân trọng của một người phụ nữ truyền thống: đảm đang, biết vun vén gia đình và cũng đầy tinh tế, ý nhị.

Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó. Đó là nhân vật người vợ.

Advertisement

Vợ nhặt là tác phẩm đặc sắc, tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Kim Lân. Nội dung truyện kể về anh Tràng ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò thuê. Giữa trận đói kinh hoàng nuôi thân còn khó, thế mà bất ngờ, anh dám đèo bòng thêm cô vợ nhặt. Kim Lân đã sáng tạo ra tình huống nhặt vợ rất độc đáo, đồng thời vận dụng ngôn ngữ bình dân tự nhiên, mộc mạc để khắc họa tính cách của từng nhân vật. Từ bà cụ Tứ đến anh Tràng và người vợ nhặt, nhân vật nào cũng sinh động và chân thực.

Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn “Vợ nhặt”,được in trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Đây là tác phẩm mà Kim Lân đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp về nạn đói Ất Dậu (1945) của nước ta. Trên cái nền tăm tối và đau thương ấy, nhà văn đã đặt vào đó hình ảnh của nhân vật người vợ nhặt: nghèo đói, bất hạnh nhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt. Điều đó được thể hiện qua việc chị chấp nhận theo không một người đàn ông về làm vợ giữa ngày đói.

Ai đó từng nói rằng “ Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả sau lưng bạn”. Bởi nói như nhà văn Nguyễn Khải “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc bắt nguồn từ những gian khổ hy sinh. Ở đời không có con đường cùng chỉ có những ranh giới điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để bước qua ranh giới đó”. Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân ta càng hiểu sâu sắc và thấm thía hơn chân lý đó. Ta không khỏi xót xa, ngậm ngùi thương cho hoàn cảnh éo le, mừng vui cho niềm tin của con người vào tương lai mới mà còn rưng rức trước tình cảm yêu thương của hơi ấm gia đình.Vậy điều đó thể hiện như thế nào qua hình ảnh nhân vật Thị?

Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị, biết hướng tới tương lai tươi đẹp.

Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, ông thường viết về nông thôn và người nông dân bằng lời văn chân thật xúc động khi miêu tả đời sống, cảnh ngộ và tâm lý của họ. Truyện ngắn “Vợ nhặt” là tác phẩm xuất sắc in trong tập “Con chó xấu xí”(1962). Bối cảnh của truyện là nạn đói thê thảm khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Nhưng dù ở hoàn cảnh nào ngay cả khi cận kề bên cái chết họ vẫn yêu thương cưu mang đùm bọc lẫn nhau, vẫn khát khao hạnh phúc và có niềm tin bất diệt vào tương lai. Những phẩm chất tốt đẹp ấy được nhà văn thể hiện qua nhân vật Tràng.

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân ban đầu có tên là Xóm ngụ cư. Truyện được Kim Lân viết sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, nhưng mãi đến khi hòa bình lập lại (1954), Kim Lân mới sửa lại và đưa in chính thức. Truyện ngắn Vợ nhặt vừa tố cáo xã hội đẩy con người đến nạn đói khủng khiếp, khiến mạng người trở nên rẻ rúng như rơm rác; vừa có ý nghĩa nhân bản sâu sắc.

Kim Lân là nhà văn lão làng trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Ngòi bút của ông hướng đến những mảnh đời bất hạnh, làng quê Việt Nam, những người nông dân chân chất mộc mạc, nghèo đói nhưng tràn đầy tình yêu. Truyện ngắn “Vợ nhặt” là một trong những kiệt tác tái hiện lại chân thực nhất hình ảnh người nông dân sống trong nạn đói năm 1945. Đặc biệt tác giả đã khắc họa thành công diễn biến tâm lý của nhân vật chính: anh cu Tràng.

Kim Lân – một nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam vào giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám. Ông là một người yêu quê hương đất nước, giàu lòng thương người. Kim Lân đã khắc họa rất thành công bức tranh của nạn đói năm Ất Dậu, nạn đói lịch sử của nước ta năm 1945 qua tác phẩm truyện ngắn “Vợ Nhặt”. Đặc biệt là qua hình ảnh nhân vật Tràng, một người nông dân nghèo đói bất hạnh nhưng trong anh lại có một tấm lòng giàu tình thương người, giàu khát vọng hạnh phúc. Tất cả được thể hiện qua câu chuyện đầy bất ngờ của Tràng – câu chuyện nhặt vợ giữa ngày đói.

Kim Lân là một trong những nhà văn điển hình của nền văn chương hiện thực Việt Nam, ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Vợ nhặt là truyện viết về hình ảnh người dân cày trong nạn đói năm 1945. khi kể tới tác phẩm này người đọc không thể ko nhắc đến anh cu Tràng, nhân vật vật chính của truyện được tác kém chất lượng vun đắp rất thành công.

Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn với đề tài quen thuộc là hình ảnh nông thôn và người nông dân. Khác với tác giả Tô Hoài – ông không khai thác cuộc sống của người dân nơi rẻo cao Tây Bắc mà lại lặn sâu vào cuộc sống của người dân quê – những con người gắn bó thiết tha với quê hương và cách mạng. Trong đó, “Vợ nhặt” là một tác phẩm tiêu biểu minh chứng cho tài năng của Kim Lân. Và trong suốt những trang sách kể về tình huống nhặt vợ có một không hai trong nền văn học Việt Nam, diễn biến tâm lí nhân vật Tràng đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc.

Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Tác phẩm đã dựng lên cuộc đời, số phận của người dân Việt Nam trong năm 1945 với nạn đói khủng khiếp khi hơn hai triệu người chết đói. Và tất cả đã được phản ánh đầy đủ thông qua nhân vật Tràng – nhân vật trung tâm của tác phẩm.

Kim Lân – một nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam vào giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám. Ông là một người yêu quê hương đất nước, giàu lòng thương người. Kim Lân đã khắc họa rất thành công bức tranh của nạn đói năm Ất Dậu, nạn đói lịch sử của nước ta năm 1945 qua tác phẩm truyện ngắn “Vợ nhặt”. Đặc biệt là qua hình ảnh nhân vật Tràng, một người nông dân nghèo đói, bất hạnh nhưng trong anh lại có một tấm lòng giàu tình thương người, giàu khát vọng hạnh phúc. Tất cả được thể hiện qua câu chuyện đầy bất ngờ của Tràng – câu chuyện nhặt vợ giữa ngày đói.

………….

Văn Mẫu Lớp 6: Phân Tích Tác Phẩm Chuyện Cổ Tích Về Loài Người Dàn Ý & 5 Bài Văn Mẫu Lớp 6

Phân tích bài thơ Chuyện cổ tích về loài người

Hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp Bài văn mẫu lớp 6: Phân tích tác phẩm Chuyện cổ tích về loài người, bao gồm dàn ý và 5 đoạn văn mẫu. Mời tham khảo nội dung chi tiết ngay sau đây.

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh, tác phẩm Chuyện cổ tích về loài người.

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chuyện cổ tích về loài người.

II. Thân bài

1. Sự ra đời của loài người

– Sinh ra trước nhất: toàn là trẻ con

– Khung cảnh thuở sơ khai:

Không dáng cây ngọn cỏ.

Chưa có mặt trời, toàn là bóng đêm.

Không có màu sắc khác.

2. Sự ra đời của thiên nhiên

Mặt trời: giúp trẻ con nhìn rõ.

Cây, cỏ, hoa: giúp trẻ con nhận rõ màu sắc, kích thước.

Tiếng chim, làn gió: giúp trẻ con cảm nhận được âm thanh.

Sông: giúp trẻ con có nước để tắm

Biển: giúp trẻ con suy nghĩ, cung cấp thực phẩm và là nơi tìm hiểu, khám phá.

Đám mây: đem đến bóng mát.

Con đường: giúp trẻ con tập đi.

3. Sự ra đời của gia đình

Mẹ: mang đến tình yêu thương và lời ru, sự chăm sóc.

Bà: mang đến những câu chuyện cổ tích, dạy dỗ những giá trị văn hóa tốt đẹp.

Bố: dạy dỗ những kiến thức, giúp trẻ em hiểu biết.

4. Sự ra đời của xã hội

Chữ viết, bàn ghế, cục phấn, cái bảng, trường học… đều là những đồ dùng học tập của con người.

Thầy giáo, cô giáo là người dạy dỗ, cung cấp kiến thức.

III. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chuyện cổ tích của loài người.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ hường viết về những tình cảm gần gũi, bình dị, trong sáng của đời sống gia đình và cuộc sống hàng ngày. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của chị là bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”.

Để lý giải về nguồn gốc của loài người cho trẻ em thật khóa. Nhưng Xuân Quỳnh lại có cách giải thích đầy khéo léo, mà hài hước. Ở khổ thơ đầu, nhà thơ đã lí giải sự ra đời của loài người:

Trái đất lúc này vẫn còn trần trụi, không có dáng cây hay ngọn cỏ. Ngay đến cả mặt trời để sưởi ấm muôn loài cũng chưa xuất hiện. Trái đất chỉ toàn một màu đen, không hề có bất cứ một sắc màu khác. Và mọi vật sinh ra trên đời đều vì trẻ em. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy gì, vì vậy mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Màu xanh của cây cỏ, màu đỏ bông hoa giúp trẻ con nhận biết màu sắc. Cây cối, lá cỏ đã giúp trẻ con cảm nhận về kích thước. Còn tiếng chim hót, tiếng gió thổi cho trẻ con cảm nhận âm thanh. Dòng sông ra đời giúp trẻ con có nước để tắm. Biển xuất hiện để trẻ con suy nghĩ, cung cấp thực phẩm và là nơi tìm hiểu, khám phá. Khi trẻ con bắt đầu chập chững những bước đi đầu tiên, cũng là lúc con đường xuất hiện.

Nhưng trẻ con vẫn còn cần có tình yêu thương, vì thế mà người mẹ đã xuất hiện:

Đoạn thơ được mở đầu với sự có mặt của người mẹ trong thế giới. Lý do mẹ có mặt trên đời thật đơn giản nhưng vô cùng ý nghĩa. Trẻ con cần có bàn tay dịu dàng chăm sóc, lời hát ru ngọt ngào của người mẹ. Bởi vậy mà mẹ xuất hiện để đem đến tình yêu thương bao la. Những câu thơ được mở đầu bằng chữ “từ” nhằm khẳng định nguồn gốc ra đời của lời ru. Lời ru được sinh ra từ những thứ thật giản dị, dễ tìm và dễ thấy. “ Từ cái bống, cái bang, từ bông hoa rất thơm, từ vị gừng rất đắng, từ vết lấm chưa khô, từ đầu nguồn cơn mưa, từ bãi sông cát vắng…”. Tất cả những điều đó đều ở xung quanh trẻ em, gần gũi và quen thuộc. Trong lời ru đó đã gửi gắm âm thanh, mùi vị, hương sắc, hình dáng… của thiên nhiên để con trẻ cảm nhận. Lời ru cũng như tình yêu của mẹ đều có nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, tự nhiên như trời đất vốn có. Tình yêu của mẹ cũng lớn lao, mênh mông như thế và được gửi gắm vào trong những lời hát ru.

Tiếp đến, Xuân Quỳnh đã lý giải sự xuất hiện của bà. Bà chính là người đem đến cho trẻ con:

Chắc hẳn tuổi thơ của mỗi người đều sẽ in đậm hình ảnh người bà nhân hậu với những truyện cổ tích quen thuộc như: con cóc, nàng tiên; chuyện cô Tấm ở hiền; thằng Lý Thông ở ác… Qua những câu chuyện đó, điều mà bà muốn gửi gắm đó chính là cội nguồn và văn hóa của dân tộc, hướng đến cách sống hiền lành, lương thiện.

Có mẹ đem đến tình thương, có bà dạy dỗ đạo đức, trẻ em còn cần có bố. Bố đã dạy cho trẻ em những hiểu biết của loài người. Nhờ “bố bảo”, “bố dạy” mà trẻ em “ biết ngoan”, “biết nghĩ”. Con người mở rộng tầm hiểu biết, ngày một khám phá mọi sự vật, mọi hiện tượng xung quanh:

Khi cuộc sống ngày càng phát triển, con người được học hành. Trường học được mở ra để dạy trẻ em học, thầy cô giáo chính là người cung cấp kiến thức, dạy dỗ trẻ em nên người. Lớp, trường, bàn, ghế, cái bảng, cục phấn, chữ viết, ông thầy.. là những biểu tượng thể hiện sự thay đổi kỳ diệu cuộc sống loài người trên trái đất ngày một văn minh. Dưới ánh sáng mặt trời, loài người được sống trong ánh sáng của khoa học, của giáo dục, ánh sáng của văn minh:

Như vậy, bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” đã đem đến một cách lý giải độc đáo về nguồn gốc của loài người. Qua đó, Xuân Quỳnh muốn bộc lộ lòng yêu thương trẻ em sâu sắc.

“Chuyện cổ tích về loài người” là một trong những bài thơ hay của Xuân Quỳnh. Với bài thơ này, Xuân Quỳnh đã lí giải cho người đọc về nguồn gốc của loài người một cách độc đáo mà thú vị.

Khi trái đất vẫn còn trần trụi, không có một dáng cây hay ngọn cỏ. Ánh sáng của mặt trời cũng chưa xuất hiện, chỉ toàn là bóng đêm. Trời đã sinh ra trẻ em đầu tiên – đây chính là cách lý giải nguồn gốc có phần trái ngược với thực tế, nhưng được xuất phát từ tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ dành cho con trẻ.

Mọi vật trên trái đất xuất hiện đều vì trẻ em. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy gì, vì vậy mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Để giúp trẻ con nhận biết màu sắc thì cây mới có màu xanh, hoa mới có màu đỏ. Không chỉ màu sắc mà còn có âm thanh được trẻ con cảm nhận khi loài chim được sinh ra với tiếng hót. Dòng sông, biển cả, đám mây, con đường ra đời cũng là để phục vụ cuộc sống của trẻ con. Mọi sự vật của tự nhiên đều được ra đời nhờ có trẻ em.

Tiếp đến, Xuân Quỳnh lí giải nguồn gốc ra đời của gia đình, đầu tiên là sự xuất hiện của mẹ:

Đoạn thơ được mở đầu với sự có mặt của người mẹ trong thế giới. Lý do mẹ có mặt trên đời thật đơn giản nhưng vô cùng ý nghĩa. Trẻ con cần có bàn tay dịu dàng chăm sóc, lời hát ru ngọt ngào của người mẹ. Bởi vậy mà mẹ xuất hiện để đem đến tình yêu thương bao la. Những câu thơ được mở đầu bằng chữ “từ” nhằm khẳng định nguồn gốc ra đời của lời ru. Lời ru được sinh ra từ những thứ thật giản dị, dễ tìm và dễ thấy. “ Từ cái bống, cái bang, từ bông hoa rất thơm, từ vị gừng rất đắng, từ vết lấm chưa khô, từ đầu nguồn cơn mưa, từ bãi sông cát vắng…”. Tất cả những điều đó đều ở xung quanh trẻ em, gần gũi và quen thuộc. Trong lời ru đó đã gửi gắm âm thanh, mùi vị, hương sắc, hình dáng… của thiên nhiên để con trẻ cảm nhận. Lời ru cũng như tình yêu của mẹ đều có nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, tự nhiên như trời đất vốn có. Tình yêu của mẹ cũng lớn lao, mênh mông như thế và được gửi gắm vào trong những lời hát ru.

Sau đó, người bà đã đến với thế giới để giúp trẻ con hiểu hơn về những nét đẹp của đất nước, văn hóa:

Chắc hẳn tuổi thơ của mỗi người đều sẽ in đậm hình ảnh người bà nhân hậu với những truyện cổ tích quen thuộc như: con cóc, nàng tiên; chuyện cô Tấm ở hiền; thằng Lý Thông ở ác… Qua những câu chuyện đó, điều mà bà muốn gửi gắm đó chính là cội nguồn và văn hóa của dân tộc, hướng đến cách sống hiền lành, lương thiện.

Nhưng trẻ con cũng cần phải có hiểu biết, bởi vậy mà người bố đã ra đời:

Nhờ “bố bảo”, “bố dạy” mà trẻ em “ biết ngoan”, “biết nghĩ”. Con người mở rộng tầm hiểu biết, ngày một khám phá mọi sự vật, mọi hiện tượng xung quanh. Không chỉ vậy, khi cuộc sống ngày càng phát triển, trường học đã ra đời. Đó chính là biểu hiện của một xã hội văn minh. Lớp, trường, bàn, ghế, cái bảng, cục phấn, chữ viết, ông thầy.. là những biểu tượng thể hiện sự thay đổi kỳ diệu cuộc sống loài người trên trái đất ngày một văn minh.

Với “Chuyện cổ tích về loài người”, Xuân Quỳnh đã bộc lộ tình yêu thương sâu sắc dành cho trẻ em. Đồng thời gửi gắm thông điệp rằng hãy chăm sóc và nâng niu trẻ em.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ viết nhiều cho thiếu nhi. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của chị dành là bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”.

Mở đầu, nhà thơ đã hình dung được cuộc sống trên trái đất khi mới có loài người “chỉ toàn là trẻ con”. Trái đất vẫn còn hoang sơ “trụi trần”, chưa có màu xanh, “không dáng cây ngọn cỏ”:

Đó là khi trái đất vẫn còn trần trụi, không có một dáng cây hay ngọn cỏ. Ánh sáng của mặt trời cũng chưa xuất hiện, chỉ toàn là bóng đêm. Trời đã sinh ra trẻ em đầu tiên – đây chính là cách lý giải nguồn gốc có phần trái ngược với thực tế. Sau đó, tác giả lại lí giải cho người đọc về sự ra đời của mọi vật. Tất cả bắt nguồn từ trẻ em. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy gì, vì vậy mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Để giúp trẻ con nhận biết màu sắc thì cây mới có màu xanh, hoa mới có màu đỏ. Không chỉ màu sắc mà còn có âm thanh được trẻ con cảm nhận khi loài chim được sinh ra với tiếng hót. Dòng sông, biển cả, đám mây, con đường ra đời cũng là để phục vụ cuộc sống của trẻ con. Qua việc lí giải này, người đọc thấy được tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ dành cho trẻ em.

Tiếp đến, tác giả đã lí giải sự ra đời của người mẹ trong mối liên hệ với trẻ em:

Tình mẫu tử vốn là thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cuộc sống. Người mẹ đã dành cho trẻ con sự chăm sóc từ khi mới sinh ra, cho đến khi lớn lên, trưởng thành. Người mẹ nâng niu con trong bàn tay, chăm sóc con từ cái ăn đến giấc ngủ với lời ru, tiếng hát. Những lời ru đã mở ra cho trẻ con những hiểu biết về thế giới xung quanh. Tác giả đã liệt kê ra các hình ảnh, màu sắc, hương vị xuất hiện từ lời ru của mẹ. Chỉ bằng những câu thơ ngắn gọn, Xuân Quỳnh đã giúp cho người đọc hiểu được ý nghĩa của người mẹ đối với trẻ con thật là sâu sắc.

Không chỉ có mẹ, người bà cũng xuất hiện trong thế giới loài người để đem đến cho trẻ con:

Trẻ em cần có thêm hiểu biết. B ố đã xuất hiện và là người giúp trẻ em biết suy nghĩ và ngoan ngoãn hơn. Nhờ sự dạy dỗ của bố mà trẻ em trở nên trưởng thành hơn. Bố còn là người dạy cho trẻ biết khám phá những điều mới mẻ trong cuộc sống: đâu là mặt bể, đâu là con đường, núi như thế nào và trái đất ra sao… Khi đã có nói, rồi có chữ viết, có nền giáo dục. Con người được học hành và cuộc sống con người ngày một văn minh: biết mở trường dạy trẻ em học, biết đào tạo, biết “sinh ra thầy giáo” để dạy dỗ trẻ em.

Tóm lại, bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” là một cách lí giải thú vị về nguồn gốc của con người. Những hình ảnh thơ gần gũi, giọng thơ hóm hỉnh và ngôn ngữ hồn nhiên đã góp phần làm nên thành công của bài thơ.

Chuyện cổ tích về loài người là một trong những bài thơ nổi tiếng của Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi. Bài thơ in đậm phong cách sáng tác của nhà thơ Xuân Quỳnh.

Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh đã lí giải nguồn gốc của loài người một cách độc đáo:

Hình ảnh trái đất lúc này còn chưa có sự sống. Khắp mọi nơi bao trùm bởi một màu đen. Trẻ em được sinh ra đầu tiên. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy. Vậy nên mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Màu xanh của cây cỏ, màu đỏ bông hoa giúp trẻ con nhận biết màu sắc. Cây cối, lá cỏ đã giúp trẻ con cảm nhận về kích thước. Tiếng chim hót, tiếng gió thổi cho trẻ con cảm nhận âm thanh. Dòng sông ra đời giúp trẻ con có nước để tắm. Biển xuất hiện để trẻ con suy nghĩ. Con đường hình thành để trẻ con tập đi. Mọi sự vật ra đời để đáp ứng nhu cầu của trẻ con.

Ngay cả những người thân trong gia đình cũng xuất hiện bởi trẻ con cần tình yêu, hiểu biết:

Nhưng trẻ con còn cần phải học hỏi thêm những kiến thức. Vậy là bố đã xuất hiện. Nhờ “bố bảo”, “bố dạy” mà trẻ em “ biết ngoan”, “biết nghĩ”. Con người mở rộng tầm hiểu biết, ngày một khám phá mọi sự vật, mọi hiện tượng xung quanh:

Trẻ con lớn dần lên, và cần biết thêm nhiều kiến thức. Vậy là trường học được mở ra để dạy trẻ em học, thầy cô giáo chính là người cung cấp kiến thức, dạy dỗ trẻ em nên người. Lớp, trường, bàn, ghế, cái bảng, cục phấn, chữ viết, thầy giáo à những biểu tượng thể hiện sự thay đổi kỳ diệu cuộc sống loài người trên trái đất ngày một văn minh.

Advertisement

Với giọng thơ hồn nhiên, Xuân Quỳnh đã đem đến một lí giải thú vị về nguồn gốc loài người. Nhà thơ cũng gửi gắm tình yêu thương sâu sắc dành cho trẻ em của mình.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ có nhiều sáng tác viết cho thiếu nhi. Một trong số đó phải kể đến là “Chuyện cổ tích về loài người”. Bài thơ đã lí giải về nguồn gốc của loài người một cách rất thú vị:

“Chuyện cổ tích về loài người” được viết theo hình thức một bài thơ, nhưng lại giàu tính tự sự, giống như một câu chuyện được kể lại về nguồn gốc loài người. Đó là khi trái đất vẫn còn trần trụi, không có một dáng cây hay ngọn cỏ. Ánh sáng của mặt trời cũng chưa xuất hiện, chỉ toàn là bóng đêm. Không khí có duy nhất một màu đen, những màu sắc khác chưa xuất hiện. Trời đã sinh ra trẻ em đầu tiên – đây chính là cách lý giải nguồn gốc có phần trái ngược với thực tế. Nhưng qua việc lí giải này, người đọc thấy được sự quan tâm, cũng như tình yêu thương dành cho trẻ con của Xuân Quỳnh.

Và rồi, mọi vật xuất hiện để đáp ứng những nhu cầu của trẻ con. Đôi mắt của trẻ con rất sáng nhưng chưa thấy gì. Bởi vậy, mặt trời đã nhô cao, chiếu sáng vạn bật để có thể giúp trẻ con nhìn rõ. Cây, cỏ ra đời giúp trẻ con có thể phân biệt được màu sắc. Chim chóc ra đời giúp trẻ con cảm nhận được âm thanh. Dòng sông, đám mây, biển cả giúp trẻ con biết cảm nhận về giá trị cuộc sống. Còn con đường xuất hiện là giúp trẻ con tập đi…

Không chỉ vậy, trẻ em cũng cần có tình yêu thương. Bởi vậy mà những người thân như bà, mẹ, bố đã xuất hiện:

Trước tiên là mẹ, đó là người quan trọng nhất đối với trẻ con. Mẹ đã nuôi lớn, chăm sóc và dạy dỗ trẻ con. Lời hát ru ngọt ngào của mẹ đưa trẻ con vào giấc ngủ bình yên. Bàn tay mẹ bồng bé trẻ con, nâng niu với tình yêu thương vô bờ. Trong lời ru đó của mẹ gửi gắm âm thanh, mùi vị, hương sắc, hình dáng của cuộc sống. Tình yêu của mẹ bao la, lớn lao đến vô cùng.

Tiếp đến, trẻ con cũng khao khát được nghe những câu chuyện ngày xửa ngày xưa. Vậy là người bà đã xuất hiện:

Những câu chuyện bà kể giúp trẻ con biết hiểu thêm về truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Những truyện cổ tích về con cóc, nàng tiên; chuyện cô Tấm ở hiền; thằng Lý Thông ở ác… qua giọng kể của bà trở nên hấp dẫn, sinh động hơn. Không chỉ vậy, bà còn gửi gắm cả bài học quý giá về nét đẹp của cội nguồn và văn hóa của dân tộc, hướng trẻ con đến lối sống tốt đẹp hơn.

Trong quá trình trưởng thành, trẻ con sẽ không ngừng học hỏi, khám phá. Bởi vậy mà người bố đã xuất hiện để dạy cho trẻ con nhiều kiến thức thú vị. Bố dạy cho trẻ con “biết ngoan, biết nghĩ” – uốn nắn để trẻ con nên người. Bố còn là kho tàng tri thức, giải đáp cho trẻ con mọi thắc mắc về cuộc sống.

Dù vậy, bố cũng không thể mãi đồng hành cùng trẻ con, vậy là trường học ra đời:

Cập nhật thông tin chi tiết về Top 6 Tác Phẩm Hay Nhất Của Nhà Văn Vũ Phương Thanh (Gào) trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!