Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 10: Thuyết Minh Một Tác Giả Văn Học (Dàn Ý + 23 Mẫu) Viết Về Nhà Văn Mà Em Yêu Thích # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 10: Thuyết Minh Một Tác Giả Văn Học (Dàn Ý + 23 Mẫu) Viết Về Nhà Văn Mà Em Yêu Thích được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dàn ý thuyết minh về tác giả văn học

Viết về nhà văn mà em yêu thích

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Tuân

Thuyết minh về tác giả văn học – Nguyễn Du

Thuyết minh về tác giả văn học – Nguyễn Đình Chiểu

Thuyết minh về tác giả văn học – Nguyễn Trãi

Ví dụ về dàn ý thuyết minh tác giả Nguyễn Du

*Yêu cầu của đề bài

– Về nội dung: Đề bài yêu cầu thuyết minh về một tác gia và một tác phẩm nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam – Nguyễn Du và “Truyện Kiều”. Trước hết, chúng ta cần nêu được những nét tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du. Sau đó, chúng ta thuyết minh kiệt tác “Truyện Kiều” trên các phương diện: nguồn gốc, thể loại, tóm tắt, giá trị tư tưởng và nghệ thuật,…

*Về cách thức làm bài: Chúng ta vận dụng kết hợp các phương pháp thuyết minh như: phương pháp định nghĩa, phương pháp phân loại, phương pháp so sánh,… Về kết cấu, bài văn nên được kết cấu theo trình tự logic: lần lượt thuyết minh về nhân thế và sự nghiệp của Nguyễn Du, nguồn gốc , thể loại, tóm tắt, giá trị nội dung và nghệ thuật của “Truyện Kiều”. Chúng ta nên kết hợp thuyết minh và biểu cảm để bài văn thêm sinh động.

1. Mở bài

– Giới thiệu tác gia Nguyễn Du: là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới.

– Giới thiệu về “Truyện Kiều”: là kiệt tác của Nguyễn Du, là tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

2. Thân bài

a) Giới thiệu về Nguyễn Du:

– Cuộc đời:

Tên, hiệu, năm sinh năm mất: tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765), mất năm Canh Thìn (1820).

Quê hương: quê cha ở Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà TĨnh; quê mẹ ở Bắc Ninh, nhưng ông lại được sinh ra ở Thăng Long. Nhờ đó, Nguyễn Du dễ dàng tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa.

Gia đình: đại quý tộc, nhiều đời làm quan to, có truyền thống làm thơ văn và say mê ca kĩ.

Thời đại: sinh ra và lớn lên trong thời kì lịch sử đầy biến động dữ dội của xã hội phong kiến.

Cuộc đời: đầy bi kịch, Nguyễn Du sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở với anh trai là Nguyễn Khản. Gia đình tan tác, bản thân ông cũng đã từng lưu lạc “mười năm gió bụi “ở quê vợ Thái Bình. Nhưng chính những cơ cực, vất vả đó đã hun đúc cho ông vốn sống quý giá, và sự am hiểu sâu sắc vốn văn hóa dân gian.

Nguyễn Du làm quan dưới hai triều Lê và Nguyễn. Ông là vị quan thanh liêm, được nhân dân tin yêu, quý trọng.

– Sự nghiệp văn học đồ sộ với những kiệt tác ở nhiều thể loại:

+ Các tác phẩm văn học của Nguyễn Du: thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập thơ (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục). Thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác “Truyện Kiều “và “Văn tế thập loại chúng sinh “.

+ Nội dung:

– Thơ văn Nguyễn Du có giá trị hiện thực sâu sắc, phản ánh chân thực cuộc đời cơ cực của ông nói riêng, và xã hội đen tối, bất công nói chung.

– Tác phẩm của Nguyễn Du chứa chan tinh thần nhân đạo – một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, luôn hướng tới đồng cảm, bênh vực, ngợi ca và đòi quyền sống cho con người, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh.

+ Nghệ thuật:

– Về thể loại: Nguyễn Du đã đưa hai thể thơ của truyền thống dân tộc đạt đến trình độ điêu luyện và mẫu mực cổ điển.

– Nguyễn Du đã tiểu thuyết hóa thể loại truyện Nôm, với điểm nhìn trần thuật từ bên trong nhân vật, và nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, sâu sắc.

– Về ngôn ngữ: Nguyễn Du đã có đóng góp to lớn, làm cho ngôn ngữ Tiếng Việt trở nên trong sáng, tinh tế và giàu có.

Nguyễn Du đã có những đóng góp to lớn, thúc đẩy tiến trình phát triển của văn học Việt Nam.

b) Giới thiệu về “Truyện Kiều”

– Tên gọi: Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột).

– Dung lượng: 3254 câu thơ lục bát.

– Nguồn gốc: “Truyện Kiều” được sáng tác dựa theo cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” – tiểu thuyết chương hồi của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Nguyễn Du đã “hoán cốt đoạt thai” tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, và đem lại cho Truyện Kiều” những sáng tạo mới mẻ cả về nội dung và nghệ thuật.

– Thể loại: truyện Nôm bác học.

– Tóm tắt sơ qua về tác phẩm.

– Giá trị tư tưởng:

Thể hiện khát vọng về tình yêu tự do và mơ ước công lí.

Là tiếng kêu thương đến đứt ruột cho thân phận con người, đặc biệt là nữ tài trong xã hội phong kiến.

Là bản cáo trạng đanh thép tội ác của các thế lực đen tối trong xã hôi xưa. Nguyễn Du phê phán mạnh mẽ sự “lên ngôi” của thế lực đồng tiền.

Là bức chân dung tinh thần tự họa của Nguyễn Du với “con tim thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”, trái tim chan chứa tình yêu thương con người.

– Giá trị nghệ thuật:

Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

Nghệ thuật tự sự mới mẻ.

Thể loại.

Ngôn ngữ trong sáng, điêu luyện, giàu sức gợi cảm, ẩn dụ, điển cố, …

Giọng điệu cảm thương rất phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo của Nguyên Du.

3. Kết bài

– Khẳng định tấm lòng nhân đạo, tài năng của Nguyễn Du và sức sống bất diệt của Truyện Kiều.

Năm nay, nhà văn Tô Hoài đã bước vào tuổi 90, vượt xa cái ngưỡng nhân sinh thất thập cổ lai hi và sự nghiệp văn chương của ông cũng đã kéo dài suốt bảy mươi năm. Quả là một hiện tượng hiếm có không chỉ ở nước ta mà cả trên thế giới. Bút danh Tô Hoài trở nên quá thân quen đối với nhiều thế hệ bạn đọc, trong đó có tôi.

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 17 – 9 – 1920 ở quê ngoại, tức làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ ; nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Còn quê nội của ông ở làng Cát Động, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ). Có thể gọi Tô Hoài là nhà văn của Hà Nội, vì ông sinh ra, lớn lên và gắn bó suốt cuộc đời mình với đất Thủ đô ngàn năm văn vật. Hình ảnh quê ngoại đã in sâu trong tâm khảm nhà văn, cung cấp tư liệu cho ông viết nên rất nhiều tác phẩm nổi tiếng.

Vốn có năng khiếu văn chương từ nhỏ nên Tô Hoài sáng tác từ khi mới hết tuổi thiếu niên. Nhà nghèo, không được học hành đến nơi đến chốn, Tô Hoài tự bù lại bằng cách lăn lộn học ở trường đời. Ông làm nhiều việc để kiếm sống như thợ thủ công dệt lụa, dạy học tư, kế toán tiệm buôn…

Vừa đi làm, ông vừa tranh thủ đọc sách báo và tập viết văn. Là một người nặng lòng với quê hương nên ông đã lấy bút danh là Tô Hoài (sông Tô Lịch chảy qua phủ Hoài Đức quê ngoại).

Đến với văn chương từ năm 1939 và Tô Hoài trở nên nổi tiếng sau thiên truyện Dế Mèn phiêu lưu kí. Được giác ngộ cách mạng, ông tích cực tham gia vào phong trào Thanh niên phản đế và đến năm 1943 gia nhập Hội văn hoá cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt Minh và viết báo bí mật. Cách mạng Tháng Tám 1945 bùng nổ, trong hàng ngũ trùng trùng điệp điệp quần chúng vùng lên giành chính quyền từ tay thực dân Pháp và phát xít Nhật cũng có mặt Tô Hoài.

Năm 1947, ông lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực báo chí. Từ năm 1951, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam và đã giữ các chức vụ Tổng thư kí, phó Tổng thư kí Hội, kiêm Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội. Ông còn là đại biểu Quốc hội nhiều khóa. Tập Truyện Tây Bắc nội dung phản ánh hiện thực cuộc sống cơ cực, tăm tối và quá trình đến với cách mạng của đồng bào miền núi là kết quả chuyến đi ròng rã tám tháng của nhà văn trên khắp các nẻo đường chiến khu, chung sống và gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong tập truyện này, tác phẩm được nhắc đến nhiều và có giá trị nhất là Vợ chồng A Phủ, đã được trao giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 1945 – 1955.

Kháng chiến chống Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, chấn động thế giới. Miền Bắc được giải phóng hoàn toàn. Đảng lãnh đạo nhân dân khôi phục và xây dựng đất nước sau chiến tranh. Nhà văn Tô Hoài có điều kiện thuận lợi để tập trung vào sáng tác. Ông đi nhiều, viết nhiều và thành công trong nhiều thể loại : truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, hồi kí, kịch bản phim, phê bình tiểu luận văn học…

Các tác phẩm chính trước cách mạng gồm: Dế Mèn phiêu lưu kí, Quê người, Cỏ dại, Nhà nghèo. Sau cách mạng gồm: Núi cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Miền Tây, Mười năm, Tự truyện, Chuyện cũ Hà Nội… Khoảng hơn chục năm trở lại đây, ông cho ra đời một số tác phẩm được dư luận rất quan tâm như Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Chiếc áo tế… Tất cả những gì về lịch sử và hiện thực cuộc sống mà khối óc sáng suốt và trái tim nhạy cảm của nhà văn thu nhận được qua cuộc hành trình dằng dặc xuyên thế kỉ đã được tái hiện qua từng trang viết. Mỗi tác phẩm đều phản ánh những giai đoạn thăng trầm của dân tộc nói chung và của bản thân nhà văn nói riêng. Với những đóng góp to lớn cho nền văn học dân tộc, nhà văn Tô Hoài đã được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.

Hồi mới học lớp 3, tôi đã say mê đọc cuốn truyện Dế mèn phiêu lưu kí, ngoài bìa vẽ chú Dế Mèn hăng hái trên con đường phiêu lưu mới mẻ và hấp dẫn. Tôi thích thú hoà mình vào thế giới của các sinh vật nhỏ bé giữa thiên nhiên. Biệt tài kể chuyện của Tô Hoài đã thể hiện rất rõ trong cuốn truyện thiếu nhi này và người đọc có thể tìm thấy bóng dáng xã hội loài người qua tác phẩm. Lớn hơn một chút, tôi đọc Đảo hoang, Chuyện nỏ thần… Tôi cũng đã đọc “ké” của mẹ tôi – một giáo viên Văn Trung học phổ thông – khá nhiều tác phẩm của Tô Hoài như: Truyện Tây Bắc, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều… để rồi nhận ra rằng vốn sống của tác giả giống như một mỏ than tầng tầng lớp lớp, có trữ lượng vô cùng lớn, khai thác biết bao giờ cho cạn.

Tôi rất thích lối kể chuyện tự nhiên, dung dị, đặc biệt là nghệ thuật tả cảnh, tả người, tả tâm lí nhân vật… đã đạt đến trình độ bậc thầy của nhà văn Tô Hoài. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên thế giới. .

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương đồ sộ của Tô Hoài ít có tác giả nào sánh kịp. Vốn sống phong phú, trình độ hiểu biết sâu rộng, khả năng thiên phú và quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, dẻo dai… đã tạo nên một tên tuổi được đông đảo bạn đọc yêu mến và kính trọng. Tôi vẫn mong tiếp tục được đón nhận những tác phẩm mới của nhà văn Tô Hoài – người đã vượt xa cái ngưỡng “thất thập cổ lai hi” mà sức sống và sức viết vẫn bền bỉ, dẻo dai, thật đáng khâm phục!

Nguyễn Tuân (1910-1987) là nhà văn lãng mạn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam, một cây bút tiên phong của nền văn học mới. Con người và sự nghiệp văn học Nguyễn Tuân với những nét phong cách nổi bật tài hoa, uyên bác đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả.

Nguyễn Tuân quê ở Nhân Mục, thôn Thượng Đình, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân – Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Thân sinh của Nguyễn Tuân là cụ Nguyễn An Lan, tú tài khoa thi Hán học cuối cùng. Một nhà nho tài hoa bất đắc chí có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và phong cách Nguyễn Tuân.

Ông học đến cuối bậc thành chung thì bị đuổi vì tham gia cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam. Năm 1930, do “xê dịch” không có giấy phép qua Lào sang Thái Lan, ông bị tù. Ra tù, ông bắt đầu nghiệp cầm bút bằng việc viết báo, viết văn. Nhưng ông chỉ thực sự nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm Một chuyến đi, Vang bóng một thời… Năm 1941, ông lại bị bắt giam vì giao du với những người hoạt động chính trị. Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân trở thành một cây bút tiêu biểu hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến, giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948-1958. Ông mất ngày 28/7/1987 tại Hà Nội. Với những đóng góp to lớn và có giá trị cho nền văn học nước nhà, năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật.

Con người Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Ông yêu tiếng mẹ đẻ, trân trọng những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, những kiệt tác văn chương trung đại, những lời ca tiếng hát của mỗi miền quê, các món ăn truyền thống, dân dã… Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Với ông, viết văn là để thể hiện cái tôi một cách kì cùng. Con người ông rất mực tài hoa, uyên bác, thông hiểu sâu sắc nhiều ngành khoa học và nghệ thuật. Ông cũng là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình, coi nghệ thuật là một hình thái lao động cực kì nghiêm túc, thậm chí nghệ thuật là một sự khổ hạnh (những đứa con hoang). Những đặc điểm ấy về con người Nguyễn Tuân có ảnh hưởng lớn đến phong cách nghệ thuật của ông.

Nguyễn Tuân thử bút ở nhiều thể loại truyện ngắn hiện thực trào phúng, thơ, nhưng mãi đến đầu năm 1938 mới nhận ra sở trường của mình và thành công với: Một chuyến đi (1938); Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941). Sự nghiệp của ông có thể chia làm hai chặng khá rõ rệt trước và sau Cách mạng tháng Tám từ một nhà văn lãng mạn chuyển thành nhà văn cách mạng.

Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân sáng tác xung quanh ba đề tài chính: “Chủ nghĩa xê dịch” thể hiện cái tôi lãng tử của nhà văn theo bước chân qua những miền quê để đi tìm cảm giác mới lạ, “thay thực đơn cho các giác quan”. Tuy Nguyễn Tuân tìm đến với chủ nghĩa xê dịch “như một phản ứng bất lực trước thời cuộc nhưng với đề tài này, ông đã thể hiện được những cảnh sắc và phong vị quê hương đất nước bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa, qua đó nhà văn bày tỏ được tấm lòng yêu nước thiết tha trong tác phẩm của mình: Một chuyến đi, “Thiếu quê hương…”.

Ở đề tài “vang bóng một thời”, nhà văn đi tìm và làm sống lại vẻ đẹp riêng của một thời xưa cũ với những phong tục văn hóa, những thú tiêu dao lành mạnh, tao nhã, gắn với những con người thuộc lớp nhà nho tài hoa bất đắc chí. Những sáng tác này thể hiện một cách kín đáo và ý nhị tấm lòng yêu mến, trân trọng những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Tác phẩm chính là tập truyện ngắn Vang bóng một thời.

Đề tài đời sống tâm trạng bi quan của một cái tôi hoang mang, bế tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện, qua đó ta thấy được tâm trạng khủng hoảng của lớp thanh niên đương thời. Nhưng đôi khi ở đó vẫn vút lên “niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao, được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật”. Tác phẩm chính là Chiếc lư đồng mắt cua, Tàn đèn dầu lạc…

Sau Cách mạng, lòng yêu nước và sự bất mãn với chế độ thực dân đã đưa Nguyễn Tuân đến với Cách mạng và kháng chiến. Sáng tác của ông trong thời kỳ này tập trung phản ánh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân anh hùng, tài hoa trong chiến đấu và sản xuất. Tác phẩm Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Sông Đà (1960).

Dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Tuân cũng có một phong cách nghệ thuật độc đáo mà biểu hiện chính là sự tài hoa, uyên bác.

Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân được biết đến như là một nhà văn duy mĩ. Ông trân trọng và đề cao cái đẹp. Với ông, cái đẹp chỉ tồn tại trong một thời xưa cũ, do vậy, ông đi tìm và làm sống dậy cái đẹp của thời xưa và phê phán, chối bỏ xã hội trên phương diện văn hóa. Nguyễn Tuân quan niệm xã hội đương thời là “xã hội cơ khí giết chết cái đẹp”. Ông cũng nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ, tập trung miêu tả những nhà nho tài hoa bất đắc chí, đứng cao hơn hoàn cảnh. Nhân vật của ông trong giai đoạn này mang dáng dấp của những con người “đặc tuyển”. Nguyễn Tuân đi tìm cảm giác mới lạ, “cái nguồn sống bồng bột tắc lối thoát (Tóc chị Hoài) trong “xê dịch” và trụy lạc.

Ông có một lối viết tự do, phóng túng, vừa đĩnh đạc, cổ kính lại vừa trẻ trung, hiện đại không chỉ dùng vốn ngôn ngữ văn học phong phú, ông còn sử dụng hiểu biết về nhiều ngành nghệ thuật, khoa học khác như hội họa, điện ảnh, âm nhạc, quân sự, võ thuật… để gợi dựng hình tượng, đem đến người đọc nhiều liên tưởng thú vị.

Sau Cách mạng ông vẫn tiếp tục khẳng định nét tài hoa, uyên bác những cũng có những thay đổi rõ rệt. Cũng nhìn con người trên phương diện văn hóa nhưng Nguyễn Tuân không còn đối lập xưa và nay mà tìm được sự ấm áp của cuộc đời. Cái đẹp không chỉ có trong thời xưa cũ mà còn có trong thiên nhiên, đời sống lao động sản xuất và chiến đấu. Chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ có ở những con người đặc tuyển mà còn có ở đại chúng nhân dân, ngay trong nghề nghiệp của họ như anh bộ đội, chị dân quân, người lái đò sông Đà. Ông cũng không còn đối lập cái phi thường với cái bình thường. Nét tài hoa hòa lẫn với những tâm tư rất bình dị, rất người. Giọng văn không còn khinh bạc, mà có thì chỉ để ném vào mặt kẻ thù cướp nước, bán nước và các mặt tiêu cực của xã hội.

Với những nét độc đáo và riêng biệt nói trên, Nguyễn Tuân tìm đến với thể loại tuỳ bút như một tất yếu và có công nâng tuỳ bút lên đỉnh cao. Do đó, ông được mệnh danh là “ông hoàng” của thể loại tuỳ bút. Tuỳ bút Nguyễn Tuân cũng đã thể hiện rõ phong cách phóng túng của ông. Các sáng tác này giàu có thông tin và tính thời sự cao, có nhiều yếu tố truyện. Nhà văn đã

xây dựng được một lõi sự việc, các nhân vật được miêu tả một cách kĩ lưỡng, có tính cách riêng, đi sâu vào tâm lí. Lời văn kết hợp triết luận, trữ tình bàn bạc một cách thoải mái. Qua đó ta thấy được tâm hồn phóng túng, sức liên tưởng tưởng tượng bất ngờ, táo bạo của nhà văn, không tồn tại ở thể tĩnh tại mà nhìn trong chiều sâu thời gian và chiều rộng không gian. Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân giàu có, đa dạng, một mặt thể hiện cảm xúc trữ tình của một cái tôi uyên bác mà trẻ trung, hiện đại; mặt khác thể hiện sự tinh tế, giàu cảm xúc thẩm mĩ, đầy chất thơ và khả năng tạo hình. Câu văn co duỗi nhịp nhàng.

Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời tìm kiếm và khẳng định cái đẹp, một định nghĩa về người nghệ sĩ. Ông có đóng góp to lớn cho quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt, đặc biệt là thể loại tuỳ bút. Ông xứng đáng là một nghệ sĩ lớn một nhà văn hóa lớn của dân tộc.

Đó là nỗi niềm của một con người với trái tim muốn bao dung tất cả khi viết về nàng Tiểu Thanh tài hoa nhưng bạc mệnh. Và hẳn nhiên, trong tâm thức của của con người ấy, cũng có một nỗi lo sợ vô hình, sợ bị lãng quên, sợ bị ruồng rẫy, vì chính ông cũng là người có tài nhưng cuộc sống cũng chênh vênh. Con người tài hoa ấy chính là Nguyễn Du, đại thi hào của nền văn học Việt Nam và thế giới.

Nguyễn Du (1765 – 1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ hay Nam Hải điếu đồ, quê tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, một mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, cũng là quê hương của nhiều bậc trí giả của Việt Nam. Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc và có truyền thống về văn học. Cha ông là Nguyễn Nghiễm đậu nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ tức Tể Tướng. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, con gái một người là chức câu kế, quê ở xứ Kinh Bắc, thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Nguyễn Du bị ảnh hưởng bởi giọng điệu ngọt ngào của những làn quan họ quê mẹ mà sau này ta còn bắt gặp rất nhiều trong những sáng tác của ông. Quê hương và gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn và tạo nên mảnh đất màu mỡ để tài năng của Nguyễn Du phát triển suốt thời kỳ niên thiếu.

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đầy biến động khi chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng đang trên bờ vực của sự suy tàn và sụp đổ. Các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Nguyễn tranh giành quyền binh gây ra các cuộc nội chiến kéo dài. Giai cấp thống trị thối nát, quan tham hoành hành, tàn bạo. Kéo theo đó là cuộc sống khốn cùng của nhân dân khi họ phải oằn mình với những thứ thuế vô lý, những đạo luật hà khắc, những cuộc bắt lính tòng quân làm tan nát biết bao gia đình. Và hệ quả tất yếu của những đè nén, áp bức là bão táp của các cuộc khởi nghĩa nông dân, đặc biệt phải kể đến cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ chỉ huy. Sự suy đồi về đạo đức, lễ giáo phong kiến sụp đổ, đồng tiền trở thành thứ có thể quy đổi mọi giá trị khiến cho tầng lớp trí thức mất niềm tin hoàn toàn vào chế độ phong kiến. Chính những biến động lịch sử ấy đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức và tư tưởng của Nguyễn Du. Ông thương xót cho tất cả kiếp người lầm than, dù họ là ai, xuất thân thế nào. Ông càng thương xót cho kiếp người tài hoa, tài tử mà bạc mệnh – những con người thù địch với chính chế độ mà họ đã từng dốc lòng phò tá. Đấy cũng là điều dễ hiểu, bởi lẽ chế độ phong kiến đã trải qua thời kỳ thịnh vượng, hoàng kim của mình và giờ là lúc nó bộc lộ rõ bản chất thối nát của mình. Sự phát triển của chế độ phong kiến không còn phù hợp với sự phát triển nhận thức của tầng lớp trí thức đương thời nên nó sẽ sụp đổ để rồi được thay thế bằng một chế độ khác, phù hợp hơn.

Bản thân Nguyễn Du là người thông minh, học rộng, biết nhiều. Sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, cả cha và anh của ông đều làm quan lớn dưới triều Nguyễn nên đến tận năm 11 tuổi, Nguyễn Du vẫn được sống trong giàu sang, phú quý. Đây là quãng thời gian Nguyễn Du được chứng kiến sự sa đọa của chúa Nguyễn, những cuộc tranh đua, giành giật chốn quan trường nên ông nhận thức rõ ràng về cuộc sống, lễ nghi của tầng lớp quý tộc đương thời. Nhận thức rõ ràng bao nhiêu ông lại càng thấy căm ghét nó bấy nhiêu. Thế nhưng sau quãng thời gian đó, cuộc đời Nguyễn Du thăng trầm, lên xuống theo sự biến động của dòng lịch sử. Năm 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông thấu hiểu nỗi đau đớn, lạc lõng của những đứa trẻ bơ vơ không cha, không mẹ. Đặc biệt quãng thời gian “mười năm gió bụi phong trần” (1776 – 1786) là thời gian Nguyễn Du lưu lạc, ăn nhờ ở đậu nơi quê vợ. Đây cũng là những năm tháng cùng cực, khổ sở, tủi nhục trong suốt cuộc đời của Nguyễn Du, đói không có cơm ăn, rét không có áo mặc. Ông tha hương, bơ vơ giữa cuộc đời đầy biến động. Những dòng tâm sự được ông viết trong thời gian này là sự dằn vặt, trăn trở của một con người nuôi chí lớn, khi nguyện ước chưa thành, khi chưa làm được gì rạng danh mà tóc đã bạc trắng:

Dù vậy, mười năm chìm nổi đất Bắc cũng là quãng thời gian ông đi nhiều, tiếp xúc nhiều với tất cả mọi hạng người. Nguyễn Du được sống gần dân, chứng kiến cuộc sống cơ cực, đau khổ của họ dưới sự đàn áp, bóc lột đến tận xương tủy của tầng lớp thống trị. Ông thấu hiểu và chia sẻ với nỗi đau của tất cả thập loại chúng sinh, từ trí sĩ, người giàu đến những con người lao động nhỏ bé đầy bất hạnh. Đặc biệt là trẻ em và phụ nữ. Dù là ai, khi chết đi họ cũng chỉ là những linh hồn cô đơn, nhỏ bé, tội nghiệp mà thôi. Có lẽ mười năm gió bụi phong trần là khoảng thời gian mang đến cho Nguyễn Du những trải nghiệm hoàn toàn khác với cuộc sống sung túc, giàu sang thuở thiếu thời để rồi ông có một vốn sống phong phú mở lòng để bao dung cho tất cả. Khó khăn cùng thăng trầm trong mười năm ấy chỉ là bước đệm để Nguyễn Du có tầm nhìn vượt thoát khỏi những ganh đua, những rào cản trong nhận thức bản thể của mình để mang tình thương vượt lên trên những định kiến hẹp hòi của chế độ, tiến đến với trái tim bao la của một vĩ nhân.

(Tố Hữu – Kính gửi cụ Nguyễn Du)

Đã gần ba thế kỷ trôi qua nhưng những vần thơ thấm đẫm nước mắt và tràn trề tình thương mà Nguyễn Du để lại vẫn còn nguyên giá trị. Tác phẩm của Nguyễn Du thể hiện những nỗi lòng u uất, những tâm trạng thổn thức đến bất an.

Nguyễn Du được coi là một thiên tài, một danh nhân văn hóa không chỉ của Việt Nam mà của cả nhân loại. Nhắc đến Nguyễn Du, chúng ta không thể không nói đến một trái tim luôn đau nỗi đau của con người. Mọi nỗi buồn đau, thống khổ của kiếp người vang động đến đều có thể khiến cho trái tim ấy rỉ máu. Từ đó Nguyễn Du viết nên những dòng thơ xót xa mà thấm đẫm tình người. Trong cuộc đời mình, ông cũng trải qua không ít dâu bể, biến cố nên mở đầu kiệt tác Truyện Kiều ông viết:

Nguyễn Du sinh năm 1765, mất năm 1820, tên chữ là Tố Như, quê ở Tiên. Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và văn chương ở Thăng Long. Năm 1802, ông được cử đi sứ Trung Quốc lần thứ hai, chưa kịp đi thì mắc bệnh mà mất. Ông để lại cho nền văn học, nước nhà một sự nghiệp văn chương đồ sộ trong đó Truyện Kiều xứng đáng là niềm tự hào của dân tộc ta.

Cuộc đời Nguyễn Du gắn liền với nhiều biến động lịch sử: chế độ phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên ở khắp nơi mà tiêu biểu là khởi nghĩa Tây Sơn. Ông trải qua một cuộc đời nhiều thăng trầm, lúc sống xa hoa, quyền quý, khi lưu lạc gió bụi nơi đất khách quê người. Bởi thế ông tích lũy được vốn sống phong phú và học tập được ngôn ngữ của nhân dân. Đó phải chăng là cơ sở cho tư tưởng nhân đạo trong thơ văn Nguyễn Du?

Đọc và tìm hiểu những sáng tác của Nguyễn Du, ta sẽ thấy ông xót xa nhất cho con người trong cảnh bể dâu trước những đổi thay trớ trêu của cuộc đời. Đó là những khi thân phận con người trở nên mỏng manh, bị vùi dập, bị giày xéo. Cả xã hội phong kiến lẫn định mệnh mù quáng đã vào hùa với nhau để hành hạ con người. Mà trong cảnh bể dâu kia, thân phận bi kịch điển hình nhất là những người tài sắc. Họ như những bông hoa nở trong dông tố, danh nhân cũng hóa nạn nhân, vàng ngọc cũng bị coi như đất bùn.

Tư tưởng nhân đạo trong thơ Nguyễn Du được thể hiện qua sự căm phẫn của ông đối với những thế lực chà đạp con người, hủy hoại tài năng:

(Đọc Tiểu Thanh Kí)

Ông luôn bày tỏ nỗi đau một cách bi phẫn trước những kiếp người thấp cổ bé họng, trước sự thất bại của cái thiện, cái mỹ. Trong trái tim bao la của ông, ta thấy cái phần thông thiết nhất luôn được dành cho thân phận bi kịch của những con người tài hoa bạc mệnh, đặc biệt là những người phụ nữ. Họ là những nạn nhân đáng thương nhất trong cuộc đời đầy lang sói, lắm biến thiên dâu bể này.

Đó là Đạm Tiên “nổi danh tài sắc một thì” mà phải chịu cảnh “sống làm vợ khắp người ta” để rồi “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” và cuối cùng chỉ còn lại “sè sè nấm đất bên đường”. Đó là Tiểu Thanh “son phấn có phần chôn vẫn hận – văn chương không mệnh đốt còn vương”. Tiêu biểu hơn tất cả là Thúy Kiều “sắc đành đòi một tài đành họa hai” mà phải chịu một đời truân chuyên chìm nổi “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, muốn thoát khỏi kiếp sống ô nhục lại bị đạp xuống sâu hơn, bế tắc hơn… Tất cả những thân phận phụ nữ tài sắc mà bất hạnh ấy được Nguyễn Du tổng kết trong hai câu thơ ứa máu khái quát quy luật nghiệt ngã của cuộc đời:

(Văn chiêu hồn)

Viết về những con người ấy, Nguyễn Du bày tỏ lòng nhân ái của con người đối với con người nhưng cũng chính là nỗi niềm của người tri kỷ, của kẻ cùng hội cùng thuyền, đồng bệnh tương lân. Nguyễn Du tìm thấy mình ở trong họ, tìm thấy họ ở trong mình. Cho nên lời thơ của ông chân thành đến tận đáy lòng. Ông truyền tất cả những đau đớn của trái tim vào những trang viết để tạo nên những “Tiếng thơ ai động đất trời”.

Nền văn học Việt Nam được tạo nên bởi nhiều tài năng lớn. Trong số đó Nguyễn Du luôn xứng đáng là đại diện xuất sắc lỗi lạc nhất cho văn học dân tộc ở mọi thời đại.

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê gốc ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh nhưng được sinh ra tại Thăng Long ngày 25 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 3 tháng 11 năm 1765). Xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, từng có nhiều người làm quan và nhiều người sáng tác văn học, cha là Nguyễn Nghiễm, từng là tể tướng triều Lê, mẹ là Trần Thị Tần, vợ thứ ba của cha, xuất thân từ một gia đình bình dân ở Bắc Ninh, vốn rất giỏi hát xướng, Nguyễn Du sớm kế thừa được những truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Cuộc đời của nhà thơ có nhiều biến đổi thăng trầm. Sau những năm tháng ấu thơ êm đềm và hạnh phúc, đến năm 10 tuổi tang thương bắt đầu ập đến: cha mất, tiếp theo hai năm sau mẹ cũng qua đời. Nguyễn Du phải đến sống nhờ nhà người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi hương đậu tam trường, rồi làm một chức quan võ ở Thái Nguyên. Năm 1789 nhà Lê sụp đổ, Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình, rồi tiếp đó về sống ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Đó là quãng đời “mười năm gió bụi” vô cùng long đong khổ cực của nhà thơ.

Năm 1802 nhà Nguyễn được thiết lập, Nguyễn Du bất đắc dĩ từ chối không được phải miễn cưỡng ra làm quan. Ông từng làm tri huyện, tri phủ Thường Tín, cai bạ Quảng Bình. Tiếp đó, năm 1813 ông được thăng chức học sĩ điện Cần Chánh và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước ông được thăng làm Tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Nguyễn Du được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc lần nữa nhưng chưa kịp đi thì ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn ông mất đột ngột trong một trận dịch lớn.

Trong cuộc đời nhiều sóng gió của mình Nguyễn Du đã để lại một sự nghiệp văn học vô giá: đồ sộ về số lượng, sâu sắc về nội dung, xuất sắc trong nghệ thuật thể hiện. Nguyễn Du sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Thơ chữ Hán có ba tập: Thanh Hiên thi tập, được làm lúc nhà thơ đang sống ở quê vợ Thái Bình và quê nhà Nghi Xuân; Nam trung tạp ngâm, viết trong thời gian Nguyễn Du làm quan ở Quảng Bình; Bắc hành tạp lục là tập thơ chữ Hán xuất sắc nhất, tập hợp những sáng tác ra đời trong lúc Nguyễn Du đi sứ ở Trung Quốc.

Trong những tập thơ này có nhiều bài thơ rất đặc sắc: Độc Tiểu Thanh kí , sở kiến hành, Long Thành cầm giả ca, Thái Bình mại ca giả. về thơ chữ Nôm, Nguyễn Du để lại kiệt tác Truyện Kiều và một tác phẩm cũng rất nổi tiếng: “Văn tế thập loại chúng sinh”.

Những sáng tác của Nguyễn Du trước hết cho thấy khả năng bao quát hiện thực và một cảm quan nhạy bén sắc sảo trước những vấn đề lớn của con người, của thời đại. Hiện thực cuộc sống với bao điều nhức nhối đã được Nguyễn Du ghi lại một cách trung thực và xúc động. Trên cái nền của sự phản ánh đó người đọc cũng thấy được ý thức phản kháng xã hội và đặc biệt là ý thức khẳng định, vun đắp cho cuộc sống hạnh phúc của con người của nhà thơ.

Trái tim của đại thi hào luôn thao thức cùng bao nỗi buồn vui của con người trên khắp chốn nhân gian: từ người ca nữ đất Long Thành nổi danh tài sắc thì giờ tủi hờn trong cảnh chiều tà xế bóng ( Long Thành cầm giá cá); từ nàng Kiều tài sắc hơn người mà một đời bất hạnh (Truyện Kiều); cho đến người hát rong (Thái Bình mại ca giả), những người ăn xin (Sở kiến hành), cả đến những cô hồn tội nghiệp đang vất vưởng trong khắp cõi trời đất (Văn chiêu hồn… tất cả đều hiện lên sống động trong bao niềm ưu tư trăn trở của Nguyễn Du. Hơn ai hết Nguyễn Du là một nhà hiện thực và nhân đạo vĩ đại của văn chương mọi thời đại bởi con mắt nhìn thấu cả sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt đến ngàn đời của ông

Không chỉ có vậy, sáng tác Nguyễn Du còn là minh chứng của một nghệ thuật đã đạt tới trình độ bậc thầy của một tài năng kiệt xuất. Ngôn ngữ văn chương, đặc biệt là tiếng Việt đạt đến đỉnh cao của sự nhuần nhuyễn, tinh tế, tự nhiên, có khả năng biểu hiện sâu sắc đời sống và nội tâm con người. Đó còn là thứ ngôn ngữ được kết hợp hài hoà giữa ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân, tạo nên nhiều sắc thái biểu hiện rất đa dạng.

Nguyễn Du còn đặc biệt thành công trong việc xây dựng nhân vật. Ông đã để lại cho nền văn học dân tộc nhiều điển hình nhân vật bất hủ. Đến Nguyễn Du thế giới nội tâm con người với bao biến thái tinh vi, phức tạp dường như mới được khám phá trọn vẹn ở những chiều sâu không cùng của nó. Có thể nói tác phẩm của Nguyễn Du đã đạt tới sự mẫu mực của nghệ thuật cổ điển.

Cuộc đời hơn năm mươi năm sống giữa trần gian của Nguyễn Du dẫu nhiều bi kịch cay đắng, có khi mất phương hướng trong những cơn lốc xoáy của lịch sử, thế nhưng trước sau Nguyễn Du vẫn là con người của tài hoa, của một trái tim luôn chan chứa dạt dào niềm yêu thương và nỗi xót đau vô hạn cho mỗi kiếp người bất hạnh trên khắp thế gian. Nguyễn Du là một tài năng, một tâm hồn mà càng qua thời gian càng ngời sáng.

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế và Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: “Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non”. Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: “Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức”. Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

Trong nền văn học Việt Nam, hiếm có nhà thơ nào vừa tài năng vừa đức độ như Nguyễn Đình Chiểu. Ông là một nhà thơ lớn của dân tộc ta với những áng văn chương bất hủ mang đậm giá trị văn học Việt Nam.

Nhà văn Nguyễn Đình Chiểu (hay được gọi là cụ Đồ Chiểu) sinh năm 1822 trong một gia đình phong kiến tại làng Tân Thới, tỉnh Gia Định và mất vào năm 1888. Tuy là một nhà thơ lớn của dân tộc nhưng cuộc đời ông lại lắm những gian truân, lận đận ngược xuôi. Là con đầu lòng trong một gia đình đông con, lại là con của vợ lẽ nên từ bé cuộc sống của ông đã cơ cực, vất vả. Năm lên 11, khi Nam Kì bị chiếm, cha gửi ông ra Huế ở nhờ nhà người bạn. Sau 8 năm, theo học tại nơi đây, ông trở lại miền Nam chăm lo đèn sách chờ ngày thi hương. Năm 1843, ông đỗ tú tài khi ấy ông mới 21 tuổi. Năm 1846,ông lại quay về Huế ôn thi hội. Ba năm sau đó, vừa đúng lúc ngày thi cận kề thì cũng là lúc ông nhận được tin mẹ mình qua đời. Ông lập tức về Nam chịu tang mẹ, bỏ dở dang việc thi cử. Trên đường về quê, ông bị ốm. Vì đường xá xa xôi, tiết trời oi bức, bệnh ông càng trở nặng, lại thêm nỗi đau vừa mất mẹ, thương khóc quá nhiều nên chẳng may ông bị mù cả hai mắt. Thế là giấc mộng công danh đã không thành, thân lại còn mang khiếm khuyết. Những tưởng tương lai, cuộc đời ông đến đây là chấm hết, cánh cửa cuộc đời như khép lại. Thế nhưng, ông quyết không đầu hàng số phận, bằng chính nghị lực và ý chí của bản thân, ông đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ biến đau thương thành động lực tiếp tục phấn đấu, vươn lên làm chủ số phận mình. Sau đó, ông về Gia Định vừa dạy học vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người dân.

Cuộc đời ông là một tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước, sự bất khuất trước quân thù. Tuy không nhìn thấy ánh sáng, không thể trực tiếp tham gia kháng chiến chống giặc ngoài chiến trường nhưng ông vẫn luôn bàn bạc việc nước với Đốc binh và trao đổi thư tín với Trương Định. Khi tản cư về Ba Tri (Bến Tre), Nguyễn Đình Chiểu vẫn trao đổi với các chí sĩ yêu nước và thường sáng tác những bài thơ phục vụ cho kháng chiến, động viên tinh thần chiến đấu của các anh chiến sĩ bộ đội ngoài sa trường. Mặc dù, nhiều lần ông bị bọn thực dân Pháp dụ dỗ mua chuộc nhưng ông vẫn luôn cự tuyệt và tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến.

Trước khi ra đi, ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam những tác phẩm nổi bật, mang đậm tư tưởng đạo lí, bản sắc văn hóa dân tộc. Các tác phẩm tiêu biểu như là: “Dương Từ-Hà Mậu”, “Lục Vân Tiên”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”,… đã góp phần tạo nên tên tuổi của ông như ngày hôm nay. Đặc biệt nhất là tác phẩm “Lục Vân Tiên” là một tuyệt tác đã để lại nhiều ấn tượng cho người đọc. Nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện cũng chính là hình ảnh ẩn dụ của nhà văn Nguyễn Đình Chiểu và cuộc đời đầy truân chuyên, sóng gió của chàng Lục Vân Tiên cũng chính là cuộc đời của ông ngoài đời thực. Dưới ngòi bút tài ba của Nguyễn Đình Chiểu, các nhân vật từ chính đến phụ, phản diện hay chính diện trong truyện đều được ông khắc họa một cách tinh tế, manh những màu sắc rất riêng biệt và đa dạng. Các tác phẩm của ông đều truyền đến cho đọc giả những giá trị đạo đức, đạo lý làm người trong cuộc sống.

Nguyễn Đình Chiểu sẽ luôn là một nhà thơ lớn của dân tộc ta và những áng thơ của ông luôn mang một tầm ảnh hưởng nhất định đến người dân Việt. Ông và những tuyệt tác của ông sẽ luôn sống mãi với thời gian trong trái tim mỗi người Việt Nam.

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tên tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ. Sau khi bị mù, ông còn lấy thêm hiệu là Hối Trai. Cha là Nguyễn Đình Huy, quê Thừa Thiên. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo nên từ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu đã được học chữ nghĩa thánh hiền. Năm 1843, ông đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế học để chuẩn bị thi tiếp.

Đến năm 1849, trước khi vào trường thi thì ông nhận được tin mẹ mất, đành bỏ dở để trở về Nam chịu tang. Trên đường về, phần do vất vả, bệnh tật, phần do thương mẹ, Nguyễn Đình Chiểu khóc đến nỗi bị đau mắt nặng rồi mù. Không khuất phục trước số phận bất hạnh, ông mở trường dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân nghèo; đồng thời sáng tác thơ ca để bày tỏ lòng yêu nước và thái độ căm thù quân xâm lược cùng bè lũ phong kiến bán nước. Nguyễn Đình Chiểu đã giữ vững khí tiết của một nhà Nho chân chính và tấm lòng son sắt với nước với dân cho đến hơi thở cuối cùng.

Nguyễn Đình Chiểu gặp rất nhiều bất hạnh trong cuộc đời riêng, ở tuổi thanh xuân, ông đã từng ôm ấp lý tưởng cao đẹp trí quân trạch dân, tức là phò vua giúp nước để thỏa chí nam nhi. Nhưng những tai ương dồn dập trút xuống khiến ông không thể thực hiện được lí tưởng ấy. Mẹ mất, đường công danh dang dở, vợ sắp cưới bội ước, bản thân lại mù lòa… Một con người bình thường khó có thể đứng vững trước ngần ấy chuyện không may liên tục xảy ra trong một thời gian ngắn, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã vượt qua tất cả bằng một nghị lực phi thường, bằng tình yêu cuộc sống mãnh liệt.

Advertisement

Có thể nói cuộc đời của nhà thơ mù Đồ Chiểu gắn bó chặt chẽ với cuộc đời của nhân dân lao động nghèo khổ. Ông vừa dạy chữ vừa dạy đạo lý làm người, vừa chữa thân bệnh vừa chữa tâm bệnh cho dân. Trái tim ông đập theo nhịp đập trái tim dân chúng, thông cảm và chia sẻ nỗi đau, nỗi nhục bị áp bức và nô lệ trong tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc ngoại xâm. Nhờ vậy mà ông phát hiện ra những phẩm chất cao quý ẩn giấu trong hình thức lam lũ của người lao động. Tất cả những cái đó tạo nên tầm cao trong tư tưởng, tình cảm và sự nghiệp sáng tác của ông. Tấm lòng nhân ái sâu xa, rộng lớn của Nguyễn Đình Chiểu đã được đáp đền một cách chân thành, nồng hậu. Nhân dân Nam Bộ dành cho ông tình cảm yêu thương, tôn kính đặc biệt. Ngày tiễn đưa ông về với tổ tiên, cả cánh đồng Ba Tri rợp trắng khăn tang của hàng ngàn người mến mộ. Tên tuổi, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu sống mãi trong lòng nhân dân Nam Bộ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.

Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã khắc sâu, tô đậm hình ảnh những con người lao động mộc mạc, chân chất mà ông hết lòng yêu thương, mến phục. Hình ảnh người dân Nam Bộ trọng nghĩa khinh tài kết tinh trong nhân vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực…, trong nhân vật ông Ngư, ông Tiều mà ai ai cũng biết. Lục Vân Tiên dũng cảm, nghĩa hiệp: Làm ơn há dễ trông người trả ơn. Ông Ngư hết lòng cứu người trong Cơn hoạn nạn: Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn. Kiều Nguyệt Nga tiết hạnh, trung trinh… Đó là những nhân vật tư tưởng của tác giả mà cũng là hình tượng được dân chúng Nam Bộ thời ấy tôn thờ. Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống tinh thần cộng đồng là vì lẽ đó. Nội dung thấm đẫm tư tưởng nhân nghĩa của truyện khiến nó đã trở thành kinh nhật tụng của đồng bào Nam Bộ. Đi đâu cũng thấy hiện tượng mọi người thích thú nghe nói thơ, kể thơ Vân Tiên, bởi trong đó có biết bao bài học thấm thía về đạo lí. Đằng sau câu chuyện tưởng như minh hoạ cho những tư tưởng, triết lí đậm chất Nho giáo ấy chính là những bài học đạo đức đề cao tình nghĩa vợ chồng, cha con, bè bạn, tình thương yêu, cưu mang, đùm bọc giữa người với người. Đó là đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã có tự ngàn đời.

Nguyễn Trãi trong văn học Việt Nam thường được biết đến với vai trò là một tác gia nổi tiếng với nhiều tác phẩm thuộc các lĩnh vực khác nhau, mà ở bất cứ lĩnh vực nào ông cũng để lại những dấu ấn riêng biệt với nhiều tác phẩm xuất sắc. Đồng thời trong lịch sử Việt Nam Nguyễn Trãi còn là một nhà chính trị quân sự lỗi lạc và tài ba, với học vấn uyên thâm, tầm nhìn xa trông rộng, lòng yêu nước sâu sắc, Nguyễn Trãi đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, trở thành bậc khai quốc công thần đời đầu của triều Hậu Lê. Tuy nhiên bản thân Nguyễn Trãi dù đã lập nhiều công lao, đóng góp xây dựng đất nước nhiều năm thế nhưng lại phải chịu một kết cục thê thảm, liên lụy tam tộc, mà cho đến ngày nay các sử gia vẫn nhiều lần tranh cãi về sự kiện mang tên án oan Lệ Chi viên còn nhiều bí ẩn này.

Bên cạnh sự nghiệp chính trị, quân sự, thì Nguyễn Trãi được biết đến nhiều hơn cả là một bậc kỳ tài có am hiểu trong nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng có những tác phẩm đạt đến trình độ xuất sắc mà ở đó một số đã trở thành mẫu mực, có ý nghĩa tham khảo, nghiên cứu cho các thế hệ về sau. Về phương diện lịch sử, Nguyễn Trãi đã để lại các tác phẩm là Vĩnh Lăng thần đạo bi là bài văn bia kể về thân thế và sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ. Tác phẩm thứ hai là Lam Sơn thực lục, kể về cuộc khởi nghĩa hơn 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn. Ngoài ra còn có Chí Linh sơn phú kể về chuyện nghĩa quân Lam Sơn rút lên núi Chí Linh lần thứ ba năm 1422, và Băng Hồ di sự lục viết về cuộc đời của Tư đồ Trần Nguyên Đán. Về địa lý, Nguyễn Trãi cũng để lại một cuốn Dư địa chí hay còn gọi với các tên khác như Ức Trai thi tập Nam Việt Dư địa chí, hoặc Lê triều chống pháp. Đây được xem là một bộ sách về địa lý cổ nhất của Việt Nam, ghi chép lại những đặc điểm về sản vật và con người Việt thời trung đại, mà cho đến ngày hôm nay bản thân nó vẫn còn những giá trị tham khảo nhất định. Trong chính trị, quân sự Nguyễn Trãi có các tác phẩm rất nổi tiếng là Bình Ngô Đại cáo và Quân trung từ mệnh tập, ngoài ra còn một số các tác phẩm khác bao gồm các bài biểu, bài chiếu viết dưới hai thời vua Lê. Trong lĩnh vực văn học, Nguyễn Trãi để lại nhiều tập thơ xuất sắc viết bằng chữ Hán và chữ Nôm như Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập.

Và trong sự nghiệp thơ văn của mình Nguyễn Trãi còn được mệnh danh là một nhà văn chính luận kiệt xuất đồng thời là một nhà thơ trữ tình sâu sắc. Trong đó với tư cách là nhà văn chính luận kiệt xuất, các tác phẩm của ông chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp chính trị quân sự, gồm các tác phẩm Bình Ngô đại cáo được xem là bản tuyên ngôn độc lập lần hai, là “áng thiên cổ hùng ca ngàn đời”, không chỉ xuất sắc trong cách hành văn lập luận chặt chẽ sâu sắc mà còn đặc biệt với các giá trị nội dung mang tính thời cuộc. Thứ hai là tập Quân trung từ mệnh tập bao gồm các thư từ gửi tướng lĩnh của giặc trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, có giá trị như các tài liệu ngoại giao, và các bài văn răn đe tướng sĩ, củng cố tinh thần quân đội. Ngoài ra còn có khoảng 28 tác phẩm biểu, chiếu khác nhau. Với nội dung tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước thương dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong hầu hết các tác phẩm, kết hợp nghệ thuật lập luận, bố cục chặt chẽ, luận điểm luận cứ linh hoạt, sắc bén. Chính vì vậy nên các tác phẩm chính luận của Nguyễn Trãi đều được xem là áng văn chính luận mẫu mực mà người đời sau cần học hỏi.

Với tư cách là một nhà thơ trữ tình sâu sắc, trong suốt cuộc đời mình Nguyễn Trãi đã sáng tác rất nhiều tác phẩm có giá trị, tuy nhiên vì hàm oan mà hầu như chúng đều bị thiêu hủy, sau này được minh oan, nhưng số lượng thu thập lại cũng chỉ là một phần nhỏ may mắn còn sót lại. Tuy nhiên với bấy nhiêu những tác phẩm cũng đã đủ để thấy được tài năng kiệt xuất của Nguyễn Trãi trong lĩnh vực thơ ca với những sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó sáng tác chữ Hán hiện còn tập thơ Ức Trai thi tập, sáng tác chữ Nôm hiện còn Quốc âm thi tập – tập thơ viết bằng tiếng Việt đầu tiên duy nhất còn sót lại cho đến ngày hôm nay. Nhìn chung các sáng tác thơ của Nguyễn Trãi đều tập trung thể hiện một nội dung chính ấy là con người Nguyễn Trãi với hình ảnh người anh hùng vĩ đại và con người trần thế. Tính anh hùng thể hiện trong tư tưởng xuyên suốt nhiều tác phẩm ấy là lý tưởng yêu nước thương dân, tấm lòng nhân nghĩa, phẩm cách người quân tử thông qua các hình ảnh tượng trưng: tùng, cúc, trúc, mai. Con người trần thế bộc lộ thông qua những tình cảm của nhà thơ như nỗi đau đớn, xót xa trước nghịch cảnh đất nước, trước những trò nham hiểm, trêu ngươi của xã hội, hay tấm lòng yêu thiên nhiên, niềm vui sống cuộc đời thanh tao, giản dị, những tình cảm bạn bè, vua tôi, cha con sâu nặng tha thiết,…

………………

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Tập 2 2 Dàn Ý & 2 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất

Qua đó, các em dễ dàng giới thiệu khái quát về cuốn sách, hình thức bề ngoài, bố cục, giới thiệu về nội dung, giá trị của cuốn sách Ngữ văn 8 tập 2 như thế nào, để nhanh chóng hoàn thiện bài văn thuyết minh của mình, ngày càng học tốt môn Văn 8:

1. Mở bài:

Giới thiệu chung về quyển sách giáo khoa.

Nơi xuất bản, do những ai biên soạn.

2. Thân bài:

Miêu tả khái quát về quyển sách giáo khoa từ ngoài vào trong (ví dụ: bên ngoài được trang trí như thế nào màu sắc ra sao in hình gì….).

Chúng ta có thể nói về kích thước hình dáng (VD: chiều cao, bề dày, chiều rộng……).

Sau khi giới thiệu xong từ bên ngoài ta bắt đầu mô tả bên trong sách như:

Sách gồm bao nhiêu trang; được chia thành mấy phần (phần tiếng việt…..)

Mỗi phần lớn lại chia thành bao nhiêu mục nhỏ, nội dung của mỗi mục ra sao…

Ta có thể lấy ví dụ về một hoặc nhiều phần như: Phần tiếng việt: cấu tạo bài gồm những gì, có ghi nhớ không…..

Chúng ta phải giữ gìn bảo quản sách thế nào cho nó khỏi hư (VD: phải bọc sách dán nhãn ….)

Không nên vứt hoặc ném vì có thể làm hỏng sách.

3. Kết bài:

Khẳng định lại ý nghĩa của quyển sách đối với mỗi người học sinh chúng ta.

Vì vậy chúng ta phải coi sách như người bạn thân của mình, phải nâng niu gìn giữ quý trọng vì nó chính là một báu vật mà ai cũng phải cần đến.

1. Mở bài

Giới thiệu và nêu giá trị của sách nói chung với cuộc sống con người.

Giới thiệu về SGK và tình cảm của em với cuốn SGK Ngữ văn 8, tập hai.

2. Thân bài

– Giới thiệu xuất xứ của sách:

SGK Ngữ văn 8, tập một được ra đời từ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

Các tác giả cuốn sách là những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành về văn chương của Việt Nam.

– Thuyết minh, giới thiệu về hình thức bề ngoài của sách:

Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17x24cm rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng.

Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền.

– Giới thiệu bao quát bố cục của sách:

SGK Ngữ văn 8, tập hai có 17 bài, tương ứng với 17 tuần.

Mỗi bài từ 3 đến 5 bài nhỏ trong đó thường là 2 văn bản, 1 bài Tiếng Việt và 1 bài Tập làm văn.

Quyển sách là sự phát triển kế tiếp SGK lớp 6 và lớp 7.

– Giới thiệu nội dung, giá trị của cuốn sách:

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học thuộc thể loại thơ, văn và kịch của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.

Phần Tiếng Việt gồm cả từ ngữ và ngữ pháp được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn, vừa cung cấp tri thức, vừa giúp học sinh luyện tập.

Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, và về văn nghị luận.

– Nêu cách sử dụng, bảo quản sách:

Để cuốn sách có giá trị sử dụng lâu bền, chúng ta cần giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách.

Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

3. Kết bài

Khẳng định giá trị, ý nghĩa lớn lao của quyển sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2 đối với học sinh.

Đối với học sinh, sách giáo khoa có vai trò vô cùng quan trọng trong công việc học tập. Một trong số đó là cuốn sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2.

Quyển sách có dạng hình chữ nhật đứng, khá dày và to hơn cuốn tập bình thường một chút. Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học của văn học Việt Nam cũng như văn học nước ngoài. Các tác phẩm văn học Việt Nam thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…). Các tác phẩm văn học nước ngoài như Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Về phần Tiếng Việt sẽ là phần kiến thức về ngữ pháp như các kiểu câu, hành động nói, hội thoại… được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn. Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, học sinh còn được tìm hiểu thêm về văn nghị luận.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 được làm bằng chất liệu giấy mềm mà chúng ta sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn. Vì vậy, học sinh cần có ý thức giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách. Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

Sách Ngữ Văn, tập 2 cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức quan trọng mà ở các lớp dưới vẫn chưa được học. Và không chỉ ở hiện tại mà ngay cả tương lai, quyển sách này vẫn luôn luôn là một người bạn đồng hành bổ ích và đáng tin cậy của học sinh.

Sách giống như một người bạn trong quá trình học tập của học sinh. Mỗi một cuốn sách đều cung cấp những kiến thức riêng thuộc nhiều lĩnh vực. Và cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 cũng vậy.

Sách Ngữ Văn 8, tập 2 là một trong bộ sách giáo khoa đưa vào giảng dạy chính cho môn Ngữ Văn lớp 8 trong học kỳ hai. Nhà xuất bản Giáo dục phát hành sách dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần qua các năm để thay đổi phù hợp hơn với chương trình học. Sách ra đời có nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn công phu. Đó là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy cô dạn dày kinh nghiệm trên cả nước. Nổi bật trong số đó phải kể đến Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn)… Chế bản do Công Ty Cổ Phần Thiết Kế và Phát Hành Sách Giáo Dục đảm nhận.

Bìa sau của sách có nền trắng đơn giản. Phía trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý của dân tộc và chất lượng sách. Phía dưới in tên các loại sách thuộc các môn học trong chương trình lớp 8 bằng màu đen: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai)…Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…). Góc phải dưới cùng dán tem đảm bảo và giá bán. Góc trái là mã vạch sản phẩm. Cả cuốn sách trang trí đơn giản mà rất sinh động.

Sách Ngữ Văn 8 tập 2 là quyển sách tiếp nối kiến thức lớp 6 và lớp 7 với hệ thống 17 bài, tương ứng với 17 tuần học. Mỗi bài lại có khoảng từ ba đến năm bài nhỏ cung cấp tri thức phong phú, hoàn thiện. Về nội dung, sách có cấu tạo ba phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và làm văn.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam, văn bản văn học nước ngoài. Văn bản văn học Việt Nam gồm các tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…). Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh. Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Các tác phẩm này sẽ giúp học sinh hiểu được một phần về nền văn học nước ngoài.

Advertisement

Nội dung tiếp theo là phần Tiếng Việt. Nội dung tìm hiểu về các kiểu câu, hội thoại, hành động nói, cách lựa chọn trật tự từ trong câu… Những bài học nối tiếp từ lớp 7 có vai trò nâng cao khả năng về ngôn từ, ngữ pháp cho học sinh để vận dụng vào viết văn là giao tiếp hàng ngày. Đồng thời giúp các em hiểu thêm sự giàu đẹp của tiếng Việt và bồi đắp thêm tình yêu tiếng nói dân tộc.

Ở phần làm văn, học sinh được rèn luyện, củng cố một số kĩ năng về văn bản thuyết minh. Chương trình Tập làm văn 8 nâng cao hơn lớp 7 trên nhiều phương diện. Bên cạnh đó, phần làm văn còn tìm hiểu thêm về kỹ năng viết văn nghị luận.

Sách Ngữ văn lớp 8 có vai trò, tác dụng lớn trong quá trình học tập môn ngữ văn của học sinh. Sách giúp học sinh tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ để thấy được giá trị của nghệ thuật. Học văn, tình cảm được bồi đắp, tâm hồn bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn làm dịu đi những áp lực căng thẳng của cuộc sống. Đặc biệt, sách có ý nghĩa giáo dục to lớn, rèn luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. Bồi đắp thêm những tình cảm, đức tính tốt đẹp như yêu thương và cảm thông với con người. Từ đó biết trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của mình hơn.

Sách Ngữ văn 8, tập 2 có là một trong những cuốn sách quan trọng trong quá trình học tập của mỗi học sinh. Vì vậy, mỗi người cần có ý thức giữ gìn cẩn thận.

Văn Mẫu Lớp 6: Kể Về Ông Của Em (Dàn Ý + 15 Mẫu) Những Bài Văn Hay Lớp 6

Kể về ông của em

Tài liệu sẽ bao gồm dàn ý và 15 bài văn mẫu sau đây, dành cho các bạn học sinh lớp 6. Mời tham khảo để có thể hoàn thiện bài viết của mình.

Kể về ông của em

Dàn ý kể về ông của em

Kể về ông nội kính yêu của em (8 mẫu)

Kể về ông ngoại kính yêu của em (7 mẫu)

Dàn ý kể về ông của em

1. Mở bài

Dẫn dắt, giới thiệu chung về người ông: ông nội/ông ngoại, tuổi tác, công việc…

2. Thân bài

Đôi nét về ngoại hình: dáng người, khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt…

Tính cách của ông: hiền từ, nhân hậu, luôn nghĩ cho con cháu…

Kỉ niệm về người ông: những lần về quê chơi, nghe ông kể chuyện, bài học được ông dạy dỗ.

3. Kết bài

Khẳng định lại tình cảm dành cho người ông: yêu mến, kính trọng, tự hào…

Kể về ông nội kính yêu của em Bài văn mẫu số 1

Những người thân đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc của chúng ta. Và với riêng tôi, ông nội chính là người mà tôi yêu thương nhất.

Năm nay, ông nội của tôi đã bảy mươi hai tuổi. Nhưng ông còn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Ông có dáng người đầy đặn. Khuôn mặt vuông chữ điền trông thật phúc hậu. Nụ cười hiền hậu, chứa chan yêu thương. Vầng trán rộng toát lên vẻ cương nghị. Mái tóc đã bạc trắng cùng với chòm râu dài khiến tôi liên tưởng đến những ông tiên, ông bụt trong các câu chuyện cổ tích. Nhưng tôi thích nhất là đôi bàn tay của ông. Đôi bàn tay nhăn nheo với những vết chai sần.

Trước khi nghỉ hưu, ông là một cán bộ của thôn. Ai có việc gì nhờ cậy, ông đều vui vẻ giúp đỡ. Mọi người kính trọng, yêu mến ông của tôi cũng vì điều đó. Đối với con cháu của mình, ông luôn lo lắng, quan tâm. Ông thường kể cho chúng tôi nghe rất nhiều câu chuyện hay về đất nước khi còn chiến tranh, hay ở thời bao cấp.

Mỗi lần về quê chơi, tôi vô cùng hạnh phúc. Tôi thường theo ông nội ra cánh đồng chơi. Ông còn rất yêu thích công việc trồng cây nên khu vườn của ông lúc nào cũng xanh tốt. Cây ăn quả đã cho trái ngọt không biết bao nhiêu mùa. Cứ mỗi buổi chiều, ông lại ra vườn để chăm sóc cây cối. Lúc đó, tôi lại chạy theo ông, đòi được giúp ông tưới tắm cho cây cối trong vườn. Ông đã dạy tôi phải chăm chút chúng một cách nâng niu, cẩn thận. Không chỉ vậy, tôi còn được nghe ông kể rất nhiều câu chuyện hay về cuộc sống. Đó là những bài học bổ ích giúp tôi sống tốt hơn mỗi ngày. Những kỉ niệm về ông nội thật đáng trân trọng với tôi.

Ông nội chính là cả khoảng trời kí ức tuổi thơ của tôi. Vì vậy, tôi luôn dành cho ông sự kính trọng và yêu mến. Tôi mong ông sẽ luôn khỏe mạnh và sống thật lâu bên con cháu.

Bài văn mẫu số 2

Ông nội tôi – một người thầy cao cả nhất. Người đã khiến tôi yêu quý nghề giáo hơn bất kỳ nghề nghiệp nào khác.

Cho tới bây giờ, tôi vẫn không thể nhớ nổi người ông mà mình yêu quý nhất đã xa từ lúc nào. Chỉ biết là đã rất lâu tôi không được nhìn thấy khuôn mặt, giọng nói của ông.

Ông nội của tôi đã cao tuổi. Người ông tầm thước, hơi gầy. Làn da nhăn nheo nhưng vẫn hồng hào. Mái tóc của ông đã bác trắng. Vầng trán ông cao, hằn sâu những nếp nhăn. Đôi mắt còn tinh nhanh ẩn dưới cặp lông mày đã ngả bạc. Má ông hơi hóp làm cho hai gò má nhô cao hẳn lên. Răng ông đã rụng nhiều nhưng nhờ lắp hàng răng giả nên nụ cười vẫn tươi tắn. Hằng ngày, ông thường mặc bộ quần áo ta bằng loại vải mềm, màu sẫm, đi đôi dép nhựa đã mòn. Chỉ lúc đọc sách báo, ông mới đeo kính và khi nào phải đi ra ngoài, ông thường phải chống gậy.

Ông nội của tôi là một thầy giáo dạy môn Toán. Ông có cả một lớp dạy thêm Toán ở nhà. Ngày còn nhỏ, thỉnh thoảng tôi hay chạy lại đứng cạnh cửa sổ và xem ông dạy học. Những lúc như thế ông thường yêu cầu tôi ra ngoài vì không muốn tôi làm các anh chị mất tập trung. Lúc đó, tôi thường tỏ ra giận dỗi để sau mỗi buổi dạy được ông mua quà bánh dỗ dành.

Tôi cảm thấy vô cùng yêu mến và kính trọng ông nội của mình. Tôi tự nhủ sẽ trở thành một người sống có ích để ông cảm thấy tự hào.

Bài văn mẫu số 3

Ngoài sự yêu thương của cha mẹ, anh chị em trong gia đình thì tôi còn được sự yêu mến của ông nội. Với tôi, ông chính là một tấm gương sáng để tôi noi theo về phẩm chất và tích cách tuyệt vời ấy.

Năm nay, ông đã bảy mươi tuổi. Khuôn mặt trông rất phúc hậu. Gò má hơi cao cộng thêm đôi môi đẹp. Mái tóc ông bạc phơ như sợi cước. Dù già đi nhưng ông tôi vẫn rất khỏe. Mắt ông tinh lắm. Ông rất hiền từ, ít khi quát mắng con cháu.

Những ngày thơ ấu, em thường quấn quýt bên ông. Bố mẹ em đi làm xa, em ở nhà với ông, đòi ông kể chuyện, hát ru. Giọng nói của ông thật ấm, nó như một âm thanh không thể không vang vọng trong em. Em nhớ nhất từng lời kể chuyện ngọt ngào mà ông chậm rãi kể cho em nghe. Em lại nhớ từng thao tác làm việc của ông trong vườn nhà.

Đối với tôi, ông nội là một người vô cùng quan trọng. Tôi luôn dành cho ông sự yêu quý, kính trọng.

Bài văn mẫu số 4

Trong gia đình, người em kính trọng và yêu quý nhất. Vì ông luôn lo lắng, chăm sóc em mỗi khi bố mẹ bận bịu với công việc của mình.

Ông nội em năm nay đã bảy mươi tuổi. Dáng ông thấp và hơi gầy. Mặc dù tuổi khá cao nhưng da dẻ ông vẫn rất hồng hào. Mái tóc ông cũng đã bạc khá nhiều. Ông sống rất giản dị. Ở nhà, ông hay mặc bộ quần áo nâu và có đôi dép xốp vào mùa hè. Còn mùa đông thì ông mặc áo bông, đội mũ len và vẫn đôi dép ấy nhưng có đeo tất.

Ông có sở thích là cắt tỉa cây cảnh, biết được sở thích của ông nên bố em có thói quen sưu tầm cây cảnh vừa để làm phong phú khu vườn và cũng giúp ông vơi đi phần nào nỗi cô đơn của tuổi già. Em nhớ lúc còn bé, bố mẹ thì lúc nào cũng tất bật với công việc của mình. Ông nội là người chăm sóc em, ông nấu cháo cho em ăn, đưa em vào giấc ngủ với những câu chuyện cổ tích, quạt cho em những khi mất điện với chiếc quạt nan quen thuộc của mình.

Lớn hơn một chút, ông cho em theo ông ra vườn tỉa cây cảnh với ông. Ông tỉa cây còn em thì nhổ cỏ, ông bảo nhờ có em mà lúc nào ông cũng cảm thấy vui và bớt hiu quạnh. Bây giờ em đã đi học, những lúc bà bận việc ông lại ở nhà một mình chỉ biết làm bạn với vườn cây. Biết ông buồn, tan học là em về với ông, nhổ tóc sâu cho ông và kể cho ông nghe những chuyện trên lớp học của mình. Những ngày em được nghỉ học em và ông hay đi bộ tập thể dục buổi sáng, em bảo ông tập thể dục sẽ rất tốt cho sức khỏe nhưng ông bảo những hôm em đi học có một mình nên ông không tập. Trong gia đình ông luôn dạy con cháu những điều hay, lẽ phải trong cuộc sống, khuyên răn con cái không được làm điều gì sai trái, đi ngược lại với đạo lí con người.

Em rất yêu quý và kính trọng ông. Em mong ông luôn khỏe mạnh để còn chăm sóc cháu nữa.

Bài văn mẫu số 5

Ông của tôi là một người cán bộ Đảng. Ông đã mất khi tôi còn chưa có mặt trên cuộc đời này nhưng tôi được nghe mọi người kể lại rất nhiều. Chính vì thế dù chưa một lần được nhìn thấy ông một lần nhưng mỗi khi nhắc đến ông của mình tôi luôn cảm thấy và tự hào.

Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, cả nhà lại ngồi quây quần bên nhau, tôi thường đề nghị bố hoặc bà mình kể về ông nội. Bà nói ngày trước khi ông bà mới lấy nhau, ông rất đẹp. Ông có một nét đẹp hiền hậu mà ngay từ lần đầu tiên nhiên bà đã ưng thuận theo ông rồi. Bà nói ngày xưa làm gì có yêu đương gì, dựng vở gả chồng là chuyện của cha mẹ, họ đặt đâu thì con cái phải ngồi ở đó, cấm có được cãi lời. Bà rất may mắn khi gặp được ông nội, hai người kết hôn từ năm mười bốn tuổi đến năm mười tám tuổi mới về ở với nhau.

Thời đó đang chuẩn bị bước vào thời kì dẹp hết quân Mỹ trên đất nước và bắt tay vào xây dựng đất nước. Ông ở nhà với bà rất ít vì ông bận việc cơ quan, ông luôn phải đi công tác xa nhà. Việc nhà ông cũng không thạo bằng ba, gia cảnh thì những bảy người con một mình bà ở nhà lo lắng nuôi nấng. Ông tôi thì yếu, làm việc nhà không được mấy là mỏi là đau nên bà nhiều lần bực tức nói ông thậm tệ. Thế nhưng ông cũng chỉ cười hề hề cho qua bởi ông biết bà vất vả lắm nên lúc tức bà nói vậy thôi.

Những lần đi công tác xa về ông lại mang về cho các con của mình vài gói bánh. Thời ấy mà có gói bánh ăn là cũng sang lắm rồi, nhà người ta còn phải ăn cơm độn ngô, độn sắn nhưng nhà tôi nhờ có ông mà bố tôi và các bác được ăn cơm trắng. Bố tôi cũng kể lại rằng ngày bố con nhỏ bố được ông đưa ra Hà Nội chơi. Ở cơ quan của ông ai cũng quý ông, cơ quan tặng ông hai miếng đất tại Hà Nội để mai này xây dựng nhà cửa nhưng ông tôi vốn là người liêm khiết cho nên ông đã từ chối. Ông luôn luôn làm đúng trách nhiệm và bổn phận của mình với nhà nước và Đảng.

Nhiều khi ông đi xa, ăn một vài thứ quả ngon ông lại xin giống về trồng. Cho đến tận bây giờ cây mít mà ông mang về trồng vẫn còn đó, mỗi năm độ hè cây cho biết bao nhiêu là quả. Ăn những múi mít mật ngọt bùi, thơm nức tôi luôn mường tượng hình ảnh trìu mền hiền dịu của ông. Lần nào cây mít ra quả bà cũng chia đều những quả ngon nhất to nhất cho các cô các bác trong nhà. Đó là món quà của ông dành cho tất cả những đứa con của mình. Mỗi lần ngắm nhìn bức chân dung của ông tôi luôn luôn có một ước muốn ông còn sống để tôi có thể ngắm nhìn và yêu thương vị Đảng viên gương mẫu năm nào.

Đối với tôi, dù người ông ấy chưa một lần tôi được nhìn thấy, chưa một lần chạm tay, chưa một lần được ông ôm vào lòng nhưng tôi rất hạnh phúc vì có một người ông như vậy. Cuộc đời ông tuy ngắn nhưng ông đã để lại cho đất nước, cho gia đình biết bao nhiêu thứ quý giá.

Bài văn mẫu số 6

Trong gia đình, người em gắn bó nhất chính là ông nội. Ông đã dạy cho em rất nhiều điều hay, lẽ phải.

Ông nội của em năm nay đã ngoài tám mươi tuổi. Nhưng ông vẫn còn rất minh mẫn. Trước đây, ông em làm cán bộ của xã. Ông có dáng người đầy đặn. Khuôn mặt vuông chữ điền. Nụ cười hiền hậu. Đôi bàn tay nhiều nếp nhăn. Mắt ông cũng kém đi so với nhiều năm trước. Ông nội của em hiền từ như ông bụt trong truyện cổ tích vậy, lại rất yêu thương con cháu.

Tuổi thơ của em là những năm tháng sống cùng ông nội. Vậy nên, e m còn nhớ nhất một kỉ niệm về ông. Nhưng nhớ nhất là một lần được đi câu cá cùng với ông. Hai ông cháu đi câu từ sớm. Em đứng nhìn ông chuẩn bị. Ông lấy một tờ báo cũ, rải xuống sàn, tay ông cầm chiếc cần câu bằng tre do chính ông làm. Khuôn mặt ông chăm chú nhìn vào chiếc phao, chờ cá cắn câu. Khuôn mặt ông hồng hào, hiền từ với mái tóc và chòm râu trắng. Em thấy ông em như một ông tiên trong truyện cổ tích mẹ thường kể mỗi đêm.

Đối với em, ông nội là một người tuyệt vời. Em rất yêu quý và kính trọng người ông của mình.

Bài văn mẫu số 7

Gia đình tôi gồm có ông, bà, cha mẹ và hai chị em. Nhưng người được gia đình kính trọng và yêu quý nhất vẫn là ông nội.

Ông nội tôi năm nay ngoài bảy mươi tuổi. Tuy vậy, dáng người ông trông thật khỏe mạnh. Chòm râu dài, trắng trông rất giống chòm râu của Bác Hồ. Mỗi lần ông bê bé Bi trên tay, bé cứ thích vuốt chòm râu của ông hoài. Mái tóc ông đã bạc trắng, nước da ông ngăm đen, nhăn nheo. Gương mặt hiền từ với cái nhìn trìu mến trông ông thật phúc hậu. Mỗi khi ông cười để lộ những chiếc răng trắng thưa thớt. Đôi tai ông dài và to như tai Phật.

Tuy tuổi cao, nhưng bước đi của ông vẫn nhanh nhẹn. Tối tối ông đi ngủ sớm và dậy vào lúc năm giờ sáng để tập thể dục dưỡng sinh. Ông tôi rất thích trồng cây. Những loại cây ông trồng luôn nở hoa quanh năm. Cứ mỗi dịp xuân về, cây đâm chồi nảy lộc, hoa nở từng chùm đủ màu sắc sặc sỡ làm cho khu vườn trở nên đẹp đẽ. Khi rảnh rỗi, ông thường kể chuyện cho chúng tôi nghe, mỗi câu chuyện ông kể thường lôi cuốn chúng tôi vào những giấc mơ tuyệt đẹp.

Đối với hàng xóm, ông đối xử rất tốt, khi gia đình ai có chuyện gì ông đều đến hỏi thăm và động viên ân cần, vì vậy mọi người trong khu phố đều rất kính trọng ông.

Tuy đã già, nhưng ông rất thương con quý cháu, cởi mở và hòa thuận với mọi người. Tôi mong ước rằng ông luôn khỏe mạnh để sống lâu và tôi sẽ cố học giỏi để ông vui lòng.

Bài văn mẫu số 8

Gia đình là điểm tựa vững chắc của mỗi người. Bởi nơi đó luôn có những người thân luôn yêu thương và bảo vệ chúng ta. Người em gắn bó và yêu quý nhất trong gia đình chính là ông nội.

Ông nội của em đã bảy mươi tư tuổi. Nhưng ông còn khỏe mạnh, minh mẫn lắm. Ông có dáng người đầy đặn. Khuôn mặt vuông chữ điền. Nụ cười hiền hậu. Vầng trán rộng toát lên vẻ cương nghị. Mái tóc đã bạc trắng. Đôi bàn tay nhăn nheo với những vết chai sần. Trước khi nghỉ hưu, ông là một cán bộ của thôn. Ông rất nhân hậu, lại nhiệt tình. Nên mọi người trong thôn đều rất quý mến ông.

Mỗi lần về quê chơi, em lại cảm thấy rất thích thú. Ông nội thường đưa em ra cánh đồng chơi. Ông còn dạy em cách câu cá, thả diều. Em đã học được rất nhiều điều bổ ích.

Ông nội cũng rất thích chăm sóc cây cối. Bởi vậy, khu vườn của ông luôn xanh tốt quanh năm. Em còn được thưởng thức rất nhiều trái ngọt trong khu vườn của ông. Có nhiều lần, em theo ông ra vườn chơi, phụ ông tưới cây, nhặt lá vàng. Em đã thấy cách ông chăm sóc từng loại cây rất cẩn thận. Hai ông cháu vườn làm vừa trò chuyện rất vui vẻ. Ông kể cho em nghe nhiều câu chuyện rất hấp dẫn.

Những kỉ niệm bên ông nội với em thật quý giá. Ngày hôm nay, ông đã rời xa em mãi mãi. Nhưng những lời dạy dỗ, những kỉ niệm về ông vẫn còn đó. Chúng sẽ là hành trang quý giá để em mang theo trong cuộc sống.

Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt, ngoan ngoãn nghe lời bố mẹ. Tương lai, em sẽ trở thành một người có ích cho xã hội để ông có thể cảm thấy tự hào về em. Em mãi yêu quý và kính trọng ông nội của mình.

Kể về ông ngoại kính yêu của em Bài văn mẫu số 1

Điều tuyệt vời nhất với em mỗi kì nghỉ hè là được về quê thăm ông ngoại. Năm nào cũng vậy, bố mẹ đều cho em về quê thăm ông dịp nghỉ hè. Một tháng được hưởng trọn vẹn tình yêu thương và sự quan tâm, chăm sóc chu đáo của ông là một món quà có ý nghĩa rất lớn với em. Không có gì ngạc nhiên khi ông là người em yêu quý và kính trọng nhất trong gia đình.

Ông ngoại em năm nay đã tám mươi ba tuổi rồi. Những nếp nhăn trên mặt cứ ngày một nhiều nhưng chúng chẳng thể giảm đi sự hiền dịu trong nụ cười của ông. Mái tóc của ông em cũng bạc hết. Trông cái dáng đi chầm chập của ông cạnh chiếc gậy tre và mái tóc bạc, em nghĩ ngay tới ông Bụt hiền từ trong các câu chuyện cổ tích. Tuổi cao sức yếu nhưng mắt ông em vẫn còn tinh tường lắm. Ông có thể đọc báo mỗi sáng mà không cần kính. Ông bảo em rằng, đôi mắt là thứ quý giá của con người, nó là cửa sổ tâm hồn, đừng là hỏng nó. Mỗi lần em học bài hay ngồi trước màn hình máy tính, ông đều căn dặn em nhớ để mắt được nghỉ ngơi. Đến giờ, các bạn của em biết bao đứa bị cận, ấy vậy mà mắt em vẫn rất tốt.

Ông em có nuôi một em chim chích chòe nhỏ, em gọi nó là Ki. Nó hót rất hay. Mỗi khi ông đi đâu về, nó nhảy nhót, hót loạn cả lên, trông mà đáng yêu. Em cũng rất thích chó, ông em có một con chó ta rất khôn, tên nó là Vện. Vẫn cứ lẽo đẽo theo ông em cả ngày, khi ở bàn uống nước, khi lại mon men theo ông ra vườn. Con Vện như là vệ sĩ cho ông em vậy. Ông em có một vườn cây hoa quả sau nhà rất xanh tốt. Chị Lan của em rất thích ăn na, ông em trồng rất nhiều na trong vườn xem với những bụi chuối tây. Bác Bình thường trêu rằng, “trẻ trồng na, già trồng chuối” ông em trồng cả na cả chuối thì không phân biệt già hay trẻ! Ông em thường bảo rằng, ông già không ăn được thì còn các con các cháu, cứ trông đấy để con để cháu ăn thì đi đâu mà thiệt. Mọi người trong xóm ai cũng kính trọng ông, không chỉ ông là người cao tuổi mà bởi ông là người sống có chừng mực và gương mẫu. Ai mà vứt rác bừa bãi, ông em nhắc nhở ngay.

Ông em là một người tuyệt vời như thế đấy. Em yêu ông vô cùng. Em rất mong ngóng đến hè để được về thăm ông và khoe với ông thành tích học tập của mình. Ước sao ông sống khỏe mạnh mãi với cháu như bây giờ, ông ơi.

Bài văn mẫu số 2

Trong gia đình, người mà tôi yêu mến nhất, kính trọng nhất vẫn là ông ngoại. Bất cứ lúc nào, hình ảnh của ông cũng thật ngọt ngào trong trái tim tôi.

Ông tôi chưa già lắm đâu, chỉ mới ngoài bảy mươi thôi. Dáng ông tầm thước, khuôn mặt sắt lại với nhiều nếp nhăn. Nước da sạm lại với nhiều chấm đồi mồi, đuôi mắt lại đầy những vết chân chim. Vậy mà ông tôi trông vẫn đẹp lão lắm. Chòm râu của ông dài, điểm bạc. Đôi mắt ấm áp, hiền từ.

Tôi rất thích nắm tay ông, được thấy hơi ấm nóng từ tay ông truyền sang, thật là khoan khoái. Bố mẹ đi làm suốt ngày, ông với tôi sao mà thân thiết thế. Giọng nói của ông trầm trầm và rất truyền cảm. Chính vì thế, ông ru hoặc kể chuyện, lũ cháu chúng tôi nghe, chỉ được một lúc là díp cả mắt lại. Ông tôi nhiều con cho nên cũng lắm cháu. Tôi chưa thấy ai yêu và quyến luyến với lũ cháu như ông. Ông thường thẳng thắn bộc bạch: “Khi có cháu, lại thấy yêu cháu hơn con rất nhiều!”. Lũ chúng tôi cũng yêu quý và gắn bó với ông lắm. Nhất là tôi, thằng cháu “đích tôn” như ông vẫn trìu mến gọi vậy.

Ông rất yêu quý cây cối. Vườn cây xanh trên tầng thượng là tài sản quý giá của ông. Trên đó có bao nhiêu là cây, là hoa. Thứ nào ngoài tên ra cũng đều có lí lịch riêng của nó. Nào là kỉ niệm ngày ở chiến trường về, ngày thăm Điện Biên Phủ, ngày sinh đứa cháu đầu. Công ông tưới bón, chăm chút, bắt sâu, tạo nên vườn cây này.

Sinh nhật vừa rồi của tôi, ông tặng một chiếc kèn nhỏ xinh. Tôi tự mày mò và bây giờ đã thổi được bài “Nhạc rừng” mà ông yêu thích. Ỏng tôi tự hào lắm, cứ khoe khắp khu nhà về tài của cháu mình. Nhưng tôi hiểu không phải vậy, chẳng qua ông yêu tôi quá thôi!

Tôi yêu quý và kính mến ông rất nhiều và cũng biết ông yêu lại tôi như vậy. Ông là người hay là ông Bụt, tôi cũng không biết nữa. “Cháu sẽ phải cố gắng nhiều để làm vui lòng ông, ông ơi!”. Tôi vẫn nhủ thầm như vậy.

Bài văn mẫu số 3

Cứ đến dịp nghỉ hè, bố mẹ lại cho tôi về quê. Ông nội chính là người tôi yêu quý nhất trong gia đình.

Năm nay, ông tôi đã chín mươi hai tuổi rồi nhưng vẫn còn minh mẫn. Ông không còn khỏe mạnh như xưa nữa mà gầy hẳn đi. Khuôn mặt in sâu những nếp nhăn vất vả. Đôi mắt đã mờ đục, không còn được tinh nữa nên mỗi khi đọc báo thì phải đeo kính, nhưng đôi mắt ấy luôn luôn nhìn tôi với một vẻ trìu mến, hiền từ. Mái tóc ông bạc trắng như cước làm ông giống như một ông bụt có tấm lòng nhân hậu trong những câu chuyện cổ tích bước ra vậy. Đôi bàn tay gầy gầy xương xương, rám nắng, luôn run run mỗi khi làm việc. Nước da không còn hồng hào nữa mà đen sạm đi vì nắng. Răng của ông đã rụng nhiều nhưng nhờ đeo thêm hàm răng giả nên nụ cười vẫn còn tươi. Ông ăn mặc rất giản dị, với những bộ quần áo được may bằng vải thô màu sang và đi đôi dép cao su màu nâu của bộ đội.

Vào những buổi sáng sớm, khi mặt trời bắt đầu từ từ nhô lên sau những dãy núi, màn sương trắng mỏng của ban đêm còn chưa tan hết thì đấy là lúc ông tỉnh dậy và cũng là người dậy sớm nhất nhà. Ra sân, ông hít căng lồng ngực tận hưởng không khí trong lành dễ chịu của buổi sáng. Năm nay, tuổi của ông đã cao mà vẫn dậy sớm để tập thể dục. Nhìn động tác ông xoay người, cúi xuống thì mới thấy hồi còn trẻ ông rất dẻo dai và nhanh nhẹn làm sao. Sau khi tập thể dục xong, ông thường làm bữa sáng cho cả nhà.

Mặc dù năm nay ông đã chín mươi hai tuổi, nhưng ông vẫn rất chăm chỉ. Ông rất tích cực tham gia các hoạt động xã hội và các chương trình của nhà văn hóa đề ra. Có một lần ông nói với tôi rằng: “Từ hồi còn nhỏ ông đã là một cậu bé rất yêu quý thiên nhiên”. Cho nên ông rất thích trồng cây, chăm sóc cây cảnh những chú sâu tinh nghịch nào mà đến quấy phá khu vườn của ông là ông đi bắt luôn rồi lấy nước đi tưới cho cây. Cứ mỗi khi rảnh rỗi là ông lại ngồi vót tre hoặc đi cho gà ăn. Vào những buổi trưa hè nóng bức, ông thường lấy chiếc võng, chiếc quạt nan và chiếc đài ở trong nhà ra và chọn những chỗ có bóng râm của cây để mắc võng rồi nằm lên, nghe đài phát thanh, tay phe phẩy chiếc quạt nan. Vào những đêm trăng, ông thường lấy cái ghế mây trong nhà ra hiên ngồi kể chuyện cổ tích cho tôi và một vài đứa trẻ con trong làng nghe. Con cháu nhà mình mà có làm điều gì sau trái thì ông không hề quát mắng, trách móc mà nhẹ nhàng ôn tồn giảng giải, khuyên bảo. Ông rất nhiệt tình khi hàng xóm nhờ một việc gì đó nên mọi người trong làng ai cũng kính trọng và quý mến ông.

Mọi người ai ai cũng chúc thọ cho ông nhưng riêng tôi, tôi sẽ cố gắng học hành chăm chỉ, ngoan ngoãn để làm ông vui lòng, sống lâu trăm tuổi. Tôi rất yêu quý và kính trọng người ông của mình.

Bài văn mẫu số 4

Người em yêu quý nhất trong gia đình là ông ngoại. Tình cảm của hai ông cháu gắn bó vô cùng thân thiết.

Năm nay, ông em đã bảy mươi tư tuổi nhưng sức khỏe vẫn dẻo dai và trí nhớ còn minh mẫn lắm. Là con người của công việc nên ít khi ông ở trong nhà. Khách tìm ông, cứ ra vườn là gặp. Vườn hoa, cây cảnh không chỉ là nguồn thu nhập hằng ngày mà hơn thế, nó là niềm vui, là lẽ sống của đời ông.

Em thường ra vườn xem ông làm việc. Đôi tay khéo léo, tài hoa của ông uốn từng nhánh cây, tỉa từng chiếc lá, nâng niu vun xới từng gốc hoa. Ông giải thích cặn kẽ cho em ý nghĩa sâu xa chứa đựng trong mỗi hình dáng mà ông mất bao công phu để tạo nên. Cây si bonsai đặt trong chiếc khay gốm hình bầu dục có năm tầng lá so le, ông bảo rằng tượng trưng cho năm điều cốt yếu trong đạo làm người là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Hai gốc đinh lăng, gốc cao gốc thấp, ông tỉa thành dáng phụ tử tình thâm. Mấy cây đào bích có thế rồng bay, phượng múa.

Cảm động biết bao khi em được ông cầm tay, dạy cho cách uốn những sợi dây thép vô tri thành hình những chú nai, chú hươu xinh xắn, để làm khung cho cây mọc theo ý muốn người trồng, ông bảo em rằng nghề làm vườn bắt buộc con người phải kiên trì, tỉ mỉ, nhất là phải thật sự yêu mến thiên nhiên, trái tim dễ dàng rung động trước một nụ hồng vừa hé nở, lóng lánh sương đêm; một bông đào thắm rung rinh trong gió sớm, báo hiệu mùa xuân sắp trở về. Em thích được nghe ông giải thích ý nghĩa một số loài cây, loài hoa quý như tùng, cúc, trúc, mai, liên (sen), tượng trưng cho cốt cách thanh cao, khí tiết hiên ngang và quan niệm sống trong sạch của bậc chính nhân quân tử. Em tin lời ông khẳng định là cây và hoa cũng biết vui buồn giống như con người vậy. Chúng có đời sống riêng, có tiếng nói riêng. Nếu chịu khó quan sát, lắng nghe, chúng ta sẽ hiểu.

Advertisement

Có lẽ tình yêu thiên nhiên tha thiết của ông đã dần dần thấm vào máu thịt đứa cháu trai mà ông quý mến. Nhiều lần, ông dẫn em đi chơi chợ hoa ngày Tết, hoặc đến tham quan Hội chợ hoa của Thủ đô. Em chụp ảnh cùng ông bên những cây cảnh mà ông mang đến dự thi và được tặng huy chương.

Không thể kể hết những kỉ niệm vui buồn về tình ông cháu. Rất giản dị, tự nhiên, ông ngoại đã truyền cho em ngọn lửa đam mê cuộc sống và những bài học quý báu trên đường đời. Em thấm thía lời dạy tâm huyết của ông: “Không có gì sung sướng bằng được hưởng thành quả lao động do chính bàn tay mình làm ra, cháu ạ!”. Được ông ngoại hết mực yêu thương, em thấy quả là hạnh phúc.

Bài văn mẫu số 5

Mỗi chúng ta, ngay từ khi còn bé xíu đã được sống trong vòng tay yêu thương của mọi người, đặc biệt là những người thân yêu trong gia đình. Với em, bên cạnh bố mẹ, ông ngoại cũng là người vô cùng quan trọng.

Ông ngoại kính yêu của em đã qua đời tròn một năm. Nhưng tất cả những kỉ niệm về ông em vẫn ghi nhớ mãi. Ông là một cựu chiến binh, nhập ngũ thời nhân dân ta đánh Mĩ. Khi em lên sáu tuổi thì ông đã bước sang tuổi bảy mươi Tuy không được nhanh nhẹn nhưng bước chân ông vẫn vững chắc, chỉ cần thêm một chiếc gậy chống dưới tay là ông có thể đi cả ngày khắp làng trên xóm dưới, gặp những người bạn của ông.

Trong trí nhớ của em, khuôn mặt ông vuông chữ điền chất phác. Tuy nhiên hai gò má hơi gầy, đôi mắt đen ấy vậy mà sáng lắm. Ông có thể nhận ra từng đứa cháu dù khoảng cách xa mỗi lần các anh chị đến thăm. Mái tóc ông đã bạc trắng như cước, chỉ thấp thoáng vài sợi tóc đen. Ông lúc nào cũng cười hiền từ giống như ông Tiên, ông Bụt trong truyện cổ tích ngày xưa.

Tuy vậy, xuất thân từ một chiến sĩ, mẹ bảo ông luôn nghiêm khắc trong việc dạy dỗ mẹ và các cậu trong nhà. Mẹ em là con gái duy nhất nhưng ông lúc nào cũng giám sát, yêu cầu, nhiều lúc giống hệt như phép tắc trong quân đội. Các cậu nhờ vậy đều rất chính trực, có ý chí, được mọi người kính trọng, yêu quý. Mãi sau này, khi cháu chắt lần lượt ra đời, ông ngoại dường như bớt nghiêm khắc hơn, chỉ hay ôn tồn giảng giải ý nghĩa sau mỗi câu chuyện, động viên em và các anh chị phải chăm ngoan, cố gắng trở thành người đàng hoàng, liêm khiết và nhân hậu.

Ông đặc biệt quan tâm và yêu thương cháu chắt trong nhà. Có đồ gì ngon, hiếm lạ mà bạn bè, đồng chí hay họ hàng xa biếu tặng, ông đều để phần chia cho cháu chắt. Những anh chị lớn rồi thì ông không cho, chỉ cho tiền mỗi khi các anh chị đi học xa về thăm hoặc lấy vợ, sinh con. Còn bánh kẹo, đồ ăn vặt thì cho hết mấy đốm nhỏ như em. Mẹ bảo ngày em còn bé xíu, bố mẹ bận làm ăn, ông bà nội mất sớm, một mình ông nội chăm sóc em cả thời gian dài. Vì thế nên lớn hơn, em lúc nào cũng quấn quýt bên ông cả ngày, xem ông tỉ mỉ tỉa cây, theo ông đi đến nhà đồng chí cùng chiến đấu ngày xưa và đòi ông kể những câu chuyện về kháng chiến.

Nhờ có ông, em mới hiểu được phần nào những năm tháng kháng chiến gian khổ, những hi sinh, mất mát mà bao nhiêu người đã phải trả giá để đổi lấy độc lập tự do. Ông dạy em cách sống nhân hậu và ghi nhớ công ơn các anh hùng, liệt sĩ, sống sao cho xứng đáng với công ơn của họ.

Dù ông ngoại đã đi xa nhưng tình yêu thương của ông dành cho con cháu em vẫn ghi nhớ mãi. Em vô cùng kính trọng và quý mến ông, sâu trong nội tâm em vẫn luôn tự nhủ phải cố gắng sống như những gì ông đã dặn dò để ông ngoại tự hào về cháu gái yêu quý của ông.

Bài văn mẫu số 6

Có lẽ điều tuyệt vời nhất đối với em là được về quê. Nơi đó có ông ngoại, người mà em vô cùng yêu mến.

Ông ngoại em năm nay tám mươi tuổi. Cái tuổi đáng ra phải được nghỉ ngơi rồi nhưng ông không cho phép mình rảnh bất kì lúc nào. Hàng ngày ông vẫn ra đồng làm việc, mặc dù tuổi cao nhưng ông vẫn hăng say lao động. Chính vì vậy làn da ông nhăn nheo đi, mái tóc bạc phơ theo năm tháng. Dáng đi của ông cũng chậm chạp nhưng còn vững chắc lắm.

Hàng ngày, em được ông dẫn đi ra ruộng làm việc. Chiều đến, hai ông cháu lại đi thả diều bắt cá. Ông thường kể những câu chuyện xa xưa. Ở cạnh ông em thấy mình như trẻ mãi, luôn được quan tâm và yêu thương.

Ông em đơn giản nhưng tuyệt vời như vậy đó. Em yêu ông và thương ông vô cùng, ước mong sao ông luôn khỏe mạnh để vui vầy cùng con cháu.

Bài văn mẫu số 7

Hẳn trong tất cả chúng ta, ai cũng giữ cho mình những hình ảnh những kỉ niệm đẹp của một người đặc biệt. Và tôi cũng vậy, người mà tôi vẫn luôn nhớ đến chính là ông ngoại.

Ngoại tôi giờ đã đi thật xa, những sâu thẳm trong trái tim tôi, hình ảnh ông không bao giờ phai nhạt. Ông ngoại của tôi có dáng thanh mảnh. Gương mặt hiền hậu với làn da ngăm . Mái tóc cứ đen vẫn còn đen nhánh. Ông sống rất giản dị, thân tình. Mọi người trong làng rất yêu mến ông.

Tôi vẫn còn nhớ một kỉ niệm về ông. Một buổi sáng, ông đạp xe lên thành phố thăm tôi. Lúc đó, tôi còn đang ngủ say. Biết ông ngoại đến, tôi thức dậy thật nhanh. Nhìn thấy ông, tôi vui mừng sà vào lòng ông.

– Cháu gái cưng của ông không ngủ nữa à? – Giọng ông dịu dàng

– Dạ không. Ông ngoại lên chơi cháu phải dậy gặp ông ạ!

Ông mỉm cười rồi nói sẽ đưa tôi đi chơi. Ba mươi phút sau, tôi đã chuẩn bị xong. Ông ngoại đèo tôi đi chơi trên chiếc xe đạp cũ. Tôi được ông đưa đi thăm vườn bách thú. Tôi đã cảm thấy rất vui vẻ.

Đối với tôi, ông ngoại là một người vô cùng quan trọng. Tôi rất yêu mến và kính trọng ông ngoại của mình.

Văn Mẫu Lớp 7: Giải Thích Câu Tục Ngữ Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn Dàn Ý & 9 Bài Văn Mẫu Lớp 7

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn

Tài liệu bao gồm dàn ý và 9 bài văn mẫu. Mời các bạn học sinh lớp 7 có thêm ý tưởng để hoàn thiện bài viết của mình. Nội dung chi tiết được đăng tải ngay sau đây.

Dàn ý giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn

I. Mở bài

Dẫn dắt, giới thiệu câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn”.

II. Thân bài

1. Giải thích

– Vế thứ nhất: “tiên” có nghĩa là trước, “lễ”: là những lễ nghi; “tiên học lễ” ý chỉ việc đầu tiên là học lễ.

– Vế thứ hai: “hậu” có nghĩa là sau, “văn” là chữ nghĩa, hay kiến thức; “hậu học văn” ý chỉ sau đó mới học kiến thức.

2. Vì sao “Tiên học lễ, hậu học văn”?

– Lễ nghĩa làm nên phẩm chất, đạo đức của mỗi người. Học lễ nghĩa rồi mới học kiến thức sẽ giúp chúng ta biết trân trọng mọi thứ.

– Người biết cách hành xử, có kiến thức uyên bác sẽ được mọi người kính trọng, yêu mến.

– Người có “văn” nhưng không có “lễ” thì tác hại đối với xã hội sẽ vô cùng to lớn: tự kiêu, ích kỉ…

3. Liên hệ bản thân

Học sinh cần tích cực rèn luyện phẩm chất, đạo đức cũng như học tập, tích lũy kiến thức để hoàn thiện bản thân.

III. Kết bài

Khẳng định giá trị của câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 1

Con người trước khi muốn khai phá kho tri thức, cần phải học hỏi lễ nghĩa mới có thể trở thành một người có ích, như người xưa từng nói: “Tiên học lễ hậu học văn”.

Nghĩa đen của câu tục ngữ này muốn nói rằng việc đầu tiên cần phải học lễ nghĩa và sau đó mới học văn hóa. Nhưng ý nghĩa sâu xa và hàm ẩn trong đó chính là lời dạy dỗ đầy sâu sắc. Con người trước tiên cần phải học đạo đức, học lễ nghi để làm một người tốt. Sau đó mới học văn hóa, học những trí thức của nhân loại để làm người có ích.

Bác Hồ đã từng nói “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng chẳng nên”. Vì vậy trong quá trình học tập và rèn luyện, con người không nên nới lỏng bất cứ một việc nào. Rèn luyện đạo đức phải đi đôi với việc học tập văn hóa.

Từ khi biết nhận thức đến khi trở thành một người công dân thực thụ của đất nước, chúng ta cần rèn luyện, luôn có quá trình đánh giá, tự nhận diện về bản thân và xem xét những yếu tố quan trọng nhất giúp mình trở thành một con người toàn diện hơn. Ngoài việc chú trọng học tập chúng ta cũng không nới lỏng việc rèn luyện đạo đức. Cần ý thức rằng có nhân cách tốt, chúng ta mới thực sự trở thành một con người của xã hội hiện đại này. Một xã hội càng hiện đại sẽ cần có những lễ nghi ứng xử cho phù hợp.

Câu tục ngữ trên rất đúng đắn ở mọi thời đại nó là kim chỉ nam để mọi người học tập và noi theo. Không chỉ đúng ở lứa tuổi học sinh mà nó còn đúng với rất nhiều những đối tượng và thành phần khác trong xã hội này. Chính vì vậy, mỗi người hãy coi câu tục ngữ này là nền tảng, là những bí kíp quý báu để học tập và làm theo. Đó là những điều đã được ông cha ta để lại. Cuộc sống luôn chứa đựng những thử thách và cả những cám dỗ vì vậy nếu chúng ta biết điều chỉnh và hành động đúng đắn chúng ta sẽ trở thành những con người có ích cho xã hội này.

Có rất nhiều những tấm gương sáng về quá trình rèn luyện đạo đức và học tập văn hóa, nổi bật lên đó là vị lãnh tụ thiên tài của nước Việt Nam – chủ Tịch Hồ Chí Minh. Người đã rèn luyện đạo đức cá nhân để có thể trở thành một vị lãnh tụ thiên tài của nước Việt Nam. Khi rèn luyện và đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng người luôn đề cao tinh thần rèn luyện đạo đức cách mạng, ngoài rèn luyện về tri thức. Bác Hồ luôn luôn coi trọng về đạo đức, người nói “muốn làm một đảng viên tốt trước hết phải là những người có đạo đức tốt”, câu đó quả thật rất đúng đắn chúng ta cần phải rèn luyện bản thân và tu dưỡng đạo đức tốt đẹp trước khi trở thành những người tri thức của thời đại.

Là những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần rèn luyện và tu dưỡng đạo đức để trở thành những người công dân có ích cho xã hội, ngoài việc học tập chúng ta cũng cần phải rèn luyện bản thân, luôn luôn có thái độ phê phán với những hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức bởi đó là những thành phần làm kiềm chế sự phát triển của xã hội.

Câu tục ngữ trên đã để lại rất nhiều bài học quý báu cho mỗi chúng ta. Mỗi người cần học tập và phát huy những giá trị to lớn mà câu tục ngữ đó đã để lại, để trở thành người toàn diện chúng ta không ngừng rèn luyện và tu dưỡng bản thân để có thể trở thành những con người có ích cho xã hội hiện đại này.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 2

Từ xưa tới nay, lễ nghĩa chính là điều mà ông cha ta muốn khuyên nhủ con cháu phải không ngừng rèn luyện. Và câu tục ngữ: “Tiên học lễ, hậu học văn” chính là lời dạy dỗ chứa đựng lời dạy đó.

“Tiên học lễ, hậu học văn” là câu tục ngữ nằm trong kho tàng ca dao tục ngữ của dân tộc ta. Câu tục ngữ này gồm hai vế tồn tại song song độc lập với nhau, nhưng bổ trợ ý nghĩa cho nhau.

“Tiên học lễ” là gì? “Tiên” là trước hết học lễ nghĩa đạo đức làm người, thể hiện sự quan trọng của việc biết lễ phép, sống đúng đạo đức biết đối nhân xử thế với những người xung quanh là vô cùng quan trọng. Trong phần này cha ông ta muốn nhắc nhở con cháu mình muốn làm người tài giỏi thì trước tiên hãy học làm người tử tế, biết sống hiếu thuận, yêu kinh người bề trên, người có ơn nghĩa với mình.

“Hậu học văn” là gì? “Hậu” chính là sau, thể hiện vị trí thứ hai của việc học văn hóa, học kiến thức so với việc học lễ nghĩa đạo đức là không quan trọng bằng. Con người sống trong xã hội muốn được người khác kính nể, tôn trọng thì cần phải có đạo đức, biết sống theo lễ giáo gia phong. Sau đó mới là học văn hóa, học những điều kiến thức, mang lại lợi ích về kinh tế, thành công trong công việc cho con người. Như vậy, câu tục ngữ trên có ý nghĩa vô cùng to lớn, quan trọng với mỗi con người chúng ta.

Bởi nếu một người có kiến thức vô cùng uyên bác, được đất nước trọng dụng những sáng tạo cống hiến của mình. Nhưng người đó lại không biết cách đối nhân xử thế sao cho đúng giá trị đạo đức, không coi trọng những người lớn tuổi, những người sinh thành dưỡng dục ra mình thì những kiến thức tài giỏi mà anh ta học được cũng không có ý nghĩa gì hết. Một người có nhân cách tốt, thì mới là người được người ta kính trọng, yêu mến. Một con người dù tài giỏi nhưng không có đạo đức, không có nhân phẩm tốt thì dù có tài tới mấy cũng bị xã hội tẩy chay, bởi thói vô đạo đức của mình không được ai chấp nhận trong cộng đồng.

Đạo đức, lễ nghĩa chính là nền tảng làm nên sự lành mạnh của xã hội. Những con người có phẩm chất đạo đức tốt sẽ được xã hội yêu mến, tạo cơ hội phát triển. Mỗi con người khi sống trong xã hội cần phải tự rèn luyện giá trị đạo đức lễ nghĩa của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức, đức xã hội chấp nhận

Câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” muốn khuyên con người ta hãy học cách làm người sống có đạo đức trước khi học văn hóa. Đúng như Bác Hồ từng nói “Người có tài mà không có đức thì cũng là người vô dụng. Con người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 3

Khi đi học, dù ở sân trường hay trong lớp học, ta đều thấy xuất hiện một câu tục ngữ “Tiên học lễ,hậu học văn”. Trong cuộc sống, đạo đức là thói quen cần rèn luyện.

“Tiên học lễ, hậu học văn” có hai vế đi đôi với nhau nhằm bổ sung cho nhau, làm cho nội dung câu hoàn thiện hơn.

“Tiên” là đầu tiên, là trước nhất. “Lễ” chính là lễ phép hay còn gọi là đạo đức được biểu hiện cụ thể qua cách cư xử với những người xung quanh. “Tiên học lễ” có ý khuyên ta rằng chúng ta cần phải luyện tập phép tắc, ứng xử, hành động thế nào cho đúng mực, phù hợp với chuẩn mực xã hội. “Hậu” có nghĩa là sau, “văn” chính là các bài học văn hoá, các kiến thức học ở nhà trường và từ ngoài xã hội. “Hậu học văn” có ý khuyên rằng sau khi học được cách ứng xử, phép tắt thì sẽ bắt đầu học các kiến thức, chia sẻ bài học với bạn bè. Tóm lại, câu tục ngữ có ý khuyên chúng ta rằng trước khi ta muốn học hỏi những kiến thức những bài học văn hoá sự sống ta cần phải có thói quen luyện tập đạo đức lễ phép, hành động với mọi người sao cho phù hợp với lứa tuổi.

Không có thái độ quý trọng người lớn tuổi, không có sự tôn trọng với người nghèo, những người đã nuôi nấng ta lớn lên dù có học giỏi hay có tài đến đâu thì đều không có ý nghĩa. Người có nhân cách tốt thì xã hội mới quý trọng được. Một tấm gương cao cả về đạo đức đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác là một con người vĩ đại, một nhà cách mạnh lớn. Trước khi trở thành người như vậy Bác đã rèn luyện đạo đức cá nhân, tu dưỡng tâm chí. Khi trên những bục khán đài, bác đã nói đã tuyên truyền về đạo đức của mình cho các cán viên cán bộ, đề cao tinh thần khác quan, đạo đức.

Đối với một học sinh, việc rèn luyện đạo đức, phép tắc vô cùng quan trọng. Gặp thầy cô người lớn khoanh tay chào đoàng hoàng, không có thái độ cười cợt. Không nói tục chửi thề. Đạo đức là nguồn gốc con người, những việc làm tốt sẽ là thói quen đến khi ta trưởng thành,làm một người có ích cho xã hội. Trước học lễ nghĩa để làm người tốt, sau mới học văn chương để làm người hiểu biết.

Không có gì cao đẹp hơn đạo đức và phẩm hạnh ở con người. Hãy không ngừng tu dưỡng đạo đức và văn hoá ứng xử cho bản thân. Đồng thời cũng không ngừng nỗ lực học tập tốt. Chính tri thức sẽ là nguồn sức mạnh giúp ta hoàn thiện bản thân. Có vậy ta mới trưởng thành và có ích cho xã hội.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 4

Nhân dân Việt Nam từ xưa cho đến nay luôn chú trọng đến lễ nghĩa. Chính vì vậy mà ông cha ta mới có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Câu tục ngữ đem đến bài học ý nghĩa cho con người.

Ở vế câu thứ nhất, “tiên” có nghĩa là trước tiên, còn “lễ” là những lễ nghi hay hiểu đơn giản là cách cư xử của mỗi người trong cuộc sống. Con người sinh ra việc đầu tiên cần phải học chính là cách cư xử với những người xung quanh. Đến về câu thứ hai, “hậu” có nghĩa là sau, còn “văn” ý chỉ vốn kiến thức có được trong các môn học hay bên ngoài xã hội. Như vậy, câu tục ngữ muốn khuyên nhủ mỗi người việc cần học đầu tiên phải là học cách làm người có đạo đức, nhân cách tốt. Sau đó mới học đến những kiến thức văn hóa để có thể phát triển bản thân.

Quả thật, khi muốn đánh giá một con người, đôi khi chúng ta không nhìn vào những tấm giấy khen hay những tấm bằng tốt nghiệp. Mà chúng ta đánh giá họ thông qua những hành vi rất nhỏ trong cách giao tiếp, hành xử với những người xung quanh. Nếu “học văn” cung cấp kiến thức cho con người, thì học “lễ nghĩa” sẽ giúp rèn luyện đạo đức, phẩm chất tốt đẹp. Một người vừa có kiến thức sâu rộng, lại biết cách cư xử sẽ gây được thiện cảm tốt đẹp cho mọi người. Từ đó, con đường đến với thành công của họ sẽ nhanh chóng và dễ dàng hơn. Họ cũng nhận được nhiều tình yêu thương và cảm thấy hạnh phúc hơn.

Có “văn” mà không “có lễ” cũng giống như có “tài” mà không có “đức”. Điều ấy sẽ gây ra tác hại vô cùng to lớn. Một người dù có học vấn cao, nhưng lại không biết cách cư xử với những người xung quanh sẽ không có được sự kính trọng, yêu thương từ người khác. Thậm chí, họ có thể gây ra những hành vi sai trái, gây nguy hại cho xã hội (đánh nhau, trộm cướp, giết người…).

Chính vì vậy, mỗi người hãy đặt việc rèn luyện đạo đức, nhân cách lên hàng đầu. Trên nền tảng đó mới học tập kiến thức. Nhà trường và gia đình chính là nơi đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Phải luôn ý thức được rằng rèn luyện đạo đức luôn song hành với rèn luyện kiến thức.

Như vậy, câu tục ngữ trên đã đưa ra một lời khuyên đúng đắn. Mỗi người hãy coi đó như một kim chỉ nam trong quá trình rèn luyện của bản thân.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Có tài mà không có đức là người vô dụng…”. Cũng đồng quan điểm với lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh, ông cha ta có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Có lẽ đây là câu tục ngữ mà khi bước chân vào bất kỳ ngôi trường nào, chúng ta cũng có thể bắt gặp. Trước hết, cần hiểu được “tiên học lễ, hậu học văn” có nghĩa là việc đầu tiên cần phải học các lễ nghĩa, rèn luyện đạo đức, tu dưỡng nhân cách của bản thân; sau đó mới học đến những kiến thức văn hóa, nâng cao vốn hiểu biết.

Dân tộc Việt Nam vốn rất trọng lễ nghĩa. Từ khi còn nằm trong nôi nghe lời ru, tiếng hát của bà của mẹ, chúng ta đã được học những lễ nghĩa. Lời ca dao dạy dỗ con người giữ tròn chữ hiếu vẫn còn đó:

Đến khi lớn khôn, chúng ta được cha mẹ và thầy cô dạy dỗ cho từ những điều đơn giản nhất. Từ lời cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ của người khác, đến lời xin lỗi khi mắc phải sai lầm. Từ lòng tôn kính những người lớn tuổi, đến sự nhường nhịn các em nhỏ. Hay đó là giữ gìn những truyền thống quý giá của dân tộc như tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, tinh thần đoàn kết… Tất cả những điều đó đều là những lễ nghĩa cơ bản làm người.

Trong cuộc sống, không phải ai cũng hiểu rõ vai trò của đạo đức, phẩm chất. Nhiều người dù có hiểu biết sâu rộng, am hiểu nhiều lĩnh vực. Ở ngoài xã hội được rất nhiều người trọng vọng. Nhưng khi về nhà lại cãi lại thậm chí đánh đập cha mẹ. Nhiều học sinh nói xấu thầy cô, bỏ học đi chơi, đánh nhau với bạn bè. Cũng có nhiều trường hợp con người sẵn sàng chém giết lẫn nhau vì thù oán… Những hành vi ấy đều thể hiện một con người không có đạo đức, lễ nghĩa.

Con người, ai cũng mong muốn trở thành một người tốt, có ích cho xã hội. Nhưng để có được điều đó, chúng ta cần phải ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện đạo đức, nhân cách của bản thân. Trong cuộc sống hiện đại, việc rèn luyện lễ nghĩa, phẩm chất phải luôn đi đôi với việc học tập kiến thức văn hóa.

Như vậy, phẩm chất con người bao giờ cũng tồn tại “đức” và “tài”, “lễ” và “văn” không thể thiếu mặt nào. Mỗi người hãy ý thức được điều đó để có thể hoàn thiện bản thân, trở thành người có ích cho xã hội.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 6

Ông cha ta vẫn luôn coi trọng lễ nghĩa từ xưa đến nay. Chính vì vậy mà có câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” để nhắc nhở thế hệ sau này phải giữ gìn truyền thống đó.

Đầu tiên “lễ” ở đây được Nho giáo quy định bằng những lễ giáo, đạo lí phong kiến, khép con người vào khuôn khổ phép tắc kỷ cương (trai thì “Tam cang ngũ thường”, gái thì “Tam tòng tứ đức”). Còn “Học văn”, theo nghĩa xưa là học những điều được ghi trong sách thánh hiền. Ý nghĩa của lời khuyên răn con người trước hết phải học cho được cái cốt cách, cái đạo lý làm người rồi sau đó hãy học đến những điều khác. Như vậy, câu tục ngữ ấy trở thành lời nhắc nhở cần phải rèn luyện đạo đức, nhân cách làm người trước rồi mới học đến văn hóa, chữ nghĩa.

Việc học lễ nghĩa đầu tiên là điều hết sức cần thiết. Điều đó được thể hiện ngay khi chúng ta còn thơ bé, được biến đến lễ nghĩa qua lời ru của bà, của mẹ. Những câu hát đúc kết những truyền thống tốt đẹp của ông cha ta. Rồi khi lớn lên, chúng ta được cha mẹ hướng dẫn cách xử sự từ những điều đơn giản nhất như lời “cám ơn”, tiếng “xin lỗi”, “dạ thưa” với người lớn tuổi… Như vậy, lễ nghĩa đạo lí ấy hầu như đã thấm nhuần trong nhận thức của mỗi chúng ta từ lúc chưa bước chân đến trường. Khi đến trường, con người bên cạnh việc học kiến thức, ta cũng vẫn được thầy cô giáo dục lễ nghĩa, đạo đức như biết kính yêu người thân, quý mến bạn bè và giúp đỡ mọi người xung quanh. Ở bất kì môi trường nào đạo lí cũng đóng vai trò chủ đạo.

Như vậy, để có thể trở thành một người có nhân cách tốt, cần phải ghi nhớ câu “Tiên học lễ, hậu học văn” để từ đó cố gắng rèn luyện bản thân.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 7

Tục ngữ đã đem đến cho con người nhiều lời khuyên quý giá. Một trong số đó là câu: “Tiên học lễ, hậu học văn” với bài học quý giá.

Trước hết cần hiểu được ý nghĩa của câu tục ngữ trên. Ở vế thứ nhất, “tiên” là có nghĩa là ban đầu, trước tiên còn “lễ” là những lễ nghi hay hiểu đơn giản là cách cư xử của mỗi người trong cuộc sống. Việc đầu tiên cần phải của con người đó là học cách lễ nghĩa, cách cư xử với những người xung quanh. Đến về câu thứ hai, “hậu” có nghĩa là sau, còn “văn” ý chỉ vốn kiến thức có được trong các môn học hay bên ngoài xã hội. Tóm lại, câu tục ngữ muốn khuyên nhủ con người trước hết cần học cách sống, ứng xử. Sau đó mới học đến những kiến thức văn hóa để có thể phát triển bản thân.

Lễ nghi, đạo đức luôn có vai trò quan trọng hàng đầu. Đó chính là yếu tố đầu tiên mà mỗi người được dạy dỗ, được học tập trước khi tiếp thu những kiến thức sách vở. Có thể dễ dàng nhận thấy, trước khi cắp sách đến trường học chữ với những phép toán, những bài văn để mở rộng vốn kiến thức hiểu biết chúng ta đã được học lễ nghi, phép tắc. Những lễ nghi, phép tắc ấy chính là lễ nghi với ông bà, với cha mẹ, với những người xung quanh. Nó được biểu hiện ra như khi gặp người lớn tuổi thì phải chào, nói chuyện với người hơn tuổi thì phải thưa, hay biết nói lời “cảm ơn, xin lỗi” tùy theo từng hoàn cảnh.

Advertisement

Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam luôn coi trọng lễ nghĩa. Khi còn nhỏ, mỗi người đều được dạy dỗ phải biết kí trọng yêu thương cha mẹ, nhớ về cội nguồn:

Đến khi lớn lên, con người lại được dạy dỗ về cách ứng xử: kính trên nhường dưới, tôn sư trọng đạo… Sau khi học hỏi được những lễ nghi đó thì mới học đến những kiến thức khác.

Như vậy, câu “Tiên học lễ, hậu học văn” là một lời khuyên vô cùng đúng đắn. Mỗi người hãy ghi nhớ để có thể hoàn thiện bản thân trở thành một người tốt đẹp hơn.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 8

Những câu tục ngữ ngắn gọn nhưng lại gửi gắm những bài học sâu sắc của ông cha ta. Một trong số đó là câu “Tiên học lễ, hậu học văn” nhắc nhở về việc học tập của con người.

Trong vế thứ nhất, “tiên” là có nghĩa là trước, còn “lễ” là những lễ nghi – hay mang ý là cách cư xử của mỗi người trong cuộc sống. Ý nghĩa của “tiên học lễ” nhắn nhủ rằng trước hết con người đó là học lễ nghi. Ở vế thứ hai, “hậu” có nghĩa là sau, còn “văn” là chữ nghĩa, hay mang ý là kiến thức trong các môn học hoặc ngoài xã hội. Ý nghĩa của “hậu học văn” là sau đó mới học kiến thức. Tóm lại, câu tục ngữ muốn khuyên nhủ con người trước hết cần học lễ nghĩa, rồi mới học đến những kiến thức văn hóa.

Dân tộc Việt Nam vốn coi trọng lễ nghĩa. Học lễ sẽ giúp con người biết cách ứng xử, sống chuẩn mực và trở nên tốt đẹp hơn. Từ đó, chúng ta sẽ biết trân trọng những kiến thức, nỗ lực học tập hơn để hoàn thiện bản thân. Từ khi còn nhỏ, chúng ta được cha mẹ dạy dỗ cách nói năng, ăn uống hay giao tiếp, cư xử trước tiên, rồi mới được học đến những kiến thức trong cuộc sống.

Tóm lại, câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” đã giúp mỗi người nhận ra bài học ý nghĩa. Con người cần tích cực rèn luyện bản thân để ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

Giải thích câu Tiên học lễ, hậu học văn – Mẫu 9

Người xưa thường đúc kết kinh nghiệm trong những câu tục ngữ. Tuy ngắn gọn, nhưng tục ngữ lại chứa đựng bài học sâu sắc. Và câu “Tiên học lễ, hậu học văn” cũng là một trong số đó.

Câu tục ngữ có hai vế. Trong vế thứ nhất, “tiên” là có nghĩa là ban đầu, còn “lễ” là những lễ nghi hay hiểu đơn giản là cách cư xử của mỗi người trong cuộc sống. Ý nói rằng việc đầu tiên cần phải của con người đó là học cách lễ nghĩa, cách cư xử với những người xung quanh. Còn ở vế câu thứ hai, “hậu” có nghĩa là sau, “văn” là vốn kiến thức có được trong các môn học hay bên ngoài xã hội. Ý nói rằng việc sau đó là học kiến thức. Như vậy, câu tục ngữ muốn những kiến thức.

Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam vốn coi trọng lễ nghi. Học “lễ” có nghĩa là học cách ứng xử và hành động sao cho chuẩn mực, phù hợp. Khi còn nhỏ, chúng ta được dạy cách nói năng, ăn uống hay đi đứng: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Đến khi lớn lên, chúng ta lại học cách ứng xử như kính trên nhường dưới, tôn sư trọng đạo… Sau khi học hỏi được những lễ nghi đó thì mới học đến những kiến thức văn hóa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một tấm gương sáng về đạo đức. Bác là một nhân cách lớn. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Người vẫn luôn chú ý đến việc rèn luyện đạo đức cá nhân, tu dưỡng tâm chí. Như vậy, việc rèn luyện đạo đức, phép tắc là vô cùng quan trọng. Đạo đức là nguồn gốc con người, những việc làm tốt sẽ tạo nên thói quen tốt. Đầu tiên cần học lễ nghĩa để làm người tốt, sau đó mới học kiến thức để làm người hiểu biết.

Tóm lại, câu “Tiên học lễ, hậu học văn” tuy ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Chúng ta cần tích cực học lễ nghĩa, cũng như kiến thức để hoàn thiện bản thân ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

Văn Mẫu Lớp 6: Viết Bài Văn Tả Cảnh Sinh Hoạt Dàn Ý & 15 Bài Văn Mẫu Lớp 6

Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt

Nội dung bao gồm dàn ý và 15 bài văn mẫu lớp 6, tả cảnh sinh hoạt. Các bạn học sinh có thể tham khảo để hoàn thiện bài viết của mình sao cho nhanh chóng và hay hơn.

1. Mở bài

Giới thiệu về cảnh sinh hoạt sẽ được tả.

2. Thân bài

Tả bao quát khung cảnh sinh và ấn tượng chung về cảnh sinh hoạt.

Tả cụ thể cảnh sinh hoạt theo trình tự thời gian, hoạt động cụ thể của những người tham gia.

Thể hiện cảm xúc khi quan sát, chứng kiến hoặc tham gia cảnh sinh hoạt.

3. Kết bài

Nêu suy nghĩ, đánh giá của người viết về cảnh sinh hoạt.

Đối với mỗi người, trường học giống như ngôi nhà thứ hai vậy. Bởi ở nơi đó, chúng ta có thầy cô, bạn bè giống như những người thân yêu và trải qua thật nhiều kỉ niệm đẹp đẽ.

Ngôi trường cấp hai của em đã được xây dựng nhiều năm. Nhưng cơ sở vật chất vẫn còn khang trang lắm. Dãy nhà hiệu bộ và hai dãy phòng học cao tầng được xây theo hình chữ U. Mỗi dãy nhà đều có ba tầng. Các phòng học đều được quét vôi màu vàng, cửa sổ và cửa ra vào sơn màu xanh rất đẹp. Mỗi phòng đều rộng rãi và có đầy đủ các thiết bị học tập. Bàn ghế được kê ngay ngắn thành ba dãy thẳng hàng. Từ cổng đi vào ở phía bên trái có nhà gửi xe của giáo viên và học sinh. Phía đằng sau dãy nhà hiệu bộ còn có nhà thể chất rất rộng rãi.

Khu vực sân trường được lát gạch phẳng lì. Nơi đây đã lưu giữ những kỉ niệm đẹp đẽ nhất. Những tán cây bàng, xà cừ, phượng vĩ hay bằng lăng đã đứng sừng sững trên sân tỏa bóng mát cho biết bao thế hệ học trò. Vào mỗi buổi học, chúng em sẽ có mười lăm phút nghỉ giải lao giữa giờ. Khi tiếng trống báo hiệu kết thúc tiết học vang lên, trường học trở nên sôi động hơn hẳn. Nhiều học sinh xuống sân trường. Có nhóm thì chơi đá cầu, nhảy dây hay trốn tìm. Có nhóm ngồi học bài, trò chuyện trên ghế đá.

Một số học sinh ở lại trên lớp để ôn bài. Trong nhà thể chất, các anh học sinh khối lớp chín đang chơi đá bóng. Tiếng cười đùa, tiếng trò chuyện vang khắp không gian. Ai cũng đều cảm thấy vui vẻ vì được giải lao, thư giãn sau những giờ học tập căng thẳng.

Em và nhóm bạn cũng xuống sân trường chơi đá cầu. Chúng em thi tầng cầu với nhau. Rồi cả nhóm lại đứng thành vòng tròn để chuyền cầu qua lại. Cả nhóm đã chơi rất vui vẻ. Mười lăm phút trôi qua thật nhanh. Tiếng trống báo hiệu vào tiết vang lên. Từng nhóm học sinh lại lên lớp học, trả lại vẻ yên tĩnh cho ngôi trường.

Dưới ngôi trường này, tôi đã trải qua những giờ học bổ ích. Tôi đã gắn bó với mái trường này suốt năm năm học. Và tôi sẽ mãi yêu ngôi trường Tiểu học của mình.

Gia đình luôn chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Khi xã hội càng phát triển, công việc bận rộn khiến chúng ta không có nhiều thời gian cho gia đình. Bởi vậy mà khoảng thời gian sum họp vào buổi tối sẽ vô cùng ý nghĩa.

Hôm nay là sinh nhật của bố em. Mọi người trong gia đình quyết định sẽ lên kế hoạch tổ chức một buổi sinh nhật cho bố. Em và chị Phương sẽ dọn dẹp và trang trí nhà cửa. Còn mẹ phụ trách việc nấu ăn. Ba mẹ con đã đi mua quà cho bố từ cuối tuần trước. Đó là một chiếc đồng hồ rất đẹp. Chiều hôm đó, mẹ xin nghỉ làm để chuẩn bị mọi thứ. Chị Phương không có tiết học nên ở nhà lau dọn nhà cửa, và đi chợ cùng mẹ. Sau khi tan học, em cũng cố gắng về nhà thật nhanh.

Khi về đến nhà, em thấy mẹ đang bận rộn trong bếp. Còn chị Phương cũng đang trang trí phòng khách. Em nhanh chóng vào giúp chị. Sau mấy tiếng đồng hồ, mẹ đã nấu xong một bàn ăn với những món mà bố thích. Phòng khách cũng được trang trí rất đẹp. Chị Phương còn giúp mẹ cắm một lọ hoa hồng.

Khoảng bảy giờ tối, bố mới đi làm về. Ba mẹ con đã đứng chờ ở phòng khách. Khi bố bước vào nhà, chị Phương cầm chiếc bánh sinh nhật đi về phía bố. Sau đó, mọi người cùng hát bài “Chúc mừng sinh nhật”. Bố đã rất ngạc nhiên về bữa tiệc này. Bố còn nói lời cảm ơn với ba mẹ con nữa. Mọi người cùng nhau chụp những bức ảnh lưu lại kỉ niệm. Sau đó, cả nhà cùng vào nhập tiệc. Mọi người cùng nhau ăn cơm thật vui vẻ. Em đã thay mặt mẹ và chị tặng quà cho bố. Bố nói rằng rất thích món quà này.

Một buổi tiệc sinh nhật thật ấm cúng, ý nghĩa. Gia đình của em đã có những khoảnh khắc đẹp đẽ bên nhau.

Đối với mỗi người, gia đình chính là điểm tựa vô cùng quan trọng. Với riêng em cũng vậy, bởi ở đó có bố mẹ – những người mà em vô cùng yêu thương. Em vẫn còn nhớ như in những kỉ niệm bình dị đã trải qua cùng với bố mẹ, đặc biệt là những bữa cơm sum họp của gia đình.

Hôm đó, mùng 8 tháng 3 – ngày Quốc tế phụ nữ. Em và bố đã quyết định sẽ dành cho mẹ một điều bất ngờ nho nhỏ. Do là thứ hai nên mẹ vẫn phải đi làm. Điều đó đã tạo cơ hội thuận lợi cho em và bố thực hiện kế hoạch của mình. Em đã gợi ý cho bố nhờ đến sự giúp đỡ của cô Chi – cô là một đồng nghiệp của mẹ. Kế hoạch đặt ra là sau giờ dạy, cô sẽ rủ mẹ đi mua sắm cho đến khi cả hai bố con chuẩn bị xong món quà dành cho mẹ. Em đã nhờ bố gọi điện cho cô, và tự mình nói cho cô biết kế hoạch. Sau khi nghe xong, cô Chi rất vui vẻ nhận lời.

Sau khi tan học, em cố gắng về nhà thật sớm. Bố cũng đã xin công ty cho về sớm trước một tiếng để chuẩn bị. Khi về đến nhà em đã thấy trên bàn đã có một bó hoa rất đẹp. Đó là hoa hướng dương – loài hoa mà mẹ rất thích. Em nhớ mẹ nói rằng mẹ thích hoa hướng dương vì nó tượng trưng cho niềm tin và hy vọng.

Sau đó, em nhanh chóng chạy vào bếp thì đã thấy bố đang bận rộn rửa rau. Em liền đến giúp bố. Hai bố con em đã quyết định sẽ nấu cho mẹ một bữa ăn thật đặc biệt. Sau hơn một tiếng đồng hồ bận rộn trong căn bếp của mẹ. Cuối cùng hai bố con đã hoàn thành những món ăn mà mẹ thích: sườn xào chua ngọt, canh cá nấu chua, măng kho tương… Một bàn ăn hấp dẫn đã được sắp xếp đâu vào đây. Ở giữa bàn còn là một lọ hoa do chính tay em tự cắm nữa. Tuy không được đẹp bằng mẹ cắm nhưng em tin chắc nếu mẹ biết là do cô con gái rượu tự tay cắm tặng mình, thì sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Mọi công việc chuẩn bị đã xong xuôi. Hai bộ con đồng ý với nhau rằng công việc quả nội trợ quả thật rất vất vả. Mẹ thật phi thường khi vừa giỏi việc nước, vừa đảm việc nhà.

Hai bố con em đã cố gắng tắm rửa nhanh nhất có thể. Khoảng sáu rưỡi tối, em nhắn tin cho cô Chi rằng mọi công việc đã xong xuôi. Khoảng mười lăm phút sau thì mẹ đã về đến nhà. Trước đó, bố đã tắt hết điện trong nhà. Khi mẹ mở cửa bước vào thì bỗng nhiên điện bật lên, em và bố bước ra. Bố cầm bó hoa hồng tặng mẹ. Lúc đó em nhìn thấy khuôn mặt của mẹ rất ngạc nhiên, kế tiếp là nụ cười hạnh phúc. Mẹ càng ngạc nhiên hơn khi biết được những món ăn trên bàn là do bố con tôi chuẩn bị riêng cho mẹ.

Sau đó, cả gia đình vừa ăn cơm, vừa trò chuyện vui vẻ. Mẹ đã còn khen các món ăn rất ngon. Em khẽ nháy mắt với bố, trong lòng khen thầm rằng bố cũng có tài năng nấu nướng lắm đó. Khi nhìn lọ hoa trên bàn, mẹ đã hỏi hai bố con xem ai là tác giả của lọ hoa. Em vừa mỉm cười nhìn mẹ, vừa trả lời: “Là con ạ”. Lúc đó khuôn mặt của mẹ rất ngạc nhiên, mẹ còn khen lọ hoa rất đẹp nữa. Điều đó khiến em cảm thấy vô cùng sung sướng. Ăn cơm xong, em cùng bố rửa bát. Còn mẹ thì ngồi bổ hoa quả ngoài phòng khách. Sau đó, cả nhà cùng nhau ngồi em vô tuyến, và còn trò chuyện rất vui vẻ.

Trường học là nơi lưu giữ thật nhiều kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi học trò. Bên cạnh những giờ học tập chăm chỉ, thì những giờ ra chơi cũng rất quan trọng với mỗi học sinh.

Vào mỗi buổi học, chúng em sẽ có mười lăm phút nghỉ giải lao. Khi tiếng trống trường vang lên, cũng là lúc giờ ra chơi đã đến. Nhiều nhóm học sinh xuống sân trường để vui chơi. Khoảng sân trường trước đó còn yên tĩnh, giờ trở nên thật nhộn nhịp. Nhóm thì ngồi trên ghế đá trò chuyện. Nhóm thì chơi nhảy dây, đá cầu hay bịt mắt bắt dê. Khuôn mặt ai cũng vui vẻ, háo hức.

Trong các phòng học, nhiều bạn học sinh ngồi ôn lại bài cũ. Chắc hẳn giờ học sau, các bạn sẽ bài kiểm tra nên vẫn chăm chỉ học bài. Các dãy hành lang thì nhộn nhịp tiếng bước chân, tiếng trò chuyện. Các bạn ở lớp này cũng sang lớp khác để hỏi thăm nhau. Thỉnh thoảng, khi các thầy cô đi qua, chúng em đứng lại để chào hỏi. Còn ở khu vực nhà thể chất, nhiều học sinh đang chơi bóng rổ, bóng chuyền hoặc cầu lông. Hôm nay, em cùng với các bạn trong nhóm của mình xuống sân để chơi đá cầu. Cả nhóm đang chơi rất vui vẻ thì thấy Hoàng – giáo viên dạy thể dục của lớp em đi đến. Thầy đề nghị được chơi cùng chúng em. Cả nhóm vui vẻ đồng ý.

Mười lăm phút trôi qua thật nhanh. Tiếng trống trường vang lên, báo hiệu giờ vào lớp. Chúng em tiếc nuối trở về lớp học. Sân trường chẳng mấy trở lại yên tĩnh. Chỉ còn hàng cây cổ thụ đứng đó dưới buồn bã dưới ánh nắng vàng. Thỉnh thoảng, tiếng chim ríu rít ngân vang.

Đối với chúng em, giờ ra chơi rất quan trọng. Đó là khoảng thời gian thư giãn sau những tiết học căng thẳng, cũng như giúp tăng sự gắn kết giữa bạn bè, thầy trò. Bởi vậy, em sẽ trân trọng từng phút giây được học tập và vui chơi dưới mái trường thân yêu của mình.

Chủ nhật, mọi người trong gia đình đều rảnh rỗi. Bố mẹ không phải đi làm. Còn em được nghỉ học. Vì vậy, cả nhà đã quyết định sẽ làm một bữa tiệc nhỏ. Rất lâu rồi mọi người không có dịp quây quần bên nhau.

Chị Hòa và em cảm thấy rất vui vẻ, háo hức. Từ chiều, bố lái xe đưa ba mẹ con ra siêu thị để mua đồ. Bố mẹ nói sẽ làm một bữa tiệc nướng nên đã mua rất nhiều nguyên liệu: thịt, rau củ, hoa quả, nước ngọt… Khi về nhà, em cũng vào bếp để giúp mẹ một số công việc lặt vặt. Còn chị Hòa ở ngoài sân để giúp bố chuẩn bị bàn ăn, bếp nướng.

Một tiếng sau, công việc chuẩn bị đã xong xuôi. Em và mẹ mang các khay thức ăn ra sân. Bố đảm nhận công việc nướng đồ ăn. Mọi người vừa ăn, vừa trò chuyện vui vẻ. Thỉnh thoảng, bố lại nhắc đến những vấn đề thời sự nóng hổi để cả nhà cùng bàn luận. Ai cũng chăm chú lắng nghe và nói ra những suy nghĩ của mình.

Đây là khoảng thời gian cuối tuần thật ý nghĩa với gia đình của em. Nhờ vậy, em cảm thấy thêm yêu thương mọi người trong gia đình của mình nhiều hơn.

Đối với mỗi người, gia đình có vai trò vô cùng quan trọng. Bởi vì, những người thân yêu luôn ở đó động viên và bảo vệ chúng ta.

Vào dịp Tết năm nay, gia đình em đã có một bữa cơm sum họp vô cùng ấm cúng. Chiều ba mươi Tết, mọi người trong gia đình đều bận rộn. Ông, bố và anh trai của em thì dọn dẹp, trang trí nhà cửa. Còn bà và mẹ thì lo chuẩn bị mâm cơm cúng Tất niên. Em chạy quanh nhà giúp đỡ mọi người những công việc nhỏ. Ai cũng đều háo hức đón chờ một năm mới sắp đến. Chẳng mấy chốc, nhà cửa đã sạch sẽ, gọn gàng. Mâm cơm cúng Tất niên cũng rất đầy đủ, đẹp mắt. Mọi người ăn mặc thật chỉnh tề, và đứng trước bàn thờ gia tiên để thắp hương cho ông bà tổ tiên. Em cảm nhận được không khí vô cùng thiêng liêng, trang trọng.

Đến tối, mọi người trong nhà cùng nhau quây quần bên mâm cơm. Những món ăn truyền thống như canh măng, thịt gà luộc, nem rán… được bày biện trên bàn. Đầu tiên, ông nội thay mặt cả gia đình tổng kết lại một năm. Khuôn mặt các thành viên hết sức nghiêm trang. Bầu không khí vô cùng yên tĩnh. Chỉ có giọng nói của ông vẫn ôn tồn, vang vọng. Sau khi ông phát biểu, mọi người cùng nâng ly để chúc mừng năm mới. Tiếng hô vang: “Chúc mừng năm mới” khiến em cảm nhận được Tết đã sắp đến gần.

Sau bữa cơm giao thừa, cả gia đình của em quây quần bên chiếc vô tuyền để xem Táo Quân. Tiếng cười vang lên không ngớt trước những tình huống hài hước và lối diễn tài ba của các cô chú diễn viên hài. Mọi người vừa xem vừa trò chuyện rôm rả. Không khí thật ấm cúng biết bao. Đến mười hai giờ, em và anh trai lên sân thượng để xem pháo hoa. Sau đó, hai anh em sẽ xuống chúc Tết ông bà và bố mẹ. Cả hai thích thú khi nhận được những phong bao lì xì đỏ thắm. Em đã có một ngày cuối năm tuyệt vời bên những người thân yêu.

Khoảng thời gian bên gia đình thật đáng trân trọng. Bởi đó là giây phút ấm áp, hạnh phúc và bình yên nhất trong cuộc đời của mỗi người.

Trung Thu là Tết của thiếu nhi. Vào dịp Tết Trung Thu, quê hương em không chỉ đẹp đẽ mà còn rất nhộn nhịp, sôi động.

Khi ông mặt trời dần khuất sau lũy tre làng. Cũng là lúc màn đêm buông xuống. Bầu trời cao thăm thẳm và lấp lánh những vì sao đêm. Một đêm mùa thu với tiết trời se lạnh. Gió thoảng thoảng khẽ vờn trong những tán cây. Khắp xóm làng nhộn nhịp tiếng cười của lũ trẻ rủ nhau đi phá cỗ Trung Thu.

Mặt trăng bắt đầu lên cao hơn, to hơn và sáng rõ hơn. Trăng giống như một chiếc đĩa khổng lồ đang lơ lửng trên không trung, làm bạn cùng với những vì sao nhỏ bé. Ánh trăng đêm nay dường như sáng kì lạ, soi xuống trước sân nhà những vệt sáng vàng. Làng xóm ngập trong ánh trăng đêm rằm.

Khoảng tám giờ, trẻ em trong làng bắt đầu với lễ hội Trung Thu của mình. Tất cả tụ họp lại khoảng sân rộng rãi ở nhà văn hóa xem tiết mục múa lân do các anh chị thanh thiếu niên biểu diễn. Em cùng các bạn trong xóm cũng rủ nhau đến tham gia. Dưới ánh trăng sáng, những con lân với màu sắc rực rỡ múa lượn từng vòng theo nhịp trống đánh dồn dập. Những chiếc đèn ông sao, đèn kéo quân… lấp lánh trong ánh trăng vàng. Sau đó là sự xuất hiện của chị Hằng và chú Cuội với những màn đối đáp hài hước. Cùng với đó là các tiết mục văn nghệ của các anh chị, các bạn nhỏ.

Sau các tiết mục văn nghệ là phần chia bánh kẹo. Chúng em đứa nào cũng háo hức nhận quà từ chị Hằng và chú Quậy. Phần thi trình bày mâm ngũ quả cũng rất hấp dẫn. Ba đội dự thi gồm có: xóm trên, xóm giữa và xóm dưới. Mâm ngũ quả của mỗi đội đều rất cầu kỳ và đẹp đẽ. Những loại quả hàng ngày em vẫn ăn như dưa hấu, dứa, thanh long, bưởi… đã được cắt tỉa thành những bông hoa rực rỡ màu sắc, những chú chó xinh xắn… Ban giám khảo đã phải rất khó khăn trong việc lựa chọn đội chiến thắng. Cuối cùng với phần trình bày độc đáo nhất, mâm ngũ quả của đội xóm giữa đã giành được chiến thắng. Cuối chương trình, chúng em được phá cỗ. Bạn nhỏ nào cũng háo hức khi được thưởng thức bánh trung thu, hoa quả… Mọi người vừa ăn uống vừa trò chuyện rất vui vẻ.

Tết Trung Thu là dịp để mọi người có thể gần gũi nhau hơn, đặc biệt là với chúng em. Bởi vậy, trong những dịp lễ, em thích nhất là Tết Trung Thu.

Chiều thứ sáu hàng tuần, lớp tôi sẽ có một buổi sinh hoạt tổng kết thi đua trong tuần. Buổi sinh hoạt diễn ra vào tiết học cuối cùng, dưới sự giám sát của cô giáo chủ nhiệm.

Cô giáo yêu cầu lớp trưởng tiến hành tổng kết lại kết quả thi đua của các tổ. Bạn Hòa – lớp trưởng đã thay mặt cả lớp đề ra mục tiêu thi đua của tháng tới. Sau khi phát biểu xong, cô chủ nhiệm yêu cầu Hòa lấy ý kiến của các bạn trong lớp. Sau câu hỏi của Hòa – cả lớp chìm vào yên lặng. Một vài phút sau một cánh tay giơ lên. Đó là Lan Anh – tổ trưởng của tổ ba. Lan Anh đã bày tỏ ý kiến của mình về bạn Tùng – một học sinh mới chuyển đến lớp. Bạn ấy cho rằng Tùng là một cậu bạn nghịch ngợm, trong giờ học thường bị thầy cô nhắc nhở gây ảnh hưởng đến thành tích của lớp. Lan Anh cũng đề nghị cần có những biện pháp kiểm điểm đối với Tùng.

Ý kiến của Lan Anh khiến cả lớp xôn xao. Có bạn đồng tình, có bạn phản đối. Lớp trưởng đã đề nghị sẽ được giải quyết vấn đề này. Trong ấn tượng của tôi và Hòa, tuy Tùng là một cậu bạn khá nghịch ngợm nhưng lại rất tốt bụng. Bởi vậy, tôi tin rằng Hòa sẽ có quyết định đúng đắn:

– Thưa các bạn, trước hết tôi xin được tiếp nhận ý kiến của Lan Anh. Tùng là một học sinh mới chuyển đến lớp mình không lâu. Tuy khá là nghịch ngợm, nhưng cậu ấy lại là một người bạn rất tốt. Trong học tập, Tùng có thành tích học tập rất giỏi. Có những câu trả lời khó của thầy cô, Tùng cũng là người đứng ra trả lời. Đối với bạn bè, Tùng cũng luôn nhiệt tình giúp đỡ như giảng bài cho các bạn học kém, giúp một số bạn đến muộn trực nhật…

Cả lớp bắt đầu xôn xao bàn tán. Những ý kiến tán thành dường như ngày càng nhiều hơn. Bản thân Tùng đã tự đứng ra kiểm điểm, nhận lỗi và hứa sẽ sửa đổi.

Cuối cùng, cô giáo chủ nhiệm yêu cầu cả lớp biểu quyết. Các thành viên trong lớp đều đồng ý sẽ cho Tùng một cơ hội sửa chữa. Bản thân Lan Anh cũng đã bị thuyết phục.

Để kết thúc buổi sinh hoạt, Hòa đã nêu ra những mục tiêu của tuần mới. Buổi sinh hoạt đã kết thúc tốt đẹp.

Hằng ngày, vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, mọi người trong gia đình em lại có một khoảng thời gian ý nghĩa để quây quần bên nhau.

Từ những ngày giáp Tết, trên đường phố đã đông đúc người qua lại. Những khu chợ rộn nhịp tiếng nói của người mua người bán. Chợ hoa Tết rực rỡ sắc màu của trăm loài hoa khoe sắc. Những cây đào, cây mai, cây quất đã trở thành biểu tượng của dịp Tết cổ truyền dân tộc.

Gia đình em cũng háo hức chuẩn bị đón Tết. Đặc biệt là vào đêm ba mươi Tết, cả nhà em lại sum vầy bên mâm cơm giao thừa. Cả gia đình vừa ăn uống, vừa trò chuyện với nhau về những điều đã xảy ra trong một năm vừa qua. Đêm giao thừa cả nhà ngồi xem chương trình “Táo Quân”. Đến đúng mười hai giờ, em cùng với chị gái lên tầng để xem pháo hoa. Màn pháo hoa rực rỡ khiến cho người xem cảm thấy xao xuyến. Khoảnh khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới đem đến cho con người những cảm xúc thật đẹp đẽ.

Sau đó, em cùng với chị gái đến chúc Tết ông bà, bố mẹ. Cả hai còn nhận được những phong bao lì xì đỏ thắm. Những lời chúc mừng năm mới mong cho một năm may mắn, an khang và thịnh phượng. Một ngày cuối cùng của năm cũ đã qua đi với niềm hạnh phúc.

Em rất yêu ngày tết. Bởi Tết đã đem đến cho con người thật nhiều khoảng thời gian ý nghĩa bên gia đình thân yêu của mình.

Những năm tháng học trò đem đến cho em rất nhiều kỉ niệm. Bên cạnh những giờ học tập bổ ích là những giờ giải lao sôi động.

Ngôi trường cấp hai của em rất to và đẹp. Sân trường sạch sẽ, rộng rãi. Những hàng cây cổ thụ tỏa bóng giúp sân trường luôn mát mẻ. Mỗi giờ ra chơi, sân trường học lại trở nên sôi động, nhộn nhịp.

Mỗi buổi học, chúng em sẽ có mười lăm phút nghỉ giải lao giữa giờ. Khi tiếng trống báo hiệu kết thúc tiết học vang lên, em cảm thấy vô cùng háo hức. Sau khoảng thời gian học tập mệt mỏi, chúng em sẽ có những phút được nghỉ ngơi.

Một số học sinh ở lại trên lớp để ôn bài, trò chuyện. Một số học sinh lại nhanh chóng xuống sân trường chơi đá cầu nhảy dây, đuổi bắt… Trong nhà thể chất, các anh học sinh lớp chín đang chơi đá bóng. Tiếng cười đùa, tiếng trò chuyện vang khắp không gian. Khuôn mặt ai cũng vui vẻ, háo hức.

Em cũng cùng với một số bạn trong lớp xuống sân trường chơi. Cả nhóm rủ nhau chơi nhảy dây. Trò chơi diễn ra vô cùng hấp dẫn. Chúng em đã có mười lăm phút thật quý giá.

Em cảm thấy vô cùng trân trọng những khoảng thời gian ý nghĩa đó. Đối với em, ngôi trường Trung học cơ sở (tên trường) giống như mái nhà thứ hai của mình. Em rất tự yêu quý ngôi trường của mình.

Gia đình là điểm tựa vô cùng quan trọng. Em vẫn còn nhớ như in những kỉ niệm bình dị đã trải qua cùng với bố mẹ, đặc biệt là những bữa cơm sum họp của gia đình.

Vào dịp mùng 8 tháng 3 – ngày Quốc tế phụ nữ vừa qua. Em và bố đã quyết định sẽ dành cho mẹ một điều bất ngờ nho nhỏ. Hai bố con sẽ tổ chức một bữa tiệc chúc mừng mẹ. Hôm đó là thứ hai, nên bố đã xin về sớm để chuẩn bị. Sau khi tan học, em cũng cố gắng về nhà thật sớm. Khi em đi học về đã thấy trên bàn đã có một bó hoa rất đẹp. Đó là hoa hồng trắng – loài hoa mà mẹ rất thích.

Em nhanh chóng chạy vào bếp thì đã thấy bố đang bận rộn rửa rau. Em liền đến giúp bố. Sau hơn một tiếng đồng hồ bận rộn trong căn bếp của mẹ. Cuối cùng hai bố con đã hoàn thành những món ăn mà mẹ thích. Một bàn ăn hấp dẫn đã được sắp xếp đâu vào đây. Ở giữa bàn còn là một lọ hoa do chính tay em tự cắm nữa. Mọi công việc chuẩn bị đã xong xuôi. Chỉ còn chờ nhân vật chính đi làm về.

Khoảng sáu rưỡi tối, mẹ đi làm về. Trước đó, bố đã tắt hết điện trong nhà. Khi mẹ mở cửa bước vào thì bỗng nhiên điện bật lên, em và bố bước ra. Bố cầm bó hoa hồng tặng mẹ. Lúc đó em nhìn thấy khuôn mặt của mẹ rất ngạc nhiên, kế tiếp là nụ cười hạnh phúc. Mẹ càng ngạc nhiên hơn khi biết được những món ăn trên bàn là do bố con tôi chuẩn bị riêng cho mẹ.

Cả gia đình vừa ăn cơm, vừa trò chuyện vui vẻ. Mẹ đã còn khen các món ăn rất ngon. Khi nhìn lọ hoa trên bàn, mẹ đã hỏi hai bố con xem ai là tác giả của lọ hoa. Em vừa mỉm cười nhìn mẹ, vừa trả lời: “Là con ạ”. Lúc đó khuôn mặt của mẹ rất ngạc nhiên, mẹ còn khen lọ hoa rất đẹp nữa. Điều đó khiến em cảm thấy vô cùng sung sướng. Ăn cơm xong, em cùng bố rửa bát. Còn mẹ thì ngồi bổ hoa quả ngoài phòng khách.

Advertisement

Bữa tiệc đã diễn ra thành công vô cùng. Mẹ đã cảm thấy rất hạnh phúc và bất ngờ. Em và bố cũng cảm thấy vui không kém vì đã khiến mẹ hạnh phúc hơn.

Mỗi dịp Tết đến, gia đình em lại có thời gian để quây quần bên nhau. Đó là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa, hạnh phúc của tất cả các thành viên trong gia đình.

Những ngày cuối năm mọi người đều rất bận rộn. Mỗi người một công việc khác nhau. Bố thì dọn dẹp nhà cửa, còn mẹ thì đi chợ mua sắm đồ Tết. Đến chiều ba mươi Tết – chiều cuối năm, mọi người trong gia đình mới có khoảng thời gian quây quần bên nhau. Sau khi mẹ chuẩn bị xong mâm cơm cúng Tất niên, mọi người trong gia đình ăn mặc thật chỉnh tề, đứng trước bàn thờ gia tiên để thắp hương tổ tiên.

Đến tối, cả gia đình quây quần bên mâm cơm ấm cúng. Các món ăn của ngày tết như thịt gà, canh mọc, chả giò, bánh chưng… được bày biện vô cùng đẹp mắt và hấp dẫn. Trước khi nhập tiệc, ông nội thay mặt cả gia đình tổng kết lại một năm. Khuôn mặt các thành viên hết sức nghiêm trang. Bầu không khí vô cùng yên tĩnh. Giọng nói của ông vang vọng khắp nhà. Sau khi ông phát biểu, cả nhà cùng nâng ly để chúc mừng. Tiếng hô vang: “Chúc mừng năm mới” khiến cho không khí thêm rộn ràng. Các thành viên vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả.

Khoảng tám giờ tối, em cùng với anh trai ngồi xem chương trình Táo Quân. Còn bố mẹ thì lo chuẩn bị để cúng giao thừa. Ông nội cũng ngồi xem cùng hai anh em. Ba ông cháu vừa xem vừa trò chuyện rất vui vẻ. Đến mười hai giờ, ông nội thay mặt gia đình làm lễ cúng giao thừa. Bố mẹ ngồi xem chương trình văn nghệ mừng xuân. Còn em và anh trai lên sân thượng để xem pháo hoa.

Một ngày cuối năm thật ấm cúng và hạnh phúc. Chúng ta hãy trân trọng khoảng thời gian quý giá được ở bên gia đình.

Hôm nay là cuối tuần, bố mẹ quyết định sẽ làm một bữa tiệc nhỏ. Bởi vậy mà em đã vào bếp giúp mẹ nấu nướng.

Em giúp mẹ một số công việc nhỏ như nấu cơm, nhặt rau hay luộc thịt. Hai mẹ con vừa trò chuyện vừa làm việc. Mẹ hỏi han tình hình học tập của em. Em đã vui vẻ chia sẻ với mẹ. Mẹ còn dạy cho em cách nấu một số món ăn. Ngoài phòng khách, bố và anh trai vừa xem phim, vừa nói chuyện rất rôm rả.

Một tiếng sau, công việc nấu ăn đã xong xuôi. Em nhìn các món ăn vừa đẹp mắt, vừa thơm ngon mà lòng thật khâm phục mẹ. Tuy công việc bận rộn, nhưng mẹ luôn chăm sóc mọi người trong gia đình. Trước đó, bố và em trai được mẹ yêu cầu dọn dẹp bàn ăn, bát đũa. Rồi mọi người cùng nhau bê các món ăn ra bàn ăn. Mọi người vừa ăn cơm, vừa trò chuyện vui vẻ. Thỉnh thoảng, bố lại nhắc đến những vấn đề thời sự nóng hổi để cả nhà cùng bàn luận. Ai cũng chăm chú lắng nghe, và nói ra những suy nghĩ của mình.

Sau bữa cơm, em và em trai giúp mẹ dọn dẹp, rửa bát. Xong xuôi tất cả, mọi người lại ngồi trò chuyện, xem phim ngoài phòng khách. Em giúp mẹ gọt hoa quả rồi đem ra mời bố mẹ. Mọi người cùng nhau xem phim, và bàn luận sôi nổi về các nhân vật trong bộ phim. Lâu lắm rồi, gia đình của em mới vui vẻ như vậy.

Khoảng thời gian cả gia đình quây quần bên nhau thật hạnh phúc. Em cũng thêm hiểu và yêu thương các thành viên trong gia đình của mình nhiều hơn.

Trong cuộc sống, gia đình có một vai trò vô cùng quan trọng. Chúng ta cần phải trân trọng khoảng thời gian được ở bên gia đình. Bản thân em cũng như vậy.

Thứ sáu tuần này là sinh nhật của bố. Mẹ đã lên kế hoạch để tổ chức một buổi sinh nhật cho bố. Em và chị Hằng được phân công dọn dẹp và trang trí nhà cửa. Còn mẹ sẽ phụ trách việc nấu nướng. Ba mẹ con đã đi mua quà cho bố từ cuối tuần trước. Đó là một đôi giày rất đẹp. Bố hoàn toàn không biết đến kế hoạch này.

Chiều hôm đó, mẹ đã xin nghỉ để ở nhà chuẩn bị. Chị Hằng không có tiết học nên ở nhà giúp mẹ. Còn em đi học về cũng nhanh chóng bắt tay vào công việc. Hai chị em trang trí nhà cửa. Mẹ thì bận rộn trong bếp. Sau mấy tiếng đồng hồ, mẹ đã nấu xong một bàn ăn với những món mà bố thích. Phòng khách cũng được trang trí rất đẹp. Chị Hằng còn giúp mẹ cắm một lọ hoa.

Khoảng bảy giờ tối, bố mới đi làm về. Ba mẹ con đã đứng chờ ở phòng khách. Khi bố bước vào nhà, chị Hằng mang chiếc bánh sinh nhật ra. Sau đó, mọi người cùng hát bài “Chúc mừng sinh nhật”. Bố đã rất ngạc nhiên về bữa tiệc này. Bố còn nói lời cảm ơn với ba mẹ con nữa. Mọi người cùng nhau chụp những bức ảnh lưu lại kỉ niệm. Sau đó, cả nhà cùng vào nhập tiệc. Mọi người cùng nhau ăn cơm thật vui vẻ. Em đã thay mặt mẹ và chị tặng quà cho bố. Bố nói rằng rất thích món quà này.

Hôm nay là một ngày thật đáng nhớ. Gia đình của em đã có những khoảnh khắc đẹp đẽ bên nhau. Và em cảm thấy rất yêu gia đình của mình.

Năm nay, em được về quê ngoại ăn Tết. Em đã có rất nhiều trải nghiệm thú vị bên những người thân yêu.

Chiều ba mươi Tết, mọi người trong gia đình đều bận rộn. Ông, bố và anh trai của em thì dọn dẹp nhà cửa. Còn bà và mẹ thì lo chuẩn bị mâm cơm cúng Tất niên. Em chạy quanh nhà giúp đỡ mọi người những công việc nhỏ. Ai cũng đều háo hức đón chờ một năm mới sắp đến. Chẳng mấy chốc, nhà cửa đã sạch sẽ, gọn gàng. Mâm cơm cúng Tất niên cũng rất đầy đủ, đẹp mắt. Mọi người ăn mặc thật chỉnh tề, và đứng trước bàn thờ gia tiên để thắp hương cho ông bà tổ tiên. Em cảm nhận được không khí vô cùng thiêng liêng, trang trọng.

Sau đó, cả gia đình cùng quân quần bên mâm cơm Tất niên. Đầu tiên, ông thay mặt cả gia đình tổng kết lại một năm. Khuôn mặt các thành viên hết sức nghiêm trang. Bầu không khí vô cùng yên tĩnh. Chỉ có giọng nói của ông vẫn ôn tồn, vang vọng. Sau khi ông phát biểu, mọi người cùng nâng ly để chúc mừng năm mới. Tiếng hô vang: “Chúc mừng năm mới” khiến em cảm nhận được Tết đã sắp đến gần.

Sau bữa cơm giao thừa, cả gia đình của em quây quần bên chiếc vô tuyến để xem các chương trình Tết. Mọi người vừa xem vừa trò chuyện rôm rả. Không khí thật ấm cúng biết bao. Đến mười hai giờ, em sẽ chúc Tết ông bà, bố mẹ và nhận được những phong bao lì xì đỏ thắm.

Khung cảnh sinh hoạt vào dịp Tết thật rộn ràng, vui tươi. Dịp Tết cũng là khoảng thời gian để con người sum vầy bên gia đình. Mỗi kỉ niệm cùng với người thân đều vô cùng đáng quý. Từ đó chúng ta càng biết yêu mến và trân trọng hơn gia đình.

Văn Mẫu Lớp 7: Viết Bài Văn Biểu Cảm Về Con Người Hoặc Sự Việc Dàn Ý & 16 Bài Văn Mẫu Lớp 7

Viết bài văn biểu cảm về con người và sự việc

Tài liệu bao gồm dàn ý và 16 bài văn mẫu, dành cho các bạn học sinh lớp 7 khi hoàn thiện bài viết của mình. Nội dung chi tiết được đăng tải ngay sau đây.

Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc

Dàn ý bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc

Tìm ý bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc

Bài văn biểu cảm về con người (8 mẫu)

Bài văn biểu cảm về sự việc (8 mẫu)

Dàn ý bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc

1. Mở bài

Giới thiệu về con người hoặc sự việc mà em muốn bày tỏ tình cảm, suy nghĩ.

Bày tỏ tình cảm, ấn tượng ban đầu của em về con người hoặc sự việc đó.

2. Thân bài

– Giới thiệu chung:

Người đó là ai? Sự việc đó là gì?

Người hoặc sự việc đó có đặc điểm nào nổi bật?

– Kể lại đôi nét về con người hoặc diễn biến sự việc.

– Trình bày cảm xúc, suy nghĩ về những con người hoặc sự việc.

3. Kết bài

Khẳng định lại tình cảm, suy nghĩ của em đối với người, sự việc được nói tới.

Tìm ý bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc Bài văn biểu cảm về con người Bài văn mẫu số 1

Người bố có cách thể hiện tình yêu với con cái thật khác so với người mẹ. Nếu mẹ có vẻ dịu dàng, thì bố lại luôn nghiêm khắc. Dù vậy, tình yêu thương của bố cũng không thua kém so với mẹ.

Gia đình của tôi gồm có bốn thành viên. Đó là bố, mẹ, anh Tùng và tôi. Năm nay, bố bốn mươi lăm tuổi. Bố có dáng người cao nhưng hơi gầy. Khuôn mặt vuông chữ điền, mái tóc cắt ngắn đã điểm vài sợi bạc. Làn da ngăm đen vì những tháng ngày vất vả làm việc. Vầng trán cao toát lên vẻ cương nghị. Tôi thích nhất là đôi bàn tay to lớn, chai sần nhưng tràn đầy ấm áp.

Theo lời nhận xét của mẹ, bố là một người khó tính, nguyên khắc và cẩn thận. Dù vậy, bố cũng rất lãng mạn và tâm lí. Là một bác sĩ, công việc của bố luôn bận rộn. Nhưng bố vẫn dành thời gian cho gia đình. Bố luôn sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ việc nhà với mẹ. Mỗi khi có bài tập khó, em thường nhớ bố hướng dẫn. Mỗi khi rảnh rỗi, bố lại đưa cả nhà đi chơi. Bố cũng rất giỏi nấu ăn. Món tủ của bố là sườn xào chua ngọt. Đó cũng là món tôi thích nhất. Từ nhỏ đến lớn, bố đã dạy cho anh Tùng và tôi rất nhiều điều bổ ích. Bố đã rèn luyện cho chúng tôi trở thành những đứa trẻ ngoan ngoãn và tự lập.

Thời gian qua đi, bố ngày càng có tuổi. Có nhiều lúc đi làm về, tôi cảm nhận được sự mệt mỏi của bố. Nhưng bố chưa bao giờ than vãn. Mà bố vẫn luôn là điểm tựa vững chắc của hai mẹ con.

Người bố quả thật luôn dành cho con tình yêu thương đặc biệt. Bởi vậy, chúng ta phải luôn dành sự yêu thương và kính trọng cho họ.

Bài văn mẫu số 2

Chẳng thể nào đong đếm được công lao to lớn của đấng sinh thành. Bởi vậy, chúng ta cần biết yêu thương và trân trọng họ. Với tôi, mẹ là người quan trọng nhất.

Mẹ của tôi là Nguyễn Thị Hồng Hạnh. Năm nay, mẹ bốn mươi tuổi. Nhưng mẹ vẫn rất xinh đẹp và trẻ trung. Dáng người của mẹ khá thanh mảnh. Khuôn mặt có hình trái xoan. Nước da hồng hào, vẫn còn rất mịn màng. Mái tóc dài đen nhánh được buộc gọn gàng. Nhưng tôi thích nhất là đôi bàn tay của mẹ.

Mẹ của tôi là một bác sĩ. Công việc của mẹ rất bận rộn. Thỉnh thoảng, mẹ còn phải ở lại bệnh viện để trực. Nhưng mẹ vẫn luôn dành thời gian cho gia đình. Điều này khiến tôi khâm phục mẹ vô cùng. Mẹ vừa dịu dàng, tâm lí nhưng cũng rất nghiêm khắc. Khi tôi vẫn còn bé rất nghịch ngợm. Nhiều lúc tôi đã gây ra những lỗi lầm khiến mẹ rất buồn lòng. Những lúc như vậy, mẹ sẽ khuyên bảo tôi.

Cuối tuần, mẹ được nghỉ ở nhà. Mẹ sẽ nấu nhiều món ngon cho tôi. Thỉnh thoảng, mẹ còn đưa tôi đi chơi nữa. Lúc đó, tôi đều cảm thấy rất vui vẻ. Tôi đã có thật nhiều kỉ niệm đẹp cùng với mẹ. Không chỉ vậy, mẹ đã dạy cho tôi nhiều kĩ năng trong cuộc sống. Mọi công việc, tôi đều có thể làm được tốt. Nhờ vậy, tôi trở nên tự lập hơn trong cuộc sống. Không chỉ vậy, mẹ còn là điểm tựa tinh thần vững chắc của tôi. Thỉnh thoảng, hai mẹ con lại ngồi tâm sự, trò chuyện với nhau. Mẹ luôn lắng nghe, chia sẻ và động viên tôi. Mẹ giống như một người bạn của tôi vậy.

Từ tận đáy lòng, tôi luôn yêu mến và kính trọng mẹ. Tôi cũng mong rằng mẹ sẽ luôn khỏe mạnh, vui vẻ. Tôi tự hứa sẽ cố gắng để mẹ luôn cảm thấy tự hào.

Bài văn mẫu số 3

Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam vẫn có truyền thống “tôn sư trọng đạo”. Thầy có là những người có công ơn dạy dỗ, dìu dắt chúng ta trong hành trình tìm đến với tri thức. Trong cuộc đời, mỗi người hẳn đều có một người thầy, cô giáo mà bản thân rất kính trọng. Và tôi cũng như vậy.

Người giáo viên mà tôi yêu quý và kính trọng nhất là cô Nguyễn Thu Hà. Cô là giáo viên chủ nhiệm của lớp tôi, cũng là giáo viên dạy môn Ngữ văn. Năm nay, cô ba mươi sáu tuổi. Khuôn mặt của cô trông rất hiền dịu. Nước da trắng hồng, cùng mái tóc dài ngang vai. Đôi mắt với ánh nhìn dịu dàng. Nụ cười của cô luôn rạng rỡ trên môi. Mỗi khi đến lớp, cô thường mặc những trang phục đơn giản, nhưng toát lên vẻ thanh lịch. Tôi cảm thấy cô rất xinh đẹp, trẻ trung.

Trong giờ học, cô là một giáo viên rất nghiêm khắc. Dù vậy, cô cũng rất tâm lí. Cô luôn dành thời gian để truyền đạt cho học sinh kiến thức của môn học một cách tốt nhất. Giọng nói của cô vừa truyền cảm, vừa ấm áp. Tôi rất yêu thích giọng nói của cô. Mỗi khi có bạn không chú ý nghe giảng, cô đều nhắc nhở nhẹ nhàng. Cô rất hay ở lại lớp trong những giờ ra chơi để trò chuyện cùng chúng tôi. Cô tâm sự với cả lớp rất nhiều điều: từ việc học tập, đến vấn đề trong cuộc sống. Nhờ có cô, tôi cảm thấy học được rất nhiều điều bổ ích.

Tôi còn nhớ mãi một kỉ niệm về cô. Hôm đó, cô gọi tôi lên bảng để kiểm tra bài cũ. Nhưng tối hôm trước, tôi đã không học bài do mải xem phim. Khi nghe cô hỏi, tôi không trả lời được câu hỏi. Lúc đó, tôi nhìn thấy ánh mắt của cô rất buồn. Từ trước tới nay, tôi luôn là một học sinh chăm chỉ. Việc xảy ra ngày hôm nay có lẽ đã khiến cô cảm thấy thất vọng. Cô không trách mắng, mà yêu cầu tôi về chỗ. Cả buổi học hôm đó, tâm trạng của tôi rất nặng nề. Tôi tự trách bản thân. Cuối buổi học, tôi đã chủ động lên xin lỗi cô. Lời nhắc nhở của cô khiến tôi còn nhớ mãi. Nhờ có cô, tôi mới ý thức học tập chăm chỉ hơn.

“Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy” – Đó là câu tục ngữ đề cao vai trò của người giáo viên. Bởi vậy, tôi luôn tự nhắc nhở bản thân phải yêu quý và kính trọng cô giáo của mình.

Bài văn mẫu số 4

Thầy cô giáo giống như những người lái đò thầm lặng đã dìu dắt biết bao thế hệ học trò đến với bến bờ của tri thức.

Cô Nguyễn Phương là người giáo viên mà em cảm thấy vô cùng yêu mến. Cô là giáo viên chủ nhiệm năm lớp 6 của em. Năm nay, cô khoảng ba mươi lăm tuổi. Dáng người của cô nhỏ nhắn, thanh mảnh. Mái tóc đen dài, luôn được buộc gọn gàng. Cô cao khoảng một mét sáu mươi lăm. Khuôn mặt trái xoan với nước da trắng hồng rạng rỡ. Đôi mắt sáng với ánh nhìn toát ra vẻ dịu dàng. Mỗi khi nhìn vào ánh mắt ấy, em cảm nhận được sự yêu thương mà cô dành cho học trò. Cô có giọng nói ấm áp, dịu dàng. Mỗi khi cô giảng bài, chúng em đều say sưa lắng nghe.

Em cảm thấy cô là một giáo viên vô cùng nhiệt huyết. Mỗi giờ học, cô đều yêu cầu chúng em chú ý lắng nghe bài giảng. Không chỉ vậy, cô còn tạo ra bầu không khí sôi nổi, vui vẻ để tiết học hiệu quả hơn. Mỗi khi có một bạn học sinh không hiểu bài là cô sẽ kiên nhẫn giảng lại. Ngoài giờ học, cô Nguyễn Phương vẫn dành cho học trò sự quan tâm. Chúng em đều rất yêu quý cô.

Mỗi kỉ niệm về cô đều khiến em cảm thấy trân trọng. Tuy bây giờ, em không còn được học cô nữa, nhưng em vẫn nhớ đến cô với những tình cảm tốt đẹp, và lòng kính trọng vô cùng.

Có thể thấy rằng, mỗi người thầy, người cô đều đáng kính, đáng yêu. Bởi vậy, chúng ta hãy luôn dành cho họ sự tôn trọng, yêu mến.

Bài văn mẫu số 5

Thầy cô – những người thầm lặng đã dìu dắt chúng ta nên người. Bởi vậy, em luôn dành cho họ sự yêu mến, kính trọng.

Người giáo viên em yêu mến nhất là thầy Cường. Thầy là giáo viên chủ nhiệm năm lớp 6 của em. Cũng là giáo viên phụ trách dạy môn Toán của lớp em. Thầy đã gần năm mươi tuổi rồi. Dáng người cao, khá gầy. Mái tóc thầy đã điểm những sợi điểm bạc. Đôi mắt với ánh nhìn hiền từ. Giọng nói trầm ấm, nhẹ nhàng.

Thầy Cường là một giáo viên rất nhiệt huyết. Trong công việc, thầy luôn chỉn chu, nghiêm túc. Mỗi bài giảng đều được thầy chuẩn bị rất cẩn thận. Những giờ học của thầy cung cấp cho chúng em rất nhiều kiến thức. Sau mỗi giờ học tập căng thẳng, thầy lại trò chuyện với chúng em. Những câu chuyện khiến cả lớp thêm vui vẻ, thoải mái hơn. Thầy cũng rất quan tâm đến học sinh. Thầy luôn động viên chúng em cố gắng học tập. Các phong trào của lớp, thầy đều hướng dẫn, theo sát. Chúng em đều cảm thấy yêu mến, kính trọng thầy.

Thầy cô giáo là những người đáng kính. Từ tận đáy lòng, em muốn dành cho họ lời tri ân. Em sẽ luôn nhớ đến thầy Cường, người giáo viên nhiệt huyết.

Bài văn mẫu số 6

(Chuyện cổ tích về loài người, Xuân Quỳnh)

Tuổi thơ của mỗi đứa trẻ đều sẽ gắn bó với bà. Chúng ta lớn lên nhờ những câu chuyện kể hay lời răn dạy của bà. Và đối với tôi, bà nội chính là một điểm tựa tinh thần vững chắc.

Bà của tôi đã gần bảy mươi tuổi. Nhưng sức khỏe của bà vẫn còn rất tốt. Trước đây, bà là một giáo viên tiểu học. Bà có dáng người khá đầy đặn. Khuôn mặt trông rất phúc hậu. Làn da đã có nhiều nếp nhăn. Mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc. Đôi bàn tay có nhiều vết chai sần. Đôi mắt không còn tinh tường như trước, nhưng luôn sáng ngời tình yêu thương. Bà rất nhân hậu và hiền từ. Đối với con cháu, bà luôn quan tâm, lo lắng. Mọi người trong gia đình đều yêu mến và kính trọng bà.

Còn với riêng tôi, bà chính là cả khoảng trời kí ức. Tuổi thơ tôi sống cùng bà, gắn bó với bà hơn ai hết. Từ khi còn nhỏ, bố mẹ vẫn luôn bận rộn công việc. Bà là người đã chăm sóc tôi từ cái ăn đến giấc ngủ. Lời ru ngọt ngào của bà đã đưa tôi vào giấc ngủ say. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ âm thanh ấm áp đó. Khi lớn hơn, tôi thích được nằm nghe bà kể chuyện. Những truyện cổ tích về chàng Thạch Sanh, chị em Tấm Cám hay cậu bé thông minh được bà kể lại thật hấp dẫn. Không chỉ vậy, bà còn dạy cho tôi những điều hay lẽ. Bà cũng dạy tôi phải biết yêu thương, chia sẻ với mọi người xung quanh. Nhờ có bà, tôi đã trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, sống đẹp hơn mỗi ngày.

Bà luôn là tấm gương sáng cho các thành viên trong gia đình noi theo. Khi con cháu mắc sai lầm, bà sẽ răn dạy, đưa ra những lời khuyên đúng đắn. Mỗi lúc buồn phiền chuyện gì đó bà cũng là nơi để chúng tôi chia sẻ. Lời động viên của bà giúp mọi người cảm thấy tự tin hơn, mạnh mẽ hơn. Tôi càng thêm trân trọng bà nội nhiều hơn. Vì vậy, tôi mong sao bà luôn sống khỏe mạnh, vui vẻ bên con cháu.

Người bà cũng giống như người mẹ, đem đến cho chúng ta tình cảm yêu thương ngọt ngào, ấm áp. Vì vậy, mỗi người hãy biết trân trọng và yêu thương người bà của mình nhiều hơn.

Bài văn mẫu số 7

Maksim Gorky từng viết:

Quả vậy, người mẹ có vai trò thật quan trọng đối với mỗi người. Bởi vậy, chúng ta cần dành cho mẹ sự kính trọng và yêu thương.

Với em, mẹ là người quan trọng nhất trong cuộc đời. Năm nay, mẹ đã bốn mươi tuổi nhưng trông mẹ vẫn rất trẻ trung. Khuôn mặt của mẹ rất phúc hậu, cùng một nụ cười dịu dàng. Làn da vẫn còn trắng hồng. Đôi bàn tay mẹ thon dài, có vết chai dày ở đầu ngón tay, do nhiều năm cầm bút, cầm phấn. Giọng nói của mẹ vô cùng trong trẻo, mềm mại. Mái tóc của mẹ dài, đen nhánh và mềm mượt.

Mẹ em là một y tá. Công việc của mẹ rất bận rộn. Nhưng mẹ vẫn luôn dành thời gian cho gia đình. Buổi tối, mẹ thường về sớm để nấu cơm cho cả nhà. Với mẹ, bữa tối rất quan trọng, bởi đó là khi các thành viên đều có mặt đông đủ. Mẹ cũng rất chăm lo cho em từ cách ăn mặc, đến chuyện học tập. Khi còn nhỏ, mẹ dạy em cách sống tự lập. Đến khi lớn lên, mẹ dạy em cách ăn nói, ứng xử. Mẹ cũng là “một người bạn lớn” mà em có thể tâm sự, sẻ chia.

Càng trưởng thành, em càng thấy hạnh phúc, biết ơn. Bởi từ khi thơ bé vẫn còn nằm trong bụng mẹ và được mẹ bao bọc che chở. Đến khi sinh ra, mẹ là người chăm sóc, nuôi lớn em. Nhờ có bầu sữa ngọt ngào của mẹ mà em đã lớn lên từng ngày. Những bước đi nhỏ bé đầu tiên đến những bước đi lớn lao vĩ đại, người mẹ vẫn luôn dõi theo từng bước. Bởi vậy, em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt, luôn ngoan ngoãn để mẹ luôn vui lòng.

Người mẹ – một điểm tựa tinh thân vô cùng vững chắc cho mỗi người trong cuộc hành trình đầy gian khó tìm đến với thành công. Từ tận đáy lòng, em muốn gửi tất cả những lời yêu thương nhất dành cho người mẹ của mình.

Bài văn mẫu số 8

“Sống trong đời sống cần có một tấm lòng…” – Những lời trong bài hát “Để gió cuốn đi của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã gợi nhắc trong một người bài học về tình yêu thương trong cuộc sống.

Tôi đã biết được đến rất nhiều tấm gương về lòng nhân hậu. Nhưng trong đó, tôi ấn tượng nhất về anh Trần Phước Hòa. Anh là chủ của quán cơm chay Thiên Phước 5.000 đồng trên đường Nguyễn Chí Thanh, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng hai mươi năm trước, anh cũng giống như những người dân lao động nghèo, phải bôn ba đến nơi khác để kiếm sống. Và anh đã dừng quyết định dừng chân tại mảnh đất Sài Gòn tấp nập, nhộn nhịp để kiếm sống. Anh Hòa từng làm rất nhiều nghề lao động chân tay, cuộc sống khó khăn để gây dựng cơ nghiệp. Sau nhiều năm nỗ lực không ngừng, hiện nay, anh đang là chủ của một cơ sở kinh doanh chuối chiên có tiếng trong thành phố với mức thu nhập khá dư dả. Với tấm lòng tốt của mình, anh đã quyết định mở tiệm cơm chay Thiên Phước để giúp đỡ mọi người xung quanh.

Quán cơm chay từ thiện đầu tiên được mở vào năm 2013. Đến này, quán vẫn hoạt động. Theo như lời anh nói thì ở thành phố Sài Gòn này, ai cũng sẽ có cơ hội, chỉ cần cho người ta một hy vọng. Vậy nên, quán cơm của anh mới đề dòng chữ: “San sẻ bữa trưa hàng ngày với người có thu nhập chưa cao”. Anh cũng kể rằng ban đầu anh dự tính quán sẽ không thu tiền của khách. Nhưng sau đó, anh nghĩ rằng quán vẫn cần một số tiền nhỏ để duy trì. Không chỉ vậy những người lao động cũng sẽ có cảm giác phụ thuộc nếu nhận cơm miễn phí trong một thời gian dài. Anh Hòa còn hiểu rõ nếu không lấy tiền thì khách hàng sẽ không thoải mái. Bởi dù không có thu nhập không cao, nhưng họ đều là những con người có lòng tự trọng, mong muốn được đối xử công bằng như mọi người, chứ không ai muốn “ăn nhờ” mãi.

Nhiều người lao động trở thành khách quen của quán, thường xuyên quyên góp thực phẩm cho quán. Có khi thì bao gạo, có khi thì chai dầu ăn hay nước mắm. Dù nhỏ bé nhưng đã thể hiện được tấm lòng của mọi người. Tất cả đã thể hiện tấm lòng tương thân tương ái của con người.

Tấm gương của anh Trần Phước Hòa đã khiến tôi cảm thấy vô cùng ấn tượng và khâm phục. Không chỉ vậy, tôi cũng có thêm niềm tin vào cuộc sống vẫn còn những điều tốt đẹp hơn.

Bài văn biểu cảm về sự việc Bài văn mẫu số 1

Trong quãng đời học sinh, kỉ niệm về ngày khai trường có vai trò rất quan trọng. Bởi vậy mà, chúng ta luôn trân trọng và ghi nhớ. Những kỉ niệm ấy đã trở thành hành trang để mỗi người hướng đến tương lai.

Buổi sáng hôm đó, em thức dậy từ rất sớm. Đúng bảy giờ, em đạp xe đến trường. Ngôi trường hôm nay trông thật rực rỡ. Những hàng ghế được xếp ngay ngắn. Ở phía trên khu vực sân khấu treo một tấm băng rôn màu xanh. Dòng chữ màu trắng nằm ở chính giữa vô cùng nổi bật “LỄ KHAI GIẢNG NĂM HỌC 20… – 20… ”. Phía bên dưới là tên trường của em “THCS….”. Hai bên sân khấu cũng được treo những lá cờ đỏ thắm. Lòng em cảm thấy vô cùng háo hức, hân hoan.

Các thầy cô giáo đều ăn mặc rất trang trọng. Các thầy mặc quần âu, áo sơ mi. Các cô giáo thì mặc áo dài. Còn học sinh đều mặc bộ đồng phục mới nhất của mình. Buổi lễ khai giảng bắt đầu vào lúc bảy giờ ba mươi phút. Mở đầu là phần lễ diễu hành chào mừng học sinh khối lớp sáu. Em bước đi mà lòng cảm thấy vô cùng hãnh diện. Kết thúc phần diễu hành, chúng em tiến hành lễ chào cờ thật nghiêm trang. Buổi lễ khai giảng kết thúc với phần phát biểu của thầy hiệu trưởng. Đến bây giờ, em vẫn còn nhớ mãi những lời thầy nói. Lời dặn dò của thầy dành đã tiếp thêm động lực cho em trong những năm tháng học tập sau này.

Có thể nói rằng, ngày khai trường đầu tiên dưới mái trường Trung học cơ sở thật đẹp. Em sẽ luôn trân trọng và khắc ghi những kỉ niệm đó như một món quà quý giá.

Bài văn mẫu số 2

Những sự việc xảy ra trong cuộc đời đều đem đến một bài học cho mỗi người. Và em cũng đã trải qua một sự việc khiến em nhớ mãi.

Đầu năm học lớp bảy, gia đình của em chuyển vào Nam sống. Em phải học ở một ngôi trường mới. Do tính cách khá nhút nhát, em chưa làm quen được với nhiều bạn trong lớp. Em còn nhớ đó ngày hôm đó, lớp em có giờ kiểm tra môn Ngữ Văn. Khi em đang ngồi ôn tập lại bài thì nghe thấy có bạn gọi tên mình:

– Thúy Hạnh ơi, cậu có bút bi màu đen không? Cho tớ mượn một chiếc với. Lát nữa có giờ kiểm tra mà bút của tớ hết mực mất rồi. Chẳng có bạn nào đem theo bút bi đen cả.

Em quay lại thì nhận ra đó là Hà Phương – người bạn ngồi phía sau em. Cả chỉ chào hỏi nhau khi em mới chuyển vào lớp. Dù vậy, em vẫn vui vẻ mở hộp bút của mình ra, rồi đưa bạn chiếc bút còn lại của mình.

– Mình có! Cho bạn mượn này!

Bạn mỉm cười rồi nhìn hỏi em:

Em nói với bạn:

– Không có gì đâu!

Sau giờ kiểm tra hôm đó, vào giờ ra chơi, Hà Phương trả bút cho em. Bạn còn chủ động bắt chuyện với em. Cả hai đã trò chuyện rất vui vẻ. Em nhận ra mình và Phương có rất nhiều điểm chung. Kể từ hôm đó, chúng em đã trở thành những người bạn tốt của nhau.

Sự việc xảy ra lần đó đã giúp em làm quen thêm được một người bạn mới. Em rất trân trọng tình bạn với Hà Anh. Em cũng mong rằng cả hai sẽ luôn là những người bạn tốt của nhau.

Bài văn mẫu số 3

Một trong những dịp lễ quan trọng của người dân Việt Nam chính là Tết Nguyên Đán. Và mỗi dịp Tết đến xuân về, lòng em lại cảm thấy vô cùng hân hoan và háo hức.

Những ngày gần Tết, khắp nơi đều được trang trí cờ hoa rực rỡ. Mọi con đường được quét dọn sạch sẽ, các phương tiện giao thông đi lại tấp nập. Không khí vui tươi, rộn ràng tràn ngập trên từng thôn xóm, khu phố. Đặc biệt là những khu chợ lúc nào cũng đông đúc người mua, người bán. Các mặt hàng Tết được bày bán rất nhiều như bánh kẹo, mứt Tết, hoa quả…

Trước Tết, nhà nào cũng dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ để đón chào một năm mới sắp đến. Gia đình của em cũng vậy. Mỗi người một công việc khác nhau. Tuy bận rộn, nhưng lại rất vui vẻ. Em cũng phụ giúp bố mẹ quét sân, lau nhà hay tưới cây trong vườn… Sau đó, mọi người cùng nhau đi chợ hoa. Bố của em mua được một chậu đào và một chậu quất rất đẹp. Còn mẹ em mua rất nhiều loại hoa về để chơi mấy ngày tết. Thích nhất là em đã được ngồi xem ông bà, bố mẹ gói bánh chưng. Em còn tự tay gói một chiếc bánh theo sự hướng dẫn của ông nội. Những chiếc bánh chưng vuông tượng trưng cho trời, là một món ăn không thể thiếu trong dịp Tết cổ truyền từ xưa cho đến nay.

Chiều ba mươi Tết, các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên mâm cơm Tất niên, vừa ăn uống, vừa trò chuyện với nhau về những điều đã xảy ra trong một năm vừa qua. Đến tối, mọi người lại ngồi trước màn hình vô tuyến để xem chương trình “Táo Quân”. Đúng mười hai giờ, em cùng với chị gái lên tầng thượng để xem pháo hoa. Còn ông nội sẽ thắp hương cúng Giao thừa.

Sáng mùng một một Tết, em cùng với chị gái cũng thức dậy, mặc quần áo thật đẹp và xuống nhà để chúc Tết ông bà, bố mẹ. Hai chị em đã được nhận những phong bao lì xì đỏ thắm cùng với lời chúc thật ý nghĩa. Sau đó, cả gia đình sẽ cùng nhau đi chúc Tết họ hàng.

Những ngày tết, em đã có thật nhiều kỉ niệm đẹp đẽ bên gia đình. Em cảm thấy trân trọng dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Bài văn mẫu số 4

“Thời gian trôi qua mau chỉ còn lại những kỷ niệm. Kỷ niệm thân yêu ơi, sẽ còn nhớ mãi tiếng thầy cô. Bạn bè mến thương ơi, sẽ còn nhớ những lúc giận hờn. Để rồi mai chia xa lòng chợt dâng niềm thiết tha. Nhớ bạn bè, nhớ mái trường xưa…”. Những câu hát trong bài “Mong ước kỷ niệm xưa” đã gợi nhắc cho tôi nhớ về ngày khai trường dưới mái trường Trung học cơ sở.

Sự việc xảy ra vào một buổi sáng mùa thu tuyệt đẹp. Thời tiết mát mẻ, dễ chịu vô cùng. Tôi thức dậy thật sớm, chuẩn bị sách vở đầy đủ và mặc bộ đồng phục mới tinh. Đúng bảy giờ, tôi đạp xe đến trường. Trên đường đi, tôi cảm thấy thật háo hức, cũng đầy lo âu. Ngày hôm nay, tôi đã chính thức trở thành một học sinh Trung học cơ sở. Thật đáng tự hào biết bao!

Con đường đến trường vốn đã quen thuộc. Trường Tiểu học của tôi cũng nằm gần đây. Trước đây, tôi thường được mẹ đèo đi học trên con đường này. Nhưng hôm nay, tôi đã lớn hơn và tự mình đạp xe đến trường. Chỉ khoảng mười lăm phút, tôi đã đến trường. Trước cổng trường thật đông đúc người, đó là những học sinh và cả phụ huynh đưa con đến trường. Khuôn mặt ai cũng rạng rỡ, hân hoan. Hôm nay, ngôi trường thật đẹp. Sân trường đã được quét dọn sạch sẽ. Những hàng ghế được xếp ngay ngắn. Trên sân khấu có treo một tấm băng rôn màu xanh. Ở đó có gắn dòng chữ màu trắng: “LỄ KHAI GIẢNG” ở chính giữa. Phía bên dưới là tên trường “THCS….”. Hai bên sân khấu cũng được treo những lá cờ đỏ thắm. Chiếc trống nằm im một góc. Ngay cả nó cũng đã được trang trí bằng một chiếc nơ màu đỏ rất đẹp.

Buổi lễ khai giảng bắt đầu vào đúng bảy giờ ba mươi phút. Một hồi trống giòn giã vang lên yêu cầu học sinh ổn định chỗ ngồi. Những tiết mục văn nghệ do các anh chị học sinh trình bày đã mở đầu cho buổi lễ khai giảng. Tiếp đến là phần tổng kết về năm học cũ, cũng như mục tiêu của năm học mới của cô Hoa – tổng phụ trách. Sau phần phát biểu của cô, tôi sẽ đại diện cho học sinh khối lớp sáu phát biểu cảm nghĩ. Tôi cảm thấy khá hồi hộp Đây là lần đầu tiên tôi đứng phát biểu trước đông người như vậy. Nhưng nhờ có sự động viên của cô giáo tổng phụ trách, tôi đã có thêm sự tự tin. Phần trình bày của tôi đã rất trôi chảy, còn nhận được tràng pháo tay của mọi người nữa. Lần đầu tiên, tôi có cơ hội đứng trước toàn trường, thay mặt cho học sinh khối sáu, trình bày cảm nhận của mình. Đây chính là một niềm vinh dự của tôi.

Bài văn mẫu số 5

Tết Nguyên Đán là một dịp vô cùng quan trọng đối với mỗi người dân Việt Nam. Bởi vậy mà tôi vô cùng háo hức mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Vậy là một mùa xuân nữa lại về. Dịp Tết cổ truyền cũng đã đến. Trong lòng mỗi người đều cảm thấy hân hoan. Còn quê hương của tôi giống như được khoác lên mình một chiếc áo mới vậy. Các con đường đều được quét dọn sạch sẽ. Làng xóm rực rỡ trong sắc đỏ của cờ hoa. Hai bên đường, nhà cửa đều được trang hoàng hơn. Các phương tiện giao thông đi lại tấp nập. Ở các khu chợ, người mua bán rất đông đúc, sôi nổi.

Gia đình của tôi đã chuẩn bị đón Tết từ sớm. Hai mươi bảy Tết, công việc dọn dẹp nhà cửa chính thức bắt đầu. Tuy bận rộn, nhưng mọi người đều cảm thấy vui vẻ. Hôm sau, tôi được đi chợ hoa cùng bố mẹ. Bố đã chọn được một chậu hoa đào, và một chậu quất rất to.

Đặc biệt nhất là vào chiều ba mươi Tết, các thành viên trong gia đình cùng nhau quây quần bên mâm cơm Tất niên. Trước khi nhập tiệc, ông nội còn thay mặt các thành viên trong gia đình nói lời tổng kết cho một năm đã qua. Sau đó, mọi người cùng nâng ly nói: “Chúc mừng năm mới”. Đến mười hai giờ đêm, tôi và chị gái sẽ thức để xem pháo hoa. Sáng mùng một Tết, mọi người sẽ mặc những bộ quần áo đẹp nhất để đi chúc Tết. Khuôn mặt ai cũng vui vẻ, rạng rỡ. Không khí vui tươi đang tràn ngập khắp mọi người.

Advertisement

Ngày Tết cổ truyền đã đem đến cho con người nhiều điều thú vị. Các gia đình lại có cơ hội được quây quần bên nhau, ôn lại một năm cũ đã qua và chờ đón những điều tốt đẹp sắp đến. Thật tuyệt vời biết bao nhiêu!

Bài văn mẫu số 6

Có những sự việc xảy ra khiến chúng ta cảm thấy nhớ mãi. Và bản thân tôi cũng đã từng trải qua những sự việc như vậy.

Hồi ấy, dù là con gái nhưng tôi lại rất nghịch ngợm. Năm lớp năm, tôi thường tham gia cùng các bạn con trai vào những trò nghịch phá. Một lần, chúng tôi rủ nhau trốn tiết học thể dục để ra ngoài cổng trường mua quà vặt. Nhưng không may, cả nhóm đã bị cô giáo bắt gặp. Cô đã yêu cầu chúng tôi nhanh chóng trở lại lớp. Cuối buổi hôm ấy có giờ sinh hoạt, cô giáo đã nghiêm túc phê bình chúng tôi trước cả lớp. Và cô cũng nói rằng sẽ đến gặp và trao đổi với phụ huynh. Khi đó, vì còn nhỏ nên tôi chỉ cảm thấy sợ hãi. Nhưng trong lòng không hề cảm thấy có lỗi.

Ngày hôm sau khi cô giáo đến nhà nói chuyện với mẹ xong và ra về. Mẹ đã gọi tôi đến bên và nhắc nhở. Chính vào lúc đó, tôi đã có những thái độ và lời nói không lễ phép với mẹ. Đến khi nhận được lá thư của bố viết cho tôi. Bố đã nghiêm khắc phê bình thái độ đó của tôi. Và kể lại những kỉ niệm khi tôi còn thơ ấu, mẹ đã phải thức suốt đêm để chăm sóc cho tôi ở bệnh viện khi tôi bị ốm. Bức thư của bố khiến tôi vô cùng xúc động và cảm thấy có lỗi. Chiều hôm ấy, khi mẹ đi làm về, tôi ngập ngừng chạy đến ôm lấy mẹ, xin lỗi mẹ. Nước mắt tôi cứ thế rơi lúc nào chẳng hay. Mẹ cũng khóc và an ủi tôi. Bố vừa đi làm về thấy hai mẹ con ôm nhau khóc thì cũng chạy đến ôm lấy chúng tôi.

Kể từ đó, tôi dường như trưởng thành hơn. Tôi đã biết giúp đỡ bố mẹ những công việc vặt trong gia đình. Cũng trở nên ngoan ngoãn hơn, chịu khó học tập hơn. Tôi cũng hiểu được rằng, cho dù có thế nào. Bố mẹ cũng luôn bao dung và yêu thương tôi vô điều kiện.

Một sự việc để lại cho tôi bài học vô cùng quý báu và giá trị. Tôi sẽ cố gắng để hoàn thiện bản thân hơn, khiến cho bố mẹ cảm thấy tự hào.

Bài văn mẫu số 7

Mỗi khi Tết đến là thời điểm gia đình cùng nhau quây quần bên nhau. Và gia đình em cũng vậy, em cảm thấy vô cùng háo hức và sung sướng.

Những ngày giáp Tết, đường phố những ngày tết lúc nào cũng đông đúc, tấp nập. Những khu chợ rộn nhịp tiếng nói của người mua người bán. Chợ hoa Tết rực rỡ sắc màu của trăm loài hoa khoe sắc. Những cây đào, cây mai, cây quất đã trở thành biểu tượng của dịp Tết cổ truyền dân tộc.

Cả gia đình cùng nhau chuẩn bị để đón Tết. Người lớn chuẩn bị mua sắm đồ Tết. Trẻ con háo hức mong từng ngày được nghỉ học. Khắp các khu chợ bỗng tấp nập hẳn lên. Tiếng người mua bán thật nhộn nhịp. Chợ Tết rất nhiều các mặt hàng từ đồ ăn, thức uống đến quần áo, giày dép… Ngày Tết chuộng nhất là màu đỏ, bởi vậy cả khu chợ như được sắc đỏ thắm bao bọc, tượng trưng cho may mắn. Vào ba mươi Tết, cả nhà em lại sum vầy bên mâm cơm giao thừa. Cả gia đình vừa ăn uống, vừa trò chuyện với nhau về những điều đã xảy ra trong một năm vừa qua. Đêm giao thừa cả nhà ngồi xem chương trình “Táo Quân”. Đến đúng mười hai giờ, em cùng với chị gái lên tầng để xem pháo hoa. Màn pháo hoa rực rỡ khiến cho người xem cảm thấy xao xuyến. Khoảnh khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới đem đến cho con người những cảm xúc thật đẹp đẽ.

Đến sáng mùng một một Tết, cả nhà em cùng nhau đi chúc Tết họ hàng. Mọi người đều mặc những bộ quần áo đẹp nhất. Những lời chúc mừng năm mới mong cho một năm may mắn, an khang và thịnh phượng. Em cũng giống như những đứa trẻ khác đều rất thích nhận được những bao lì xì đỏ thắm.

Em rất yêu ngày Tết quê em. Bởi Tết đã đem đến cho con người thật nhiều khoảng thời gian ý nghĩa bên gia đình thân yêu của mình. Mỗi người con trên đất nước Việt Nam này hãy biết trân trọng ngày tết cổ truyền của dân tộc.

Bài văn mẫu số 8

Vào dịp Tết đến xuân về, tôi cảm thấy vô cùng hân hoan và háo hức. Khắp mọi nơi đều mang không khí rộn ràng, hân hoan.

Quê hương của tôi như được khoác lên một chiếc áo mới. Các khu phố trang trí nhiều cờ hoa rực rỡ. Những con đường được quét dọn sạch sẽ, lúc nào cũng tấp nập các phương tiện giao thông. Khu chợ Tết là nhộn nhịp nhất vào trước Tết. Rất nhiều mặt hàng Tết được bày bán từ rau củ, thịt cá đến bánh kẹo, đồ uống… Mọi người đều mong muốn sắm sửa được đầy đủ. Ở các khu chợ hoa, hàng trăm loài hoa đang khoe sắc thắm như lan, cúc, thược dược… Nhiều hơn cả vẫn là hoa đào, hoa hay hay cây quất – loài hoa, loài cây mang đặc trưng của dịp Tết.

Gần Tết, cả gia đình cùng nhau dọn dẹp nhà cửa. Công việc dù bận rộn nhưng em cảm thấy rất vui vẻ. Tôi thích nhất là được ngồi xem ông bà, bố mẹ gói bánh chưng. Chiều ba mươi Tết, mọi người quây quần bên mâm cơm Tất niên ấm cúng. Bữa cơm đoàn viên thật ý nghĩa với mọi người.

Buổi tối, như một thói quen, tôi lại ngồi xem chương trình Táo Quân. Sau đó là chờ đến mười hai giờ để đón chờ khoảnh khắc giao thừa, và xem pháo hoa. Khoảnh khắc giao thừa thiêng liêng biết bao nhiêu! Sáng mùng một Tết, tôi thức dậy thật sớm để mặc quần áo mới. Sau đó, tôi xuống chúc Tết ông bà, bố mẹ và nhận được những phong bao lì xì đỏ thắm. Đến chiều, tôi cùng bố mẹ đi chúc Tết họ hàng. Trên đường, tôi nhìn thấy mọi người đều mặc những bộ quần áo đẹp nhất, rực rỡ nhất cho ngày đầu tiên của năm mới. Không khí dịp Tết thật tuyệt vời.

Tết cổ truyền là một dịp vô cùng quan trọng của dân tộc Việt Nam. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc và yêu thích Tết. Tôi sẽ góp phần nhỏ bé để giữ gìn những giá trị tốt đẹp của dịp Tết cổ truyền.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 10: Thuyết Minh Một Tác Giả Văn Học (Dàn Ý + 23 Mẫu) Viết Về Nhà Văn Mà Em Yêu Thích trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!