Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Nhân Vật Cụ Mết Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 12 # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Nhân Vật Cụ Mết Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 12 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dàn ý chi tiết phân tích nhân vật cụ Mết

I. Mở bài

– Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên, với nhiều tác phẩm đặc sắc.

– Rừng xà nu là khúc sử thi văn xuôi hiện đại tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, con người và truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

– Một trong những nhân vật mang đậm chất sử thi là cụ Mết.

II. Thân bài

– Ngoại hình:

+ Quắc thước: “râu dài đến ngực mà vẫn đen bóng”, “vết sẹo ở má phải láng bóng”, cụ là người đã trải qua nhiều thăng trầm

+ “bàn tay nặng trịch như kìm sắt”, “ngực căng như một cây xà nu lớn”, …mang dáng dấp của anh hùng trong sử thi Tây Nguyên.

– Cụ là người quắc thước và nghiêm nghị:

+ Giọng nói “ồ ồ dội vang trong lồng ngực ”: vừa thể hiện sức mạnh thể chất vừa thể hiện sức mạnh quyền uy của người chỉ huy.

+ Mỗi câu nói như một chân lí “không có gì mạnh bằng cây xà nu trên đất ta”, “cán bộ là Đảng, Đản còn, núi nước này còn”, “chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo”.

– Cụ Mết có tình yêu quê hương sâu sắc

+ Dẫn Tnú ra máng nước đầu làng gội rửa, để nhắc nhở những ai đi xa nhớ về ngườn cội, quê hương.

+ Tự hào về tất cả mọi thứ trên quê hương: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”.

+ Vì muốn bảo vệ quê hương nên luôn tìm hướng đi đúng đắn cho buôn làng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”.

– Là người giàu tình yêu tình yêu thương:

+ Hết lòng thương yêu và tin tưởng Tnú – chàng trai trẻ có số phận bi tráng: nồng hậu đón Tnú trở về, xót thương khi nhìn những ngón tay còn hai đốt của Tnú, luôn động viên anh: “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”

+ Xúc động khi kể lại cho dân làng nghe câu chuyện của Tnú, cụ “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt”

+ Nhận được muối, dù ít ỏi cụ vẫn chia đều cho mọi người trong buôn làng.

– Cụ Mết là người biết nhìn xa trông rộng: dự trữ lương thực đủ ăn để đánh giặc, biết rõ được sức mạnh chưa đủ khi chưa có vũ khí nên không liều mạng xông ra cứu Tnú,…

– Cụ chính là người chỉ đường dẫn lối. Là chỗ dựa tinh thần cho dân làng.

– Nhận xét: Cụ Mết là biểu tượng thế hệ anh hùng đi trước, hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, hội tụ vẻ đẹp con người Tây Nguyên, mang dáng vẻ của người anh hùng với sức mạnh phi thường trong sử thi.

III. Kết bài

– Nêu cảm nhận của bản thân về hình ảnh cụ Mết.

– Khái quát nghệ thuật: với kết cấu truyện lồng trong truyện, đầu cuối tương ứng đặc sắc, ngôn ngữ đậm chất sử thi, nhưng cũng mộc mạc giản dị, xây dựng hình tượng, …

– Thông qua câu chuyện của dân làng Xô Man, tác giả đã đặt ra vấn đề có ý nghĩ lớn lao với dân tộc: Để cho sự sống của đất nước và nhân mãi trường tồn thì không có cách nào hơn là đoàn kết đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù.

Cảm nhận về nhân vật cụ Mết – Mẫu 1

Nguyễn Trung Thành là nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại. Tác phẩm của ông gắn liền với con người và vùng đất Tây Nguyên. “Rừng Xà nu” là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông viết về con người và vùng đất Tây Nguyên được sáng tác vào năm 1965 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Qua truyện ngắn ta thấy được sự anh hùng quả cảm của người dân Tây Nguyên. Cụ Mết là trưởng bản của dân làng Xôman. Tuy không xuất hiện ở đầu tác phẩm nhưng mỗi lần xuất hiện đều toát lên vẻ oai hùng, sự quả cảm của người cầm đầu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Ngay từ khi xuất hiện ấn tượng mạnh mẽ của người già làng đó là hình ảnh bàn tay trắc nịch nắm chặt lấy tay Tnú Như một cái kìm. Ông cụ với khuôn mặt quắc thước râu dài tới ngực. Những vết sẹo trên người láng bóng, ngực căng lên như những cây xà nu đang đứng hiên ngang trước gió bão. Từ những chi tiết đó ta phần nào hình dung ra một người cường tráng, khỏe mạnh, oai hùng. Một con người từng trải, kiên cường và không sợ bất cứ thứ gì.

Nhân vật cụ Mết hiện lên với nét tính cách cá biệt. Giọng nói của ông được tác giả miêu tả ồ ồ vang cả núi rừng Tây Nguyên. Giọng nói như sấm truyền, ngôn ngữ giản dị, dứt khoát thể hiện được sự quyết đoán của người đứng đầu. Tiếng nói ấy vang lên khi hô hào người dân Xô man đứng lên nổi dậy đấu tranh, tha thiết nghiêm trang khi nhắc nhở con cháu người dân làng Xô man:” Nghe rõ chưa? Nhớ lấy! Ghi lấy” Mỗi lần giao việc cho ai, cụ không bao giờ khen mà chỉ nói “Được” để động viên khích lệ, không ngừng cố gắng. Nhưng mỗi lần cụ nói đều chắc nịch thể hiện mệnh lệnh.

Không chỉ là người tù trưởng tài ba, kiên cường, cụ Mết còn là người con yêu thương quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương. Khi Tnú trở về, cụ dẫn ra đầu làng để dội rửa nhắc nhở luôn phải nhớ về quê hương. Cụ luôn tâm niệm nhắc nhở con cháu: “Đảng còn, núi nước này còn” một lòng kiên trung với cách mạng với Đảng và nhà nước. Tình yêu đó cũng chính xuất phát từ tình yêu quê hương.

Vẻ ngoài quắc thước nghiêm nghị nhưng sâu trong con người đó lại là tình yêu thương con người, yêu thương đồng bào. Tnú trở về sau 3 năm xa quê hương, cụ đã chào đón nồng nhiệt, tạo cho Tnu cảm giác như trở về với gia đình. Kể cho dân làng nghe về câu chuyện gia đình Tnú mà cụ không kìm nổi tiếc thương xúc động. chính hành động, cử chỉ nhỏ ấy đã cho thấy được tấm lòng bao la nhân hậu của cụ Mết.

Trong vai trò của một người già làng thời đánh Mỹ, cụ Mết hiện lên là một cây xà nu lớn vững chãi là chỗ dựa tinh thần cho dân làng, đồng bào Xô man. Cụ luôn trung thành với Đảng, một lòng kiên trung theo cách mạng. Không những thế, cụ Mết còn là người có tầm nhìn xa trông rộng, biết chăm lo cho cuộc chiến đấu chung của dân làng. Luôn giữ được sự tỉnh táo, sáng suốt, đưa ra những đường lối đấu tranh đúng đắn cho dân làng. Với trí tuệ sắc sảo của một người đứng đầu cụ Mết không chỉ gợi nhớ lại sự kiện đau thương, chiến thắng oanh liệt một thời mà còn khẳng định một chân lí đúng đắn: “Chúng nó đã cầm súng thì chúng ta phải cầm giáo”.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu”, cụ Mết hiện lên là một già làng, tộc trưởng vô cùng oai hùng. Cụ Mết chính là linh hồn của người dân Xô man đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh thắng lợi, đi theo con đường cách mạng đúng đắn. Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện không nhiều nhưng đã lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc, một vị anh hùng truyền lửa tựa như cây xà nu hiên ngang trước giông bão cuộc đời.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 2

Ta có thể nhận thấy rằng ngay khi vừa xuất hiện, ấn tượng về một vị già làng mạnh mẽ đã thể hiện trong chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”. Tác giả Nguyễn Trung Thành như đã vẽ những nét vẽ ngoại hình về một cụ già “quắc thước … mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng … ngực căng như một cây xà nu lớn” . Và những câu văn như đã khắc họa hình ảnh của một già làng sắc sảo, kiến nghị, vững chãi qua đó nói lên được vẻ tiềm tàng sức mạnh thể chất, tràn trề uy lực tinh thần, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ với cộng đồng.

Và dường như ở hầu như nét miêu tả nào ở cụ Mết cũng có tính cá biệt. Qua chính những cách nói như ra lệnh, ngôn ngữ giản dị mà dứt khoát thể hiện sự quyết đoán của những người đứng đầu. Hay cả những việc cụ không bao giờ khen, khi vừa ý nhất cũng chỉ nói “được” là tính cách của những người luôn yêu cầu cao ở người khác cũng như ở chính mình. Có thể thấy đặc biệt ấn tượng ở cụ Mết mà người đọc có thể nhận thấy đó chính là giọng nói, đó là “tiếng nói ồ ồ đội vàng trong lồng ngực”, tiếng nói ấy hoặc “vang” khi hô hào dân làng Xô Man nổi dậy đánh giặc hoặc “trầm và nặng” như tiếng vọng của núi rừng. Và đó chính như lời phán truyền của quá khứ khi kể chuyện về cuộc đời Tnú, về lịch sử oanh liệt của làng, tiếng nói ấy tha thiết trang nghiêm khi nhắc nhở dân làng và con cháu: “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy!…”

Hình ảnh cụ Mết được hiện lên là người có tình yêu sâu sắc, sự gắn bó máu thịt với quê hương

Khi mag nhân vật Tnú đi xa về, cụ đã dẫn anh ra máng nước đầu làng dội rửa, bằng việc ấy, cụ như muốn nhắc nhở người con xa quê. Và cho dù có đi tới phương trời nào cũng phải ghi nhớ và trân trọng nguồn cội thiêng liêng của quê hương. Nói chuyện với Tnú thì dường như ở cụ luôn tự hào khẳng định bằng cách nói tuyệt đối, cũng có thể có phần hơi cực đoan, thái quá, cách nói quen thuộc của lòng yêu: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta” và câu “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Dường như đối với cụ Mết, quê hương hiện lên thật đẹp đẽ và lớn lao, thiêng liêng và thân thuộc. Đó chính là hình ảnh dòng nước trong nguồn, hạt gạo trên nương cho tới những cánh rừng xà nu bạt ngàn, mạnh mẽ và cường tráng biết bao nhiêu

Và ta như thấy ở cụ Mết luôn luôn tâm niệm và dặn dò con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Như vậy, người đọc cũng có thể thấy tấm lòng trung thành với Đảng và cách mạng của cụ Mết cũng xuất phát từ tình yêu sâu sắc với rừng núi quê hương. Và như chính như bên trong con người có vẻ ngoài quắc thước, nghiêm nghị ấy lại là một trái tim trĩu nặng tình thương yêu đối với dân làng

Nhất là khi Tnú trở về thăm làng sau ba năm đi lực lượng, cụ Mết đã đón anh bằng tấm lòng yêu thương nồng hậu của một người cha, và cụ Mết đã quyết định anh ở nhà cụ trong đêm về làng, động viên khích lệ anh rằng “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”. Chính chi tiết này ta như có thể thấy được cụ Mết dường như đã đem đến cho Tnú- một người con bất hạnh của dân làng Xô Man thấy được một cảm giác ấm áp của gia đình khi trở về làng. Và khi ngồi ăn cơm với Tnú, nhìn hai bàn tay cụt đốt của anh, “ông cụ đặt chén cơm xuống giận dữ”, đó chính là một trong những biểu hiện sâu sắc nhất của nỗi đau đớn xót thương cho Tnú. Và dường như những nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo không thể nguôi ngoai. Và việc khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú,mặc dù câu chuyện đã xảy ra tới ba năm nhưng dường như ở cụ cũng không kìm nổi sự tiếc thương vô hạn và đau đớn và xúc động, cụ Mết thật “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt” như muốn che giấu lòng mình vậy. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộ trái tim nhân hậu và tình yêu sâu sắc của cụ với dân làng.

Và khi nhận được gói muối quý giá từ những người đi xa về cụ Mết đã luôn luôn chia đều cho các bếp trong làng, để dành cho những người đau ốm. Đó chính là vị mặn của những hạt muối nhỏ bé cũng là vị mặn đậm đà của tình yêu thương trong trái tim người già làng.

Có thể thấy được trong vai trò của một già làng thời đánh Mỹ, cụ Mết kiên cường, vững chãi như một cây xà nu lớn. Và hình ảnh cụ Mết chính là chỗ dựa tin cậy của dân làng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ với dân làng. Và hình ảnh cụ Mết lại luôn luôn giữ cho mình tình yêu, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng. Câu nói nổi tiếng và chất chứa tình cảm của cụ với Đảng là “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”

Có thể nhận thấy ở trong làng, cụ cũng là người đứng đầu biết nhìn xa trông rộng, biết lo cho cuộc chiến đấu chung của dân làng. Cụ cũng như đã ân cần và động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh Mỹ phải đánh dài”. Qua nhân vật cụ Mết dường như cũng đã thể hiện vai trò của một già làng tỉnh táo, sáng suốt để có thể kiềm chế nổi những đau đớn và căm hờn ngay trong giây phút khốc liệt nhất,và quan trọng hơn nữa là đã tìm ra con đường đúng đắn nhất lãnh đạo dân làng nổi dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù. Có thể thấy được trước cái chết của vợ con Tnú, trước cảnh Tnú bị bắt trói, tra tấn dã man kai thì cụ Mết đau đớn nhưng tỉnh táo, không để tình cảm chi phối. Cụ Mết dường như cũng đã nhắc đi nhắc lại: “Tao cũng chỉ có hai bàn tay không. Tao quay vào rừng… tìm bọn thanh niên… tìm giáo mác”. Có thể thấy chính lý trí sáng suốt cần thiết của một già làng, một người đứng đầu, và cụ còn là người chịu trách nhiệm với sự sống còn của cả cộng đồng đã giúp cụ Mết cùng với dân làng chiến đấu và chiến thắng quân giặc tàn bạo.

Cùng với những sự trí tuệ sắc sảo của một người đứng đầu, cụ Mết không chỉ nhắc tới sự kiện đau thương và chiến thắng oanh liệt của dân làng trong đêm ấy như một kỷ niệm. Ở cụ đã khái quát, dường như cũng đã đúc kết và khắc sâu quy luật tất yếu của cuộc chiến tranh cách mạng là“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Có lẽ chân lý ấy đã được rút ra từ chính những trang sử đầy máu và nước mắt của làng Xô Man, thông qua giọng kể “trầm và nặng” của già làng là cụ Mết. Chắc chắn nó sẽ trở thành lời phán truyền thiêng liêng của lịch sử cho các thế hệ con cháu.

Cụ Mết chính là một hình tượng nhân vật đẹp gợi nhớ hình ảnh những già làng, tộc trưởng trong sử thi, thần thoại, truyền thuyết, và dường như có cả trong những bản trường ca Tây Nguyên xưa. Sử dụng bút pháp miêu tả đặc sắc của nhà văn Nguyễn Trung Thành đã cùng sự chi phối của khuynh hướng sử thi trong nền cảm hứng chung của văn học giai đoạn 1945 – 1975 dường như ta như cũng đã khiến chó nhân vật không chỉ hiện lên với những phẩm chất ưu tú của cộng đồng mà còn là nhân vật có cá tính riêng đặc sắc. Và cũng chỉ qua việc thông qua nhân vật cụ Mết, Nguyễn Trung Thành đã ca ngợi lòng yêu nước, ca ngợi những người anh hùng và cả tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong thời đánh Mỹ. Và lớn hơn đó cũng đồng thời khái quát chân lý lịch sử lớn lao của thời đại, lý giải sâu sắc cũng như rất thuyết phục con đường giải phóng nhân dân, đất nước.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 3

Mỗi mảnh đất trong cuộc kháng chiến của dân tộc đều gắn liền với hình ảnh riêng của mỗi nhà văn. Nếu như nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với mảnh đất miền Nam ruột thịt, thì Tây Nguyên là nơi ghi dấu nhiều kỉ niệm, nhiều hình ảnh đẹp trong ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Tiêu biểu cho các sáng tác đó là tác phẩm Rừng xà nu(1965) được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, tác phẩm là sự ghi dấu về hiện thực của nhân dân đồng bào Tây Nguyên anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mĩ, cuộc chiến không chỉ là của riêng thế hệ trẻ dân làng Xô-man Tnú, Rít, Mai, bé Heng… Mà còn là sự lãnh đạo của người đứng đầu làng là Cụ Mết. Một hình tượng của cây xà nu đại thụ – một biểu tượng chung cho sức mạnh và sự bền bỉ trong chiến tranh và là biểu tượng linh hồn riêng của làng Xô-man.

Cụ Mết không xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm nhưng sự xuất hiện của cụ qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành cũng thực sự để lại những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. “Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt… Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng!.. ngực căng như một cây xà nu lớn…” Nhà văn đã tập chung miêu tả ngoại hình từ ngay những dòng văn đầu tiên nói về cụ. Qua đó cụ Mết hiện lên với một thân hình khỏe mạnh, hùng tráng; bộ râu dài tới ngực mà vẫn đen bóng cho thấy cụ mang dáng dấp đúng của một người già làng; đôi mắt sáng xếch ngược hiện lên một con người có trí tuệ tinh nhanh và uy cường. Với chút miêu tả đó nhà văn cũng đã phần nào chứng tỏ được Cụ Mết là sức mạnh của núi rừng Tây Nguyên. Nhưng không chỉ dừng lại đó nhà văn còn miêu tả về giọng nói của cụ Mết với một giọng nói “ồ ồ, dội vang trong lồng ngực” không chỉ minh chứng cho sức ngân vang của cụ mà còn khẳng định sự lãnh đạo và chỉ huy được đám đông làng Xô-man. Cách nói của cụ như ra lệnh; không bao giờ cụ khen tốt hay giỏi nếu vừa ý thì nói “Được!”. Mệnh lệnh chiến đấu phát ra chắc nịch đó được thể hiện trong đêm Tnú bị giặc đốt mười ngón tay, “Chém! Chém hết!” của cụ như tiếng sấm bên tai không chỉ thúc giục tinh thần trong mỗi người xông lên cứu Tnú, mà còn phần nào đã khiến cho bọn thằng Dục bị đòn bất ngờ và có phần khiếp sợ. Nhưng giọng nói cụ Mết cũng thật đầm ấm, trang nghiêm, linh thiêng như một huyền thoại – đó là khi cụ Mết kể về câu chuyện của Tnú cho dân làng Xô-man. Mọi người vây quanh đống lửa trong không gian của nhà ưng và nghe cụ kể về Tnú với “tiếng nói rất trầm”. Qua đó, bạn đọc có thể thấy cụ Mết hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh dân tộc của các đồng bào vùng Tây Nguyên, là niềm tự hào của cộng đồng dân làng Xô-Man. Giọng nói của cụ như là tiếng của cội nguồn,của núi rừng, của lịch sử, lời nói của cụ là sấm truyền sử thi, đó còn như những phán quyết của lịch sử, là sức mạnh hào hùng của thời đại.

Trong mối quan hệ với Đảng và Cách mạng, cụ Mết càng là sợi dây gắn kết dân làng với lí tưởng, chỉ dẫn của Đảng, bởi cụ luôn có niềm tin sâu sắc vào những đường lối của Đảng, tinh thần này càng được giáo dục một cách nghiêm khắc cho đám đông làng Xô-man để khắc cốt ghi tâm. Đã có lần cụ từng khẳng định niềm tin ấy: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn.” Nhưng quan trọng hơn là cụ Mết đã đưa chân lí đó vào thực tiễn của cuộc đấu tranh chống bọn đế quốc Mĩ bằng những chân lí thật giản dị: “Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống kể lại cho con cháu: Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo!…” Nhờ vào ý thức luôn giáo dục truyền thống vẻ vang của làng cho các thế hệ tiếp cận đó mà dân làng Xô-man giữ được truyền thống kiên cường bất khuất, khả năng giữ bí mật tuyệt đối, để làng Xô-man mãi tự hào khi trong suốt 5 năm kháng chiến chưa có cán bộ nào bị giặc bắt hay bị giết trong cánh rừng xà nu này. Nhưng để hiểu vì sao cụ Mết lại có niềm tin sâu sắc vào Đảng thì đó chính là nhờ vào sự am hiểu tường tận và giành giọt đường lối kháng chiến. Không chỉ là phương châm kháng chiến lấy bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng (chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo). Mà đặc biệt hơn cụ còn am hiểu về cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc: “đánh thằng MĨ phải đánh lâu dài”. Ngoài ra, qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành ta còn thấy được tính kỉ luật cao trong con người cụ Mết qua cách chỉ huy dân làng khi trốn vào rừng lánh giặc chờ đợi thời cơ tiến hành khởi nghĩa: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông”. Chính vì thế, cụ Mết được nhà văn miêu tả với hình tượng một cây xà nu đại thụ trong rừng xà nu, luôn là bóng lớn cho dân làng Xô-man chống bọn đế quốc Mĩ, góp phần vào sự thành công của cuộc cách mạng trong cả nước.

Khi nói đến nhân vật cụ Mết trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, không thể không nói đến phẩm chất cao quý của cụ đối với Tnú, đối với dân làng Xô-man. Qua ngòi bút của nhà văn, cụ Mết hiện lên là một con người có lòng yêu dân làng, yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Đối với Tnú, cụ luôn lấy anh làm tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo, để học tập anh mà một lòng theo cách mạng, tiêu biểu cho sự giáo dục của cụ là bé Heng – bé Heng đã tiếp thu truyền thống của anh Tnú qua cách giáo dục của cụ Mết. Trong lòng cụ, Tnú hiện lên chân thật với “đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Cụ thương những người dân làng Xô-man như người thân trong nhà với một sự đùm bọc, lãnh đạo che chở cho tất cả các thành viên. Từ đó, mà cụ trở thành người cha tinh thần, người truyền ngọn lửa tự do, và là linh hồn cuộc khởi nghĩa đồng khởi của dân làng Xô- man.

Cụ Mết không phải là nhân vật chính trong ngòi bút của nhà văn.Nhưng qua tác phẩm,ta cũng thấy được vai trò to lớn của cụ Mết trong việc tô thắm hình tượng nhân vật Tnú với lối kể chuyện lồng trong chuyện qua chuyện một đêm của làng Xô-man. Hình ảnh cụ Mết khiến ta liên tưởng tới nhân vật chú Năm trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”.Hai con người ở hai vùng miền nhưng trong cùng một thời đại, là thế hệ đi trước, là lịch sử, là người giữ lửa và truyền ngọn lửa cho các thế hệ trẻ, là tinh thần của dân tộc góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cả nước vào một ngày giải phóng hoàn toàn đất nước, dân tộc được tự do.

Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện ít qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nhưng những gì nhà văn miêu tả về người già làng với một lòng theo Đảng, tin tưởng cách mạng càng làm thêm giá trị cho tác phẩm Rừng xà nu có sức âm vang tới hôm nay và mai sau. Trong lòng bạn đọc, cụ Mết mãi là hình tượng bất tử của cây xà nu đại thụ vươn sức bảo vệ cho thế hệ trẻ phát triển để thực hiện thắng lợi thành công cuộc cách mạng dân tộc này.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 4

Nguyễn Trung Thành là một nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại, cách mạng của dân tộc Việt Nam. Những tác phẩm của Nguyễn Trung Thành thường gắn liền với những số phận người con vùng Tây Nguyên. Những người dân chất phác, hiền hậu, nhưng vô cùng anh dũng, kiên cường, luôn một lòng một dạ hướng về sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, căm thù cái ác, căm thù giặc sâu sắc.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu” bên cạnh những nhân vật anh hùng như Tnú, Mai, là những người đại diện cho lớp trẻ, kiên cường, bất khuất, như những cây xà nu non tới lúc trưởng thành. Thì nhân vật cụ Mết lại là hình ảnh đại diện của cây xà nu cao lớn trường thành, vững trãi, đã trải qua những thời kỳ giông bão, để trở nên hiên ngang, không gì có thể lung lay được.

Cụ Mết là một nhân vật góp phần làm cho tính sử thi trong tác phẩm trở nên đậm nét hơn. Cụ Mết giống như người già làng, trưởng bản kiên cường, là linh hồn của bản làng của núi rừng Tây Nguyên, là người dẫn dắt lớp trẻ đứng lên tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi kiếp nô lệ, hướng những người trẻ đi theo những giá trị chân chính.

Ngay từ khi xuất hiện, người đọc đã cảm nhận được rằng cụ Mết là người vô cùng mạnh mẽ thể hiện trong những chi tiết mà tác giả nêu ra “Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”.

Tuy đã qua thời kỳ xuân xanh không còn ở tuổi trai tráng lực lưỡng nhất nhưng cụ Mết vẫn giữ được uy lực của một người già làng, trưởng bản, một con người cả cuộc đời hiên ngang, quen dầm mưa dãi nắng, được núi rừng tô luyện cứng như đá, kiên cường, quắc thước….Không sợ bất kỳ một thế lực nào, hiên ngang, sừng sững..

Cụ Mết như những cây xa nu đã trưởng thành dù mưa bão cũng không làm lung lay được. Mưa bão chỉ có thể quật ngã làm đổ những cây non, những cây không đủ sức chống đỡ với bão táp, còn những cây xà nu trưởng thành thì không có gì làm nó gục ngã.

Trong tính cách của mình cụ Mết cũng là người vô cùng đặc biệt. Thông qua những câu nói vô cùng uy lực khi ra lệnh cho mọi người. Dù chỉ là những câu nói giản dị, nhưng chứa đựng tinh thần quyết đoán của người đứng đầu. Cụ Mết không có thói quen khen ngợi người khác, tâng bốc người ta lên mây xanh, mà mỗi khi hài lòng một việc gì đó cụ Mết chỉ gật gù cái đầu và nói ‘được”.

Tiếng nói của cụ Mết là những âm thanh vô cùng vang động “tiếng nói ồ ồ dội vang trong lồng ngực” là tiếng nói của một người ngay thẳng, không bao giờ nói hai lời.

Cụ Mết cũng là người vô cùng yêu quê hương đất nước, yêu bản làng núi rừng Tây Nguyên của mình. Cụ cũng là người có trái tim vô cùng nhân hậu, khi cha mẹ của Tnú mất đi bỏ Tnú ở lại thế giới trần gian một mình. Chính cụ Mết đã mang Tnú về nuôi, coi Tnú như con cháu trong nhà dạy cho Tnú biết săn bắn, biết sống như những cây xà nu hiên ngang sừng sững.

Khi T nú đi xa trở về cụ Mết thường dẫn anh ra suối tới những chỗ có máng làm bằng tre trở nước từ thượng nguồn về cho T nú gội đầu để gợi cho anh những kỷ niệm của quê hương, của mảnh đất thân thương gắn liền với mỗi người dân ở đây.

Trong những câu chuyện của mình kể cho T nú nghe cụ Mết luôn thể hiện cho T nú thấy sức mạnh của cây xà nu của làng. Muốn cho T nú thấy rằng anh cần phải yêu mảnh đất này, cần sống như những cánh rừng xà nu kia, kiên cường, bất khuất dù mưa gió, súng đạn có bắn phá xuống thì cánh rừng xà nu vẫn luôn vươn lên xanh tốt, như sức sống mãnh liệt của những người con núi rừng Tây Nguyên.

Cụ Mết cũng là người yêu cách mạng, giác ngộ cách mạng sâu sắc chính vì vậy mà ông cụ luôn dặn con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn” đây là những câu nói của một con người có lòng trung thành với tuyệt đối với con đường cách mạng mà mình đã chọn. Ông yêu quê hương của mình và cũng chính vì yêu nên ông muốn bảo vệ nó cho tới cùng, để bảo vệ quê hương mảnh đất thân yêu này thì chỉ con đường duy nhất là con đường theo cách mạng.

Khi Tnú đi bị giặc dùng nhựa xà nu đốt cháy mười đầu ngón tay của anh, cả bàn tay nay chỉ con hai ngón. Anh trở về làng cụ Mết đón anh bằng tấm lòng của một người cha, vô cùng thương yêu Tnú ông cụ còn động viên tinh thần cho anh “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”.

Trong những câu nói của mình ông đều thể hiện một tinh thần vô cùng quyết tâm, không chịu khuất phục, không vì thế mà lùi bước, trở thành người tàn phế. Ông dạy Tnú tinh thần kiên cường, hiên ngang dù cái chết có thể cận kề bất cứ lúc nào.

Câu nói của cụ Mết cũng giúp cho Tnú giải tỏa được những muộn phiền ở trong lòng, khi anh cảm thấy cuộc đời mình không phải như thế đã trở thành vô dụng. Anh có thể làm rất nhiều việc khác, vẫn có thể tiếp tục chiến đấu, cống hiến sức mình cho cách mạng, cho con đường bảo vệ quê hương mà anh đã chọn.

Cụ Mết thương Tnú như thương con trai mình. Ông cụ chăm sóc Tnú từ bé, nên khi nhìn con trai mình bị đốt mười đầu ngón tay trong bữa cơm. Ông cụ giận dữ ném chén cơm xuống. Đó là nỗi lòng căm thù, hận tới tận xương tủy lũ giặc tàn ác đã khiến cho Tnú của ông bị như vậy.

Mỗi lần ông cụ nhắc lại chuyện cũ, những tội ác mà lũ giặc đã gây ra thì những giọt nước mắt của ông lại rơi xuống, ông cụ lấy tay lau những giọt nước mắt một cách vụng về, như đang cố kìm nén nỗi xúc động trong lòng mình.

Không chỉ là trụ cột về tinh thần, của dân làng Xô Man cụ Mết còn là người có con mắt chiến lược nhìn xa trông rộng. Cụ luôn lo lắng cho những cuộc chiến của người dân, luôn động viên người dân làng phải biết tích lũy lương thực vì cuộc kháng chiến chống Mỹ còn dài, không phải kết thúc trong ngày một ngày hai được.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu” cụ Mết chính là hình tượng vô cùng đẹp như một tộc trưởng, già làng vô cùng oai hùng. Cụ Mết chính là linh hồn là người dẫn dắt dân làng Xô Man đi theo con đường chính đạo, đi theo con đường giải phóng dân tộc, giác ngộ cách mạng căm thù cái ác.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 5

Trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nếu được hỏi nhân vật nào là một chứng nhân lịch sử đi cùng những biến cố thời đại và con người của dân làng Xô Man thì có lẽ câu trả lời chính là cụ Mết. Dù không xuất hiện nhiều hay được miêu tả nhiều trong câu chuyện tuy nhiên cụ Mết lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc đời của Tnú, của quá trình đấu tranh của dân làng Xô Man.

Cụ Mết là một già làng, có thể nói là trưởng làng của buôn làng Xô Man. Cụ là người đàn ông mạnh mẽ, nghị lực và đầy khí phách. Khí phách của cụ đã được tác giả miêu tả qua ngoại hình: cụ có khuôn mặt quắc thước, đôi mắt đen sáng, râu dài tới ngực và có bộ ngực cường tráng, tiếng nói vang ồ ồ trong lồng ngực. Cách miêu tả ngoại hình của cụ Mết cũng cho thấy đây là một con người rất mạnh mẽ, dứt khoát và đầy khí thế. Cụ là người đứng đầu buôn làng Xô Man, đóng vai trò cầm cân nảy mực, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của người dân trong buôn làng.

Cụ Mết cũng là nhân vật được miêu tả đậm chất sử thi, tính sử thi được biểu hiện thông qua con người cụ từ ngoại hình, tính cách đến hành động của cụ. Cụ rất nghiêm nghị, quắc thước. Khi Tnú về thăm làng, cụ yêu cầu mọi người ngồi vây quanh mình, im lặng để cụ kể chuyện về cuộc đời của Tnú. Và tất cả mọi người kể cả người già, kể cả trẻ nhỏ quả nhiên đã ngồi lặng im lắng nghe từng câu nói của cụ Mết.

Khi Tnú chứng kiến vợ con mình chết và chính bản thân anh cũng lao ra để rồi bị giặc tra tấn thì cụ Mết chính là người cầm quân, dẫn đầu buôn làng tiến lên chiến đấu. Tiếng nói của cụ Mết như là một hiệu lệnh mà tất cả bà con trong buôn làng đều nghe theo. Cụ hô hào mọi người đứng dậy và bản thân cụ là người đi đầu, trực tiếp lao vào quân địch mà chiến đấu.

Mỗi khi ai đó làm tốt một việc gì, cụ chỉ gật đầu khen “được” đó là một câu nói chất chứa nhiều cảm tình nhưng cũng đầy hi vọng vào tương lai, muốn con cháu của buôn làng phát huy hơn nữa, không tự kiêu mà bỏ quên nhiệm vụ. Con người cụ Mết là vậy nên luôn được Tnú kính trọng, được cả dân làng Xô Man kính trọng. Tnú khi về cũng đến thăm và chào hỏi cụ, lắng nghe cụ nói với một thái độ cung kính. Dân làng thì chỉ chờ và làm theo những hiệu lệnh của cụ. Coi cụ như một hình mẫu mực thước để tất cả cùng noi theo.

Con người cụ Mết, cũng giống như Tnú cũng như những cánh rừng xà nu đều hiên ngang bất khuất, mang đậm dấu ấn sử thi kiên cường vững chãi trước bão tố cuộc đời, trước hoàn cảnh lịch sử đầy tai biến.

Cụ Mết một lòng trung thành với Đảng, với cụ Hồ, với cách mạng. Khi thấy Tnú về và đạt được những chiến tích nhất định trong chiến đấu, cụ mừng lắm, cụ luôn tỏ thái độ tôn kính đối với Bác, với cộng sản. Cụ dù tuổi đã cao nhưng vẫn là một cây xà nu đại thụ giữa cánh rừng xà nu đại ngàn của núi rừng Tây Nguyên.

Nếu không có cụ Mết có lẽ câu chuyện về cuộc đời Tnú, về buôn làng Xô Man sẽ không được kể hoặc sẽ được kể trên một phương diện khác, cái nhìn khác. Cụ Mết chính là người giữ lửa, truyền lửa, truyền tinh thần yêu nước, nhiệt huyết cách mạng đến tất cả các thành viên trong buôn làng Xô Man. Cụ cũng là một biểu tượng anh hùng, một con người sử thi đối với câu chuyện Rừng xà nu nói riêng và đối với cả buôn làng Xô Man nói chung.

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 6

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành qua những cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông viết rất nhiều tác phẩm gắn liền với những con người và mảnh đất núi rừng Tây Nguyên hoang sơ hùng vĩ. Thể hiện sự gắn bó của nhà văn với những con người nơi đây.

Tiêu biểu cho phong cách của tác giả chính là truyện ngắn “Rừng xà nu” được xuất bản năm 1965 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Truyện ngắn thể hiện sự anh hùng kiên cường quả cảm của những người dân Tây Nguyên. Hình ảnh những người dân làng Xô Man mà đứng đầu chính là cụ Mết chính là hình tượng cây xà nu anh hùng đại thụ vượt qua nhiều trận bom rơi, đạn nổ nhưng vẫn kiên cường hiên ngang trong gió bão.

Cụ Mết chính là linh hồn của người dân làng Xô Man, là người soi đường cho những thế hệ trẻ đi theo con đường yêu nước, con đường cách mạng của dân làng. Nhân vật cụ Mết được coi như già làng trưởng bản của làng Xô Man, cụ Mết không xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm nhưng mỗi lần xuất hiện đều toát lên vẻ oai hùng, của một người lãnh đạo cầm đầu, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc. Một bàn tay chắc nịch nắm lấy vai Tnú như một kìm sắt, khi anh nhìn cảnh Mai và con mình bị hành hạ, Tnú định từ gốc cây chạy ra nhưng bàn tay cụ Mết đã giữ anh lại.

Ông cụ có khuôn mặt quắc thước ấy râu dài tới ngực, đen bóng đôi mắt ông sáng lên, những vết sẹo trên người cũng láng bóng, ngực căng lên như một cây xà nu lớn trưởng thành qua gió bão. Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cụ Mết bằng những câu văn miêu tả một vị anh hùng, một già làng tộc trưởng được vạn người kính trọng. Qua những nét vẽ đó ta thấy được cụ Mết là người vô cùng cường tráng, khỏe mạnh có diện mạo quắc thước, minh mẫn thể hiện sự nhanh nhẹn trong hành động lời nói và trí tuệ.

Trong nhân vật này chứa đựng sự trưởng thành của một con người từng trải đã trải qua nhiều nắng gió của thời gian, của những khó khăn vất vả tạo thành một con người kiên cường bất khuất không sợ gì. Trong giọng nói của cụ Mết tác giả Nguyễn Trung Thành miêu tả cụ có giọng nói ồ ồ vang rộn cả núi rừng Tây Nguyên. Những lời nói của cụ tựa như sấm truyền. Mỗi lần cụ nói như ra lệnh không bao giờ khen tốt hay giỏi với bất kỳ ai mà chỉ nói những lời nói mang tính chất khích lệ như “Được”. Nhưng mỗi lời ông cụ nói đều chắc nịch thể hiện một mệnh lệnh.

Trong lúc Tnú bị bọn thằng Dục tay sai bắt và tra tấn dã man lúc chúng tẩm nhựa xà nu vào mười đầu ngón tay Tnú và đốt trong khoảnh khắc ấy từ “Giết” của cụ Mết vang lên như một lời sấm truyền. Cụ đã chính tay giết chết tên Dục rồi cùng dân làng Xô Man cứu Tnú thoát khỏi vòng vây sự tra tấn của kẻ thù. Khi Tnú cùng quẫn, bất động vì vợ con bị giết chết, mười đầu ngón tay bị thiêu đốt còn hai nhưng cụ Mết chính là người đã cho anh sức mạnh, cho anh thêm nghị lực để tiếp tục đứng lên chiến đấu với kẻ thù. Cụ Mết nói “Không có tay cũng có thể dùng súng giết giặc”.

Cụ Mết luôn trung thành với Đảng với cụ Hồ Chí Minh đó là tình cảm sâu sắc mà cụ dành cho quê hương thể hiện sự trung thành của một người con dân tộc. Tác giả Nguyễn Trung Thành khi nói tới nhân vật cụ Mết đều dùng những từ ngữ vô cùng thành kính sâu sắc thể hiện sự yêu mến quý trọng của tác giả với nhân vật này.

Đối với Tnú hay những đứa trẻ trong làng Xô Man thì cụ Mết luôn là một tấm gương sáng để cho thế hệ sau phải noi theo. Tình yêu quê hương, trung thành với cách mạng của Tnú, của bé Heng, bé Dít đều do cụ Mết truyền lửa. Cụ Mết chính là người cha già của dân làng Xô Man, là người soi sáng tinh thần, truyền ngọn lửa tự do cho những người dân nơi đây.

Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện không nhiều trong tác phẩm Rừng xà nu nhưng lại là nhân vật vô cùng quan trọng, thông qua những gì mà nhà văn miêu tả về nhân vật này thì cụ Mết chính là già làng với tinh thần yêu nước sâu sắc một lòng tin tưởng vào cách mạng, vào Bác Hồ. Cụ Mết đã đọng lại trong lòng người đọc bởi hình ảnh mạnh mẽ, anh hùng, một người truyền lửa cho những người dân làng Xô Man, cụ tựa như cây xà nu trưởng thành hiên ngang, kiên cường trong gió bão.

Advertisement

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 7

Trong thời đại chống Mĩ, chủ nghĩa yêu nước là nội dung xuyên suốt trong văn học Việt Nam. Nó bùng cháy mạnh mẽ và phát triển lên một bước mới thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bởi vậy, trong các tác phẩm không chỉ xuất hiện của những cá nhân anh hùng, xuất chúng mà còn xuất hiện cả tập thể anh hùng. Trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành bên cạnh nhân vật Tnú còn nổi bật lên tập thể anh hùng làng Xô Man, trong đó nổi bật hơn cả là nhân vật cụ Mết.

Cụ mết chính là con người thuộc thời đại “Đất nước đứng lên”, cụ đã trải qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ để tiếp tục cùng con cháu và thế hệ trẻ vùng lên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ hào hùng. Cụ vừa là biểu tượng cho quá khứ vẻ vang, rực rỡ, vừa là người giữ và truyền lửa cho thế hệ sau.

Dù đã cao tuổi những cụ Mết vẫn giữ được vẻ quắc thước như xưa, cụ vẫn là cây xù lớn của buôn làng, bàn tay cụ trắc nịch, khỏe khoắn,… Dù chỉ là một vài chi tiết, những tác giả đã cho thấy, dù cụ mất đã già nhưng vẫn có thể lực vô cùng dẻo dai, cường tráng, diện mạo của cụ dường như vượt qua được sức tàn phá mạnh mẽ của thời gian; diện mạo này cũng phần nào chứng tỏ vai trò trụ cột, chống đỡ như cây xà nu lớn của cụ Mết với dân làng Xô Man.

Ẩn đằng sau vẻ đẹp khỏe khoắn, dẻo dai là vẻ đẹp phẩm chất ngời sáng của cụ. Trước hết cụ là người có tình yêu Đảng, yêu cách mạng sâu sắc, điều này được thể hiện trong cả cuộc đời đấu tranh bền bỉ, kiên cường của cụ Mết, mà chứng tích để lại chính là vết sẹo hằn in trên má.

Cụ Mết đã một lòng theo Đảng, cách mạng để đi từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mĩ trong vai trò trụ cột, chỉ huy, lãnh đạo dân làng Xô Man. Tình yêu với Đảng, cách mạng còn được thể hiện qua những lời nói giản dị mà đầy ý nghĩa: “Đảng còn. Núi nước này còn”. Không khoa trương ồn ào, nhưng bằng chính lối tư duy mộc mạc, ngôn ngữ tự nhiên, đã thể hiện tình yêu Đảng sâu sắc của cụ, đồng thời khơi dậy tình yêu đó trong lòng mỗi người dân làng Xô Man.

Không chỉ vậy cụ còn là người có kinh nghiệm sống, bản lĩnh và từng trải. Chính những điều ấy khiến cho cụ luôn đưa ra những quyết định đứng đắn, sáng suốt trong những thời điểm quan trọng nhất. Cụ cũng là người đã nhận ra: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, cũng chính cụ đã vượt qua được sự nôn nóng của Tnú để quay vào rừng, sau đó cùng thanh niên, trai tráng quay trở lại cứu Tnú. Kinh nghiệm bản lĩnh sống của cụ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của dân làng Xô Man.

Cụ cũng là người luôn tìm cách giữ lửa, truyền lửa và động viên thế hệ mai sau tiếp bước con đường của thế hệ cha anh. Và vai trò quan trọng nhất của cụ Mết cũng là phẩm chất nổi bật nhất chính là việc cụ đưa ra những đúc kết và thay tác giả phát ngôn cho những chân lí của thời đại, cộng đồng.

Từng lời chậm rãi, nhưng dõng dạc, chắc nịch: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, thể hiện sự nhạy bén của cụ trước sự đổi thay của thời đại. Bởi chỉ với bàn tay không Tnú đã không cứu được vợ con, bản thân cũng bị giặc hành hạ tàn bạo; bởi chỉ có bàn tay không nên rất nhiều người dân đã ngã xuống. Cụ đã nhận thức được rằng, thời đại đã thay đổi, quân xâm lược ngày càng sử dụng những vũ khí tối tân với cách đánh tinh vi hơn, bởi vậy chỉ với bàn tay không thì ta chắc chắn sẽ thất bại.

Câu nói của cụ đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết là phải chuyển từ đấu tranh tự phát, sang đấu tranh tự giác, đấu tranh vũ trang với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo. Điều đó không chỉ có ý nghĩa quan trọng với cuộc đấu tranh của người dân Tây Nguyên mà nó còn là chân lí của thời đại, kết tinh từ trí tuệ của cộng đồng. Cụ Mết đã thay tác giả phát ngôn chân lí đó. Bằng sự trải nghiệm và kinh nghiệm sống dày dặn, cụ làm cho nhận thức đó trở nên sâu sắc và có giá trị hơn.

Với dân làng Xô Man, cụ Mết chính là linh hồn, chỗ dựa vững chắc cả về sức mạnh lẫn tư tưởng, nhận thức. Cụ vừa là hiện thân của quá khứ hào hùng để trở thành tấm gương sáng cho thế hệ sau, vừa là một người dìu dắt, giúp đỡ, thúc đẩy lịch sử đấu tranh của làng Xô Man và nhân dân Tây Nguyên mỗi lúc một hào hùng hơn.

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 8

Nếu như trong tác phẩm “Người lái đò” của nhà văn Nguyễn Tuân đã vẽ nên một nhân vật ông lái đò dũng cảm, hiên ngang chiến đấu với sức mạnh của thiên nhiên, thì cụ Mết của tác giả Nguyễn Trung Thành trong tác phẩm Rừng xà nu được nổi bật lên bởi sự vững chắc, rắn rỏi được tạc nên bởi núi rừng Tây Nguyên.

Không được tập trung khai thác như nhân vật Tnú, thế nhưng cụ Mết vẫn gây được những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả. Ngay từ khi xuất hiện, một vị già làng dưới ngòi bút của tác giả được thể hiện qua những chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”, hay “mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng… ngực căng như một cây xà nu lớn”. Bằng nghệ thuật miêu tả, hình ảnh cụ Mết hiện lên đầy oai hùng, vững chãi, tràn đầy sức mạnh cả về sức khỏe lẫn tinh thần.

Không chỉ thế, núi rừng mạch nguồn Tây Nguyên đã làm nên cho cụ một giọng nói “ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Những lời cụ nói như ra lệnh, không bao giờ cụ khen tốt hay giỏi nếu vừa ý thì nói “Được”. Lời nói của cụ đã truyền sức mạnh vào trong những bài giảng về lịch sử oanh liệt của dân làng Xô Man, tiếng nói thiết tha trang nghiêm khi răn dạy con cháu “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy”.

Đặc biệt, sức mạnh ấy đã được bùng nổ khi cụ ra mệnh lệnh chiến đấu khi hay tin Tnú bị giặc đốt cháy mười ngón tay: “Chém! Chém hết”. Giọng nói của cụ là tiếng của cả dân tộc, là tiếng nói của lịch sử, đã dẫn dắt biết bao thế hệ lớn lên, trưởng thành và biết chiến đấu vì đất nước.

Cụ Mết còn là một người có tình yêu sâu sắc, gắn bó máu thịt với quê hương. Cụ dạy Tnú, cùng các thế hệ sau rằng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn núi nước này còn”. Cụ luôn nhắc nhở những người con xa quê rằng: dù đi tới phương trời nào cũng phải luôn ghi nhớ và trân trọng về cội nguồn dân tộc.

Cụ luôn tự hào vì được sinh ra và lớn lên cùng với nắng gió Tây Nguyên, cùng với những rặng xà nu bạt ngàn luôn hiên ngang trước sóng gió. Cụ khẳng định rằng: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Với cụ Mết, từng giọt nước ta uống, từng bát cơm ta ăn mà đất nước mang lại đều thật đẹp đẽ và đáng trân trọng biết bao.

Chính vì những tư tưởng ấy, cụ đã dẫn dắt dân làng Xô man cùng những bài giảng giáo dục hết sức vẻ vang về lịch sử dân tộc. Cụ am hiểu về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc “đánh thằng Mỹ phải đánh lâu dài”. Đặc biệt hơn nữa, cụ là một người có tính kỉ luật rất lớn khi tổ chức, chỉ huy dân làng lánh vào rừng đợi thời cơ đánh giặc: “Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa, ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông”.

Trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cụ đã trở thành một chỗ dựa vững chắc cho dân làng Xô man. Cụ động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh mỹ phải đánh dài”. Tuy trong lòng cụ sục sôi vì nỗi căm thù quân giặc, nhưng cụ vẫn giữ bình tĩnh, sáng suốt để tìm ra con đường đúng đắn nhất để lãnh đạo dân làng chiến đấu. Tinh thần của cụ luôn hừng hực, khí thế tựa như những đại đại thụ Xà nu tại chốn rừng Tây Nguyên.

Với vẻ ngoài hào kiệt, uy nghi là thế, cụ lại mang trong mình một trái tim dạt dào tình yêu thương với dân làng. Khi Tnú được trở về chỉ với những đốt tay còn sót lại sau khi bị giặc đốt, cụ kìm nén những cảm xúc đau buồn để khích lệ anh “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”.

Khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú, cụ cũng không kìm nổi sự căm phẫn tiếc thương, cụ thương cho những người con, người cháu vô tội của cụ đã bị giết bởi những tên giặc mạn rợ, cụ thương cho cuộc đời của Tnú, cụ “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt”. Trải qua biết bao sự mất mát, chia ly bởi bom đạn, cụ vẫn phải rơi những giọt nước mắt bởi dân làng, người thân của cụ. Chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộc trái tim nhân hậu, yêu thương đồng bào của cụ. Cụ đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm trái tim, xoa dịu nỗi đau của biết bao con người. Cụ Mết chính là linh hồn của cả một dân tộc Việt Nam và dân làng Xô Man nói riêng.

Hình ảnh cụ Mết tuy ít xuất hiện trong bài, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Trung Thành, nhân vật cụ Mết với những phẩm chất ưu tú hơn người, đã mang trọn những tinh thần kiên cường, bất khuất của nhân dân Tây Nguyên. Trong lịch sử của chúng ta, không có ít người như cụ Mết, thế nhưng hình ảnh của cụ già làng sánh vai cùng cây xà nu đại thụ trong Rừng xà nu sẽ sống mãi cùng mọi thế hệ.

Văn Mẫu Lớp 12: Tổng Hợp Mở Bài Về Tác Phẩm Rừng Xà Nu Hay Nhất (67 Mẫu) Mở Bài Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành

Nguyễn Trung Thành là nhà văn đã sống và gắn bó với chiến trường Tây Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Chính mảnh đất và tình người nơi đây đã phả hồn vào những trang viết của nhà văn và để lại dấu ấn sâu đậm qua: “Đất nước đứng lên” và “Rừng xà nu”. Trong số đó, “Rừng xà nu” được xem là một khúc hùng ca – một “Bản hịch thời đánh Mỹ”. Tác phẩm có kết cấu độc đáo – truyện lồng truyện, truyện của cuộc đời những cánh rừng xà nu quyện hòa vào cuộc đời của nhân vật chính – Tnú. Tất cả tạo nên một đội ngũ trùng điệp, bất tận về cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn của dân tộc. Ấn tượng sâu đậm nhất, khắc sâu nhất trong tác phẩm này chính là hình tượng nhân vật Tnú – một nhân vật mang tầm vóc sử thi của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên anh hùng.

Truyện ngắn “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất trong nền văn học kháng chiến giai đoạn 1960 – 1965. Qua câu chuyện về cuộc đời cách mạng bi thương nhưng anh dũng của Tnú, nhà văn không chỉ tái hiện không khí kháng chiến hào hùng, dữ dội, nhiều mất mát đau thương nhưng không kém phần vẻ vang, anh dũng của dân tộc mà còn cho thấy được quá trình trưởng thành của cách mạng miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước: đứng dậy từ những đau thương, mất mát, mạnh mẽ kiên cường chiến đấu để bảo vệ cuộc sống, giải phóng cho quê hương, đất nước.

Tây Nguyên là mảnh đất nắng gió bao la, nơi đại ngàn hoang sơ hùng vĩ. Mảnh đất sản sinh văn hóa cồng chiêng và bao pho sử thi đồ sộ như Đam Săn, Xinh Nhã, Xinh Bia… Mảnh đất ấy cũng từng kinh qua bao cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và để lại bao dấu ấn đẹp đẽ qua bao trang văn, trang thơ. Trong số những sáng tác về mảnh đất và con người nơi đây phải kể đến “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Tác phẩm ra đời vào mùa hè đỏ lửa năm 1965 và nhanh chóng trở thành một khúc hùng ca bi tráng, thiêng liêng – một “Bản hịch thời đánh Mỹ”. Người đã dệt nên bản anh hùng ca ấy chính là hình tượng nhân vật Tnú – con người tiêu biểu cho chân lý cách mạng ngời sáng mà cụ Mết đã truyền dạy “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”.

Mỗi nhà văn, dường như đều có một vùng quê sáng tác. Đối với Nguyên Ngọc, Tây Nguyên hùng vĩ núi non, Tây Nguyên bất khuất kiên cường và những người bộc trực kiên trung một lòng đi theo cách mạng chính là vùng đất mà ông gắn bó, trăn trở trong sáng tác của mình. Những năm kháng chiến chống Pháp,ông bám trụ ở Tây Nguyên để rồi viết nên tiểu thuyết “Đất nước đứng lên”. Những năm đánh Mỹ. Nguyên Ngọc lại trở về với vùng đất gian khổ này từ đầu những năm sáu mươi, ngay sau những ngày đồng khởi của cách mạng miền Nam. Cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân Tây Nguyên đã khơi lòng cảm hứng cho ông viết truyện ngắn Rừng xà nu – một truyện ngắn xuất sắc của văn học thời chống Mỹ

Nguyễn Trung Thành hay còn có bút danh là Nguyên Ngọc là một trong những nhà thơ nổi tiếng trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, không chỉ sáng tác văn chương phục vụ cách mạng mà ông còn trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, đặc biệt là những năm giặc Mỹ bắn phá ác liệt nhất. Quá trình sống và chiến đấu nhiều năm trên mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng và gió, gắn bó cùng với những con người nơi đây đã để lại trong trái tim tác giả nhiều ấn tượng sâu sắc. Điều đó trở thành tiền đề giúp tác giả viết nên nhiều tác phẩm xuất sắc về đề tài “chiến tranh cách mạng – lực lượng vũ trang” dựa trên hình tượng chiến trường Tây Nguyên đầy máu, lửa cùng những người con anh hùng, mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Trong tác phẩm nổi tiếng và xuất sắc nhất của mình – Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành xung quanh việc khắc họa hình ảnh dân làng Xô-man đánh Mỹ và hình tượng cây xà nu kiên cường giữa mưa bom bão đạn, thì nhân vật Tnú chính là điểm sáng rực rỡ mà tác giả tập trung khai thác, khắc họa thông qua nhiều hình thức khác nhau, để làm nổi bật nên những phẩm chất anh hùng của con người Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ.

Nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 là một nền văn học sử thi. Cảm hứng anh hùng ca xuất hiện trong hầu hết các sáng tác văn xuôi thuộc giai đoạn này. Thấm nhuần tư tưởng Nơi nào không cầm súng, nơi đó không phải là Tổ quốc. Định nghĩa Việt Nam là phải cầm vũ khí diệt thù (Chế Lan Viên), nhà văn Nguyễn Trung Thành đã mang đến cho người đọc “Rừng xà nu” được coi như “hịch tướng sĩ của thời đại chống Mỹ”…

Trong nền văn học nước nhà, thể loại văn xuôi được biết đến là một trong những thế loại đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trong các tác phẩm không thể không nhắc đến bài “rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, một bài sử thi đậm chất Tây Nguyên. Trong đó tác giả khắc họa thành công hình tượng cây xà nu, làm cho ta cảm thấy hào hùng, sự chiến đấu của con người Tây Nguyên.

Rừng xà nu là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Trung Thành viết về thiên nhiên và con người Tây Nguyên anh dũng, bất khuất, kiên cường. Đó là bao thế hệ cách mạng đầy bản lĩnh chiến đấu, giàu lòng yêu nước, là đại diện tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, theo lý tưởng, ánh sáng cách mạng của dân tộc. Tnú là một nhân vật nổi bật trong truyện hiện lên với những vẻ đẹp đại diện cho người anh hùng sử thi của thời đại, kết tinh mọi phẩm chất tốt đẹp của con người Tây Nguyên.

Mỗi nhà thơ, nhà văn đều có cho riêng mình một vùng đất gắn bó thiết tha. Đó là Tô Hoài yêu mến và trân trọng những vẻ đẹp của rừng núi và con người Tây Bắc hay Nguyễn Quang Sáng sống trọn đời mình với vùng đất Nam Bộ bình dị mà thân thương. Đến với Nguyễn Trung Thành, ta bắt gặp một tâm hồn gắn bó máu thịt với vùng đất Tây Nguyên, nơi có những đồi xà nu đại ngàn và những con người anh dũng, kiên trung. “Rừng xà nu” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành con người và mảnh đất anh hùng ấy. Bằng ngòi bút tài hoa và thấm đẫm yêu thương của mình, tác giả đã xây dựng hệ thống nhân vật vô cùng phong phú, đại điện cho lớp lớp những con người Tây Nguyên kiên cường, bất khuất trong cuộc chiến chống giặc ngoại xâm, trong đó Tnú là hình tượng tiêu biểu nhất.

Mảnh đất Tây Nguyên cùng với những người con bất khuất đã trở thành đề tài hấp dẫn đối với các nghệ sĩ trong đó có nhà văn Nguyễn Trung Thành. Ông nổi tiếng với truyện ngắn “Rừng xà nu”. Đây là truyện ngắn đã góp phần tạo nên sự thành công trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.

Nguyễn Trung Thành, hay Nguyên Ngọc là một trong những cây bút xuất sắc trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy ác liệt của dân tộc. Trong khi bạn thân của ông là nhà văn Nguyễn Thi gắn bó với mảnh đất Nam Bộ chất phác, thật thà, thì Nguyễn Trung Thành lại dành nhiều tình cảm gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng và gió, với những người con dân tộc Tây Nguyên anh hùng mang vẻ đẹp sử thi, hào hùng trong kháng chiến, với khu rừng xà nu bạt ngàn, kiên cường trước tầm đại bác của địch. Suốt những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ, gắn bó sâu nặng với con người và mảnh đất nơi đây, đã để lại trong những trang văn của Nguyên Ngọc một chất Tây Nguyên thấm đẫm trong từng câu chữ, từng nhân vật. Từ đó tạo ra những tác phẩm xuất sắc, có đóng góp to lớn vào nền văn học kháng chiến chống Mỹ với khuynh hướng sử thi, lãng mạn. Tiêu biểu nhất cho cảm hứng Tây Nguyên có lẽ phải kể đến Rừng xà nu, tác phẩm tiêu biểu và xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trung Thành.

Trong thế giới nghệ thuật của mình mỗi nhà văn lại chọn cho mình một miền “đất nhớ”, đó là mảnh đất gắn bó, nơi lưu lại những cảm xúc yêu thương, tự hào. Nếu trong những trang văn của Hoàng Cầm mang đậm dấu ấn của mảnh đất Kinh Bắc, trong những sáng tác của Nguyễn Thi ẩn hiện hình ảnh của mảnh đất Nam Bộ anh hùng thì trong Tây Nguyên đại ngàn lại là không gian nghệ thuật đặc biệt trong trang văn của Nguyễn Trung Thành. “Rừng xà nu” là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ về mảnh đất Tây Nguyên, là bản hùng ca mạnh mẽ, tự hào về tinh thần, ý chí của con người Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ. “Rừng xà nu” là truyện ngắn kết tinh tài năng, tấm lòng của Nguyễn Trung Thành với mảnh đất Tây Nguyên thương nhớ.

Đã có rất nhiều tác phẩm hay viết về chiến tranh, về người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc, đó là những câu chuyện đi cùng năm tháng như “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, là “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, và với tôi một trong những tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm nhất là “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Truyện viết về cuộc đấu tranh đồng khởi của làng Xô Man, viết về quá trình trưởng thành từ những đau thương của Tnú để trở thành người cán bộ cách mạng mẫu mực. Tuy viết về những đối tượng cụ thể, không gian nghệ thuật cũng được giới hạn trong không gian rộng lớn của Tây Nguyên đại ngàn nhưng tầm vóc sử thi của tác phẩm lại thật lớn lao, qua câu chuyện về Tnú, về không khí đấu tranh của làng Xô Man ta lại thấy được trọn vẹn không khí hào hùng, thấy được từng bước trưởng thành của cách mạng miền Nam: từ vũng bùn của đau thương mất mát, chúng ta đứng lên đấu tranh để làm chủ cuộc sống, hướng đến ánh sáng của tự do.

“Rừng xà nu” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất trong nền văn học kháng chiến giai đoạn 1960 – 1965. Qua câu chuyện về cuộc đời cách mạng của Tnú, nhà văn Nguyễn Trung Thành không chỉ tái hiện không khí kháng chiến đầy dữ dội, nhiều mất mát hy sinh nhưng không kém phần hào hùng, anh dũng của dân tộc mà còn cho thấy được quá trình trưởng thành của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ: đứng dậy từ những đau thương, mạnh mẽ chiến đấu để bảo vệ cuộc sống, giải phóng cho quê hương, đất nước.

“Rừng xà nu” là truyện ngắn mang đậm màu sắc sử thi của nhà văn Nguyễn Trung Thành, được sáng tác năm 1965 – giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân miền Nam. Truyện không chỉ tái hiện không khí dữ dội mà hào hùng của cuộc chiến mà còn khẳng định, ca ngợi những vẻ đẹp, phẩm chất anh hùng trong mỗi con người Tây Nguyên nói chung, trong con người Việt Nam nói riêng. Quá trình trưởng thành của Tnú cũng chính là hình ảnh biểu tượng cho quá trình trưởng thành của cách mạng miền Nam đi từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác, giành độc lập, giải phóng dân tộc.

Tây Nguyên, vùng núi rừng hùng vĩ, đầy bí ẩn mà thơ mộng với cánh chim Ling, chim Chơ rao rực rỡ sắc màu, với âm thanh trầm hùng ngân vang của đàn Gông, đàn Tơ Rưng đã đi vào “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc để làm nên cái không khí sử thi của tiểu thuyết thời chống Pháp. Đến thời chống Mỹ, mảnh đất cực Tây của Tổ quốc này lại một lần nữa khơi nguồn cảm hứng lãng mạn cho Nguyễn Trung Thành viết nên truyện ngắn “Rừng Xà nu” – một truyện ngắn xuất sắc của nền văn học hiện đại về đề tài chiến tranh Cách mạng, ra đời 1965.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn đã sống và gắn bó với Tây Nguyên trong suốt cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Chống Mỹ. Tây Nguyên đã thổi hồn vào những trang viết của ông như :”Đất Nước đứng lên”, “Rừng Xà Nu”. Tác phẩm “Rừng Xà Nu” được xem là bản Hịch thời đánh Mỹ. Ấn tượng sâu đậm nhất trong lòng bạn đọc về tác phẩm này đó chính là hình tượng nhân vật Tnú – người anh hùng của dân tộc Tây Nguyên, người tiêu biểu cho chân lý cách mạng ngàn đời.

Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là một bản anh hùng ca về cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Tây Nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm đã thể hiện sự trưởng thành của một thế hệ cách mạng trẻ trung, mưu trí. Kiên cường, mỗi nhân vật mang một vẻ đẹp riêng tiêu biểu cho cốt cách, linh hồn của mảnh đất Tây Nguyên anh hùng. Nổi bật nhất là nhân vật Tnú, nhân vật trung tâm của tác phẩm.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông là nhà văn có công đưa mảnh đất Tây Nguyên hoang sơ đến với văn học hiện đại Việt Nam. Truyện ngắn Rừng xà nu là tác phẩm tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tnú, người con kết tinh mọi vẻ đẹp của nhân dân Tây Nguyên trên nền tập thể nhân dân anh hùng và hình tượng rừng xà nu hùng vĩ trong những ngày kháng chiến chống Mĩ gay go, ác liệt.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông là nhà văn có công đưa mảnh đất Tây Nguyên hoang sơ đến với văn học hiện đại Việt Nam. Truyện ngắn Rừng xà nu là tác phẩm tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tnú, người con kết tinh mọi vẻ đẹp của nhân dân Tây Nguyên trên nền tập thể nhân dân anh hùng và hình tượng rừng xà nu hùng vĩ trong những ngày kháng chiến chống Mỹ gay go, ác liệt.

Mỗi nhà thơ, nhà văn đều có cho riêng mình một vùng đất gắn bó thiết tha. Đó là Tô Hoài yêu mến và trân trọng những vẻ đẹp của rừng núi và con người Tây Bắc hay Nguyễn Quang Sáng sống trọn đời mình với vùng đất Nam Bộ bình dị mà thân thương. Đến với Nguyễn Trung Thành, ta bắt gặp một tâm hồn gắn bó máu thịt với vùng đất Tây Nguyên, nơi có những đồi xà nu đại ngàn và những con người anh dũng, kiên trung. “Rừng xà nu” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành con người và mảnh đất anh hùng ấy. Bằng ngòi bút tài hoa và thấm đẫm yêu thương của mình, tác giả đã xây dựng hệ thống nhân vật vô cùng phong phú, đại điện cho lớp lớp những con người Tây Nguyên kiên cường, bất khuất trong cuộc chiến chống giặc ngoại xâm, trong đó Tnú là hình tượng tiêu biểu nhất.

Rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành viết vào mùa hè 1965 khi đế quốc Mỹ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta. Câu chuyện trở về năm 60 nói về sự kiện đồng khởi của nhân vật Tây Nguyên với chân lý “chúng nó cầm súng, ta phải cầm giáo mác”. Việc nhắc lại sự kiện xảy ra trước 1965 có ý nghĩa cảnh tỉnh và vạch ra con đường duy nhất: phải cầm vũ khí để chống lại đội quân viễn chinh của Mỹ. Rừng xà nu là bản anh hùng ca mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh thần thánh chống đế quốc Mĩ. Nhân vật tiêu biểu nhất trong tác phẩm là Tnú.

“Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là một kiệt tác văn chương thời chống Mỹ in đậm khuynh hướng sử thi hào hùng. Trong thế trận chiến tranh nhân dân thần kì của làng Xô Man, nhân vật Tnú mang tầm vóc một dũng sĩ phi thường đã để lại trong lòng ta nhiều rung cảm và ngưỡng mộ.

Là một trong những nhà văn nổi bật trong nền văn học Việt nam qua thể loại truyện ngắn, Nguyễn Trung Thành đã mang tới độc giả những hình ảnh hùng vĩ, oai hùng nhất cả về khung cảnh và con người vùng đất Tây Nguyên qua tác phẩm Rừng Xà nu. Tác phẩm đã xây dựng thành công hình ảnh của những cây xà nu “luôn hướng về phía ánh sáng” tựa như con người của Tnú. Tnú được xem là hình ảnh người con tiêu biểu của nhân dân Tây Nguyên luôn kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Tác phẩm Rừng xà nu thành lập trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt năm 1965. Tác phẩm tựa bản anh hùng ca đậm màu sắc sử thi về con người Tây Nguyên trong kháng chiến. Nguyễn Trung Thành đã dựng lên một vài hình tượng nhân vật điển hình cho các lớp thế hệ dân làng Xô Man. Trong đó, hình tượng nhân vật Tnú là tiêu biểu và được tác nhái xây dựng rất thành công.

Khi đất nước lâm nguy, làng mạc hoang tàn, nhà cửa đổ nát thì đâu đó lại xuất hiện những anh hùng vùng lên chống giặc. Không một ai có thể nhìn giặc tràn đến phá quê hương, cướp lãnh thổ mà ngồi yên được. Lòng căm thù giặc đã thấm vào tận xương tủy của con người Việt Nam ta, chỉ chờ khi có cơ hội làn sóng yêu nước ấy lại nổi lên, quyết tâm đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, giữ từng tấc đất, từng đồng lúa mùa ngô. Và trong những năm tháng đất nước khó khăn như thế ở vùng Tây Nguyên lại xuất hiện những con người gan dạ, kiên cường, mang tình yêu quê hương đất nước sâu sắc, ta có thể thấy rõ qua nhân vật Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

Tây Nguyên – mảnh đất hùng vĩ và thơ mộng, với những con người nồng hậu yêu thương mà kiên cường bất khuất, từ lâu đã là nguồn cảm hứng cho biết bao văn nhân nghệ sĩ. Mỗi người đều tìm thấy ở mảnh đất này một biểu tượng đẹp cho tâm hồn cất cánh, ngòi bút thăng hoa. Ngọc Anh có Bóng cây Kơ nia như nỗi lòng thổn thức thiết tha của tình yêu thủy chung son sắt, Thu Bồn có Bài ca chim Chơ-rao, ngân vang khúc hát trong trẻo nồng đượm tình người chiến thắng… Còn Nguyễn Trung Thành lại đem đến cho ta hình tượng những Rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời như sức sống bền và bất diệt của nhân dân Tây Nguyên trong công cuộc chống Mỹ cứu nước

“Rừng xà nu” là truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành , tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam thời kì 1945-1975. Chủ đề của tác phẩm được bộc lộ sâu sắc do ý nghĩa khái quát và giàu chất lãng mạn, tạo hình của hình tượng cây xà nu.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn của Tây Nguyên, ông viết rất hay, sâu sắc và chân thực về con người và mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ. Truyện ngắn “Rừng xà nu” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn TRung Thành khi ca ngợi về Tây Nguyên đậm chất sử thi. Đặc biệt tác giả đã xây dựng thành công hình tượng cây xà nu mang đậm bản chất, chí khí cho con người sống trên mảnh đất này.

“Rừng xà nu” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành và của văn học thời chống Mĩ. Trong tác phẩm, với hình tượng cây xà nu, Nguyễn Trung Thành đã làm nổi rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, một đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975. Khuynh hướng này đã chi phối sự sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn trong giai đoạn văn học này.

Tây Nguyên, vùng núi rừng hùng vĩ, đầy bí ẩn mà thơ mộng với cánh chim Ling, chim Chơ rao rực rỡ sắc màu, với âm thanh trầm hùng ngân vang của đàn Gông, đàn Tơ Rưng đã đi vào “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc để làm nên cái không khí sử thi của tiểu thuyết thời chống Pháp. Đến thời chống Mỹ, mảnh đất cực Tây của Tổ quốc này lại một lần nữa khơi nguồn cảm hứng lãng mạn cho Nguyễn Trung Thành viết nên truyện ngắn “Rừng Xà nu” – một truyện ngắn xuất sắc của nền văn học hiện đại về đề tài chiến tranh Cách mạng, ra đời 1965.

Truyện ngắn Rừng xà nu được tác giả sáng tác vào khoảng giữa năm 1965, khi cuộc đối đầu giữa nhân dân miền Nam với bè lũ Mĩ – ngụy đã bước vào giai đoạn gay go, ác liệt. Tác giả đã khéo léo lồng ghép nỗi đau mất mát vợ con của Tnú vào nỗi đau chung của dân làng. Họ đau đớn vì mất nước, mất đi sự tự do của chính mình và đó cũng chính là ngòi nổ châm lửa cho phong trào đấu tranh của người dân làng Xô man bùng cháy. Sự khắc nghiệt của chiến tranh như thứ lửa thử vàng để thử phẩm chất của con người Tây Nguyên. Càng khó khăn, càng gian khổ họ càng kiên cường, bất khuất.

Theo tâm sự của nhà văn Nguyễn Trung Thành, điều để lại cho ông ấn tượng sâu đậm nhất khi đặt chân đến mảnh đất Tây Nguyên chính là hình ảnh những rừng xà nu bạt ngàn. Với tình yêu đặc biệt với loài cây này, ông đã lấy nó đặt nhan đề cho tác phẩm nổi tiếng của mình “Rừng xà nu”. Và vượt lên trên ý nghĩa về vẻ đẹp tự nhiên, thì rừng xà nu đã trở thành hình tượng trung tâm, chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên. Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người con trung dũng, kiên cường.

Tây Nguyên là mảnh đất của văn hóa cồng chiêng và những pho sử thi đồ sộ. Chính mảnh đất này đã thổi hồn vào những trang viết của Nguyễn Trung Thành và để lại nhiều dấu ấn qua “Rừng xà nu”, “Đất nước đứng lên”… Truyện ngắn “Rừng xà nu” ra đời vào mùa hè 1965 giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang đến hồi ác liệt. Tác phẩm để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc bởi hình tượng cây xà nu – tiêu biểu cho thiên nhiên và con người Tây Nguyên kiêu hùng, bất khuất.

Trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nếu được hỏi nhân vật nào là một chứng nhân lịch sử đi cùng những biến cố thời đại và con người của dân làng Xô Man thì có lẽ câu trả lời chính là cụ Mết. Dù không xuất hiện nhiều hay được miêu tả nhiều trong câu chuyện tuy nhiên cụ Mết lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc đời của Tnú, của quá trình đấu tranh của dân làng Xô Man.

“Rừng xà nu” là tác phẩm mang đậm màu sắc sử thi khi tái hiện đầy chân thực khí phách, tinh thần anh hùng của những con người Tây Nguyên anh hùng. Bên cạnh nhân vật Tnú, sự xuất hiện của cụ Mết góp phần làm cho chất sử thi thêm đậm nét.

Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược đã có rất nhiều những truyện ngắn được ra đời, các tác phẩm thông qua những hình ảnh, nhân vật mà tái hiện lại một thời kỳ chiến tranh ác liệt. Tiêu biểu cho các tác phẩm viết về giai đoạn này đó là tác phẩm Rừng xà nu (1965) được in trong tập trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, tác phẩm là sự ghi dấu về hiện thực của nhân dân đồng bào Tây Nguyên anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mỹ, cuộc chiến không chỉ là của riêng thế hệ trẻ dân làng Xô-man Tnú, Dít, Mai, bé Heeng… Mà còn là sự lãnh đạo của người đứng đầu làng là Cụ Mết. Một biểu tượng chung cho sức mạnh và sự bền bỉ trong chiến tranh của làng Xô-man.

Nếu như trong tác phẩm “Người lái đò” của nhà văn Nguyễn Tuân đã vẽ nên một nhân vật ông lái đò dũng cảm, hiên ngang chiến đấu với sức mạnh của thiên nhiên, thì cụ Mết của tác giả Nguyễn Trung Thành trong tác phẩm Rừng xà nu được nổi bật lên bởi sự vững chắc, rắn rỏi được tạc nên bởi núi rừng Tây Nguyên.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại. Tác phẩm của ông gắn liền với con người và vùng đất Tây Nguyên. “Rừng Xà nu” là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông viết về con người và vùng đất Tây Nguyên được sáng tác vào năm 1965 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Qua truyện ngắn ta thấy được sự anh hùng quả cảm của người dân Tây Nguyên. Cụ Mết là trưởng bản của dân làng Xôman. Tuy không xuất hiện ở đầu tác phẩm nhưng mỗi lần xuất hiện đều toát lên vẻ oai hùng, sự quả cảm của người cầm đầu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Mỗi mảnh đất trong cuộc kháng chiến của dân tộc đều gắn liền với hình ảnh riêng của mỗi nhà văn. Nếu như nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với mảnh đất miền Nam ruột thịt, thì Tây Nguyên là nơi ghi dấu nhiều kỉ niệm, nhiều hình ảnh đẹp trong ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Tiêu biểu cho các sáng tác đó là tác phẩm Rừng xà nu(1965) được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, tác phẩm là sự ghi dấu về hiện thực của nhân dân đồng bào Tây Nguyên anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mĩ, cuộc chiến không chỉ là của riêng thế hệ trẻ dân làng Xô-man Tnú, Rít, Mai, bé Heng… Mà còn là sự lãnh đạo của người đứng đầu làng là Cụ Mết. Một hình tượng của cây xà nu đại thụ – một biểu tượng chung cho sức mạnh và sự bền bỉ trong chiến tranh và là biểu tượng linh hồn riêng của làng Xô-man.

Nguyễn Trung Thành là một nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại, cách mạng của dân tộc Việt Nam. Những tác phẩm của Nguyễn Trung Thành thường gắn liền với những số phận người con vùng Tây Nguyên. Những người dân chất phác, hiền hậu, nhưng vô cùng anh dũng, kiên cường, luôn một lòng một dạ hướng về sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, căm thù cái ác, căm thù giặc sâu sắc. Trong tác phẩm “Rừng xà nu” bên cạnh những nhân vật anh hùng như Tnú, Mai, là những người đại diện cho lớp trẻ, kiên cường, bất khuất, như những cây xà nu non tới lúc trưởng thành. Thì nhân vật cụ Mết lại là hình ảnh đại diện của cây xà nu cao lớn trường thành, vững trãi, đã trải qua những thời kỳ giông bão, để trở nên hiên ngang, không gì có thể lung lay được.

Truyện ngắn Rừng xà nu là câu chuyện kể về cuộc đời của nhân vật Tnú, tiêu biểu cho số phận và con đường đến với cách mạng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong thời kì chống Mĩ cứu nước, giải phóng miền Nam. Tính cách nổi bật của Tnú đã được bộc lộ ngay từ lúc còn nhỏ gan góc và táo bạo dũng cảm và chất phác ; đặc biệt là sự gắn bó và trung thành tuyệt đối với Ií tưởng cách mạng. Hình ảnh đôi bàn tay thể hiện cuộc đời giản dị và tính cách anh hùng của nhân vật Tnú – người con và niềm tự hào của dân làng Xô Man kiên cường, bất khuất.

Tôi đã dừng lại thật lâu bên tác phẩm “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành). Ở tác phẩm ấy, cùng với hình tượng cây xà nu, tôi ấn tượng nhất trước hình ảnh đôi bàn tay Tnú như điểm sáng, là biểu tượng cho ý chí căm thù giặc và tinh thần cách mạng vô song.

Tây Nguyên từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật. mỗi người đều tìm thấy ở mảnh đất này những biểu tượng đẹp để tâm hồn mình cất cánh, ngòi bút mình thăng hoa. Ngọc Anh có bóng cây Kơ- Nia, Thu Bồn có cánh chim Chơ- Rao. Nguyễn Trung Thành mang đến cho chúng ta tác phẩm cây xà nu để chúng ta thấy được thêm những nét đẹp tây nguyên mà cụ thể ở đây chính là nét đẹp thiên nhiên và con người. Nổi bật cho những phẩm chất nhân vật Tnú và tiêu biểu cho hình ảnh Tnú phải kể đến hình ảnh đôi bàn tay. Có thẻ nó chi tiết, hình ảnh đôi bàn tay của Tnú mang đến những ấn tượng rất lớn trong lòng người đọc. Đặc biệt nó mang đậm ý đồ nghệ thuật mà tác giả muốn gửi gắm qua đó.

Hẳn khi nhắc đến mảnh đất Tây Nguyên ta không chỉ nhớ đến những cánh chim chao liệng trên bầu trời, những bài hát ca ngợi núi rừng mà ta còn nhớ đến cả nền văn học dành cho nơi đây nữa. Tây Nguyên dường như có một sức hút cho nghệ thuật chính vì thế mà không ít nhà văn đã tìm đến mảnh đất này để sáng tác nghệ thuật. Nhưng tiêu biểu hơn cả chúng ta nhớ đến nhà văn Nguyễn Trung Thành với tác phẩm rừng xà nu. Trong tác phẩm ấy hẳn ta vẫn ấn tượng với hình ảnh đôi bàn tay Tnú cùng với cây xa nu. Những hình ảnh ấy mang đậm những giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

“Rừng xà nu” một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Trung Thành. Trong tác phẩm có rất nhiều chi tiết mà nhà văn xây dựng gây ấn tượng mạnh mẽ tới người đọc. Đặc biệt chi tiết bàn tay Tnú mà Nguyễn Trung Thành khắc họa lại có sức lay động mạnh mẽ đến bạn đọc. Bàn tay Tnú xuất hiện xuyên suốt tác phẩm, gắn liền với cuộc đời bi tráng của anh. Đây cũng là một chi tiết được Nguyễn Trung Thành dụng công xây dựng và có ý nghĩa sâu sắc.

“Rừng xà nu” là một truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Trung Thành viết về đất và người Tây Nguyên hùng vĩ. Đây cũng là một tác phẩm mang đậm nét tính sử thi của văn học Việt Nam 1945 – 1975. Sử thi (hay trường ca) là một thể loại văn tự sự (có thể là văn vần hoặc văn xuôi) có quy mô hoành tráng, nội dung thường miêu tả và ca ngợi những chiến công, những sự kiện mang tính chất toàn thẻ cộng đồng, ngợi ca những vị anh hùng bộ tộc có sức mạnh thần kỳ, tiêu biểu cho phẩm chất và ước vọng của cả cộng đồng đó.

Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu. Ông vốn là nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông là ngòi bút gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên, có nhiều thành tựu nhất khi viết về Tây Nguyên. Truyện ngắn Rừng xà nu là tác phẩm đặc sắc của ông trong kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm mang đậm chất sử thi, viết về những vấn đề trọng đại của dân tộc; nhân vật trung tâm mang những phẩm chất chung tiêu biểu cho cộng đồng; giọng điệu ngợi ca, trang trọng, hào hùng.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn của núi rừng Tây Nguyên, những trang viết của ông đậm chất Tây Nguyên, là tiếng nói, là nỗi lòng của người dân nơi đây. Truyện ngắn “Rừng xà nu” là tình cảm, tấm lòng của tác giả đối với thiên nhiên và con người Tây Nguyên. Cái làm nên sự khác biệt và thành công của tác phẩm này nằm ở tính sử thi rõ nét, không thể lẫn lộn được.

Một tác phẩm tiêu biểu có thể minh hoạ cho sự tồn tại của “nền văn học sử thi” trong văn học Việt Nam 1945 – 1975, tiêu biểu là “Rừng Xà Nu” của Nguyễn Trung Thành. Là một truyện ngắn mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn đã trở thành một phần tất yếu của nó.

Nguyễn Trung Thành là một cây bút nổi bật trong nền văn học Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Mỹ với khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng. Quãng thời gian gần chục năm sống và chiến đấu nhiều năm trên chiến trường Tây Nguyên đầy máu và lửa, đã để lại trong ký ức nhà văn nhiều ấn tượng sâu sắc. Đặc biệt sự gắn bó với mảnh đất của rừng xà nu bạt ngàn, cùng với những người anh hùng nơi đây, đã trở thành tư liệu quý giá, là nguồn cảm hứng sáng tác bất tận cho Nguyễn Trung Thành, giúp ông tạo ra nhiều tác phẩm văn chương để đời, trong đó nổi bật nhất là Rừng xà nu với những con người mang dòng máu, phẩm chất anh hùng trong kháng chiến.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn quân đội, quê ở Quảng Nam. Năm 1950, đang học bậc trung học phổ thông, ông gia nhập quân đội và lên hoạt động ở chiến trường chính của Liên khu V (Tây Nguyên). Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông làm phóng viên báo Quân nhân dân Liên khu V và lấy bút danh Nguyên Ngọc. Trong cả hai cuộc kháng chiến, ông gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên. Đó cũng chính là lý do dẫn đến thành công của tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên và truyện ngắn Rừng xà nu (Giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu, 1965). Đặc biệt, ở truyện ngắn Rừng xà nu, nhà văn thể hiện rất thành công phẩm chất anh hùng của các nhân vật như cụ Mết, anh Quyết, Tnú, Mai, Dít, bé Heng…

Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành đã tái hiện một giai đoạn đấu tranh của cách mạng Miền Nam rất quyết liệt trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Trong khuôn khổ của một truyện ngắn tác giả đã khái quát được tinh thần của thời đại một cách thật ấn tượng. Rừng xà nu là truyện của một thời đại được kể trong một đêm, nói đến rừng xà nu trước hết phải nói đến những phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong truyện.

“Cách mạng tháng Tám” là đề tài mà rất nhiều nhà văn, nhà thơ khai thác. Đã có rất nhiều tác phẩm đặc sắc và có giá trị cho đến ngày nay được sinh ra trong thời kỳ máu lửa này.Văn xuôi thời kỳ này cũng là một chùm về anh hùng cách mạng. Nếu như có ‘Vợ nhặt’ -Kim Lân, có ‘Vợ chồng A Phủ’ – Tô Hoài với giá trị nhân đạo được soi sáng bởi lý tưởng của cuộc cách mạng lịch sử thì không thể không kể đến bản anh hùng ca của Nguyễn Trung Thành – ‘Rừng xà nu’.

Rừng xà nu là truyện ngắn đã xây dựng thành công hình tượng một tập thể hùng. Tất cả họ đều giống nhau ở những phẩm chất cơ bản: gan dạ, trung thực, một lòng một dạ đi theo cách mạng. Anh Quyết, cụ Mết, anh Tnú, chị Mai, cô Dít, bé Heng đều có những nét chung: họ đều là những con người Tây Nguyên bất khuất thời chống Mỹ, ở họ đều cháy lên lòng yêu nước thương buôn làng, lòng hận thù quân giặc. Đều anh hùng bất khuất nhưng mỗi người lại anh hùng theo một cách riêng.

Nguyễn Trung Thành có những gắn bó sâu nặng với vùng đất Tây Nguyên, trong những tác phẩm của ông, ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh đầy chân thực, sinh động về con người và vùng đất Tây Nguyên đại ngàn. Rừng xà nu là tác phẩm như vậy, thông qua truyện ngắn này, Nguyễn Trung Thành đã tái hiện lại không khí dữ dội nhưng đầy hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ, đồng thời xây dựng lên những tượng đài người anh hùng, người con của rừng núi như cụ Mết, Tnú, Dít.

Mảnh đất Tây Nguyên hiện lên với những tiếng đàn T’rưng vang vang và những cánh chim Chơ rao chao liệng dưới bầu trời. Một lần nữa Tây Nguyên lại hiện ra với hình ảnh của rừng xà nu và những con người làng Xô Man qua tác phẩm rừng xà nu của nguyễn Trung Thành. Trong truyện, các nhân vật đều hiện với những phẩm chất tốt đẹp của con người Tây Nguyên nói riêng và của người Việt Nam nói chung.

Về các tác phẩm Đất nước đứng lên và Rừng xà nu, sách Văn học 12, tập Một, đã nhận định rằng: “Có thể coi đây là những bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, là bức tranh chân thực sinh động về hai cuộc chiến tranh nhân dân chống Pháp và chống Mĩ”. Tác giả Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) thật sự đã khắc họa được những nhân vật anh hùng gắn bó thành một tập thể anh hùng vừa mang dấu ấn của thời đại, vừa đậm đà dáng nét Tây Nguyên. Ta hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng các nhân vật nổi bật lên trong bối anh hùng vĩ của Rừng xà nu: Tnú, cụ Mết, Dít và bé Heng.

“Tây Nguyên Ơi, cây rừng bao nhiêu lá…có hoa nào đẹp nhất rừng…”Ai đã từng lắng nghe tiếng hát ấy trong những tháng ngày sôi sục thời đánh Mỹ!Ai đã từng biết đến hoa Pơlang – loài hoa tươi đẹp nhất của núi rừng Tây Nguyên có hàng ngàn cánh, nở tươi thơm mát đến hàng vạn năm đã được nói đến trong sử thi Đăm Săn! Tiếng hát ấy, loài hoa ấy còn đem đến cho ta bao xúc động,bồi hồi khi nghĩ tới những phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- một kiệt tác được sáng tác vào năm 1965, viết về các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đau thương mà kiên cường, bất khuất thời đánh Mỹ.

Mỗi nhà văn thường có một vùng đất riêng. Với Nguyễn Trung Thành, đó là Tây Nguyên. Ta đã gặp một anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên thời chống Pháp, giờ đây ta lại đến với các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít trong Rừng xà nu thời chống Mĩ. Họ đều là những người con kiên cường bất khuất của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ nhưng mỗi người lại mang những nét riêng, những vẻ đẹp riêng khó quên.

Tây Nguyên – mảnh đất hùng vĩ và thơ mộng, với những con người nồng hậu yêu thương mà kiên cường bất khuất, từ lâu đã là nguồn cảm hứng cho biết bao văn nhân nghệ sĩ. Mỗi người đều tìm thấy ở mảnh đất này một biểu tượng đẹp cho tâm hồn cất cánh, ngòi bút thăng hoa. Ngọc Anh có Bóng cây Kơnia như nỗi lòng thổn thức thiết tha của tình yêu thủy chung son sắt, Thu Bồn có Bài ca chim Chơ-rao, ngân vang khúc hát trong trẻo nồng đượm tình người chiến thắng… Còn Nguyễn Trung Thành lại đem đến cho ta hình tượng những Rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời như sức sống bền và bất diệt của nhân dân Tây Nguyên trong công cuộc chống Mỹ cứu nước.

Nói về các tác phẩm: Đất nước đứng lên và Rừng xà nu, có nhà nghiên cứu văn học đã nhận định rằng: Có thể coi đây là những bản anh hùng ca mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên , nói rộng ra là về hai cuộc chiến tranh nhân dân kì diệu của dân tộc ta. Tác giả Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) thật sự đã khắc họa được những nhân vật anh hùng gắn bó thành một tập thể anh hùng vừa mang dấu ấn của thời đại, vừa đậm đà dáng nét Tây Nguyên.

Văn Mẫu Lớp 6: Phân Tích Tác Phẩm Chuyện Cổ Tích Về Loài Người Dàn Ý & 5 Bài Văn Mẫu Lớp 6

Phân tích bài thơ Chuyện cổ tích về loài người

Hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp Bài văn mẫu lớp 6: Phân tích tác phẩm Chuyện cổ tích về loài người, bao gồm dàn ý và 5 đoạn văn mẫu. Mời tham khảo nội dung chi tiết ngay sau đây.

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh, tác phẩm Chuyện cổ tích về loài người.

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chuyện cổ tích về loài người.

II. Thân bài

1. Sự ra đời của loài người

– Sinh ra trước nhất: toàn là trẻ con

– Khung cảnh thuở sơ khai:

Không dáng cây ngọn cỏ.

Chưa có mặt trời, toàn là bóng đêm.

Không có màu sắc khác.

2. Sự ra đời của thiên nhiên

Mặt trời: giúp trẻ con nhìn rõ.

Cây, cỏ, hoa: giúp trẻ con nhận rõ màu sắc, kích thước.

Tiếng chim, làn gió: giúp trẻ con cảm nhận được âm thanh.

Sông: giúp trẻ con có nước để tắm

Biển: giúp trẻ con suy nghĩ, cung cấp thực phẩm và là nơi tìm hiểu, khám phá.

Đám mây: đem đến bóng mát.

Con đường: giúp trẻ con tập đi.

3. Sự ra đời của gia đình

Mẹ: mang đến tình yêu thương và lời ru, sự chăm sóc.

Bà: mang đến những câu chuyện cổ tích, dạy dỗ những giá trị văn hóa tốt đẹp.

Bố: dạy dỗ những kiến thức, giúp trẻ em hiểu biết.

4. Sự ra đời của xã hội

Chữ viết, bàn ghế, cục phấn, cái bảng, trường học… đều là những đồ dùng học tập của con người.

Thầy giáo, cô giáo là người dạy dỗ, cung cấp kiến thức.

III. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chuyện cổ tích của loài người.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ hường viết về những tình cảm gần gũi, bình dị, trong sáng của đời sống gia đình và cuộc sống hàng ngày. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của chị là bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”.

Để lý giải về nguồn gốc của loài người cho trẻ em thật khóa. Nhưng Xuân Quỳnh lại có cách giải thích đầy khéo léo, mà hài hước. Ở khổ thơ đầu, nhà thơ đã lí giải sự ra đời của loài người:

Trái đất lúc này vẫn còn trần trụi, không có dáng cây hay ngọn cỏ. Ngay đến cả mặt trời để sưởi ấm muôn loài cũng chưa xuất hiện. Trái đất chỉ toàn một màu đen, không hề có bất cứ một sắc màu khác. Và mọi vật sinh ra trên đời đều vì trẻ em. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy gì, vì vậy mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Màu xanh của cây cỏ, màu đỏ bông hoa giúp trẻ con nhận biết màu sắc. Cây cối, lá cỏ đã giúp trẻ con cảm nhận về kích thước. Còn tiếng chim hót, tiếng gió thổi cho trẻ con cảm nhận âm thanh. Dòng sông ra đời giúp trẻ con có nước để tắm. Biển xuất hiện để trẻ con suy nghĩ, cung cấp thực phẩm và là nơi tìm hiểu, khám phá. Khi trẻ con bắt đầu chập chững những bước đi đầu tiên, cũng là lúc con đường xuất hiện.

Nhưng trẻ con vẫn còn cần có tình yêu thương, vì thế mà người mẹ đã xuất hiện:

Đoạn thơ được mở đầu với sự có mặt của người mẹ trong thế giới. Lý do mẹ có mặt trên đời thật đơn giản nhưng vô cùng ý nghĩa. Trẻ con cần có bàn tay dịu dàng chăm sóc, lời hát ru ngọt ngào của người mẹ. Bởi vậy mà mẹ xuất hiện để đem đến tình yêu thương bao la. Những câu thơ được mở đầu bằng chữ “từ” nhằm khẳng định nguồn gốc ra đời của lời ru. Lời ru được sinh ra từ những thứ thật giản dị, dễ tìm và dễ thấy. “ Từ cái bống, cái bang, từ bông hoa rất thơm, từ vị gừng rất đắng, từ vết lấm chưa khô, từ đầu nguồn cơn mưa, từ bãi sông cát vắng…”. Tất cả những điều đó đều ở xung quanh trẻ em, gần gũi và quen thuộc. Trong lời ru đó đã gửi gắm âm thanh, mùi vị, hương sắc, hình dáng… của thiên nhiên để con trẻ cảm nhận. Lời ru cũng như tình yêu của mẹ đều có nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, tự nhiên như trời đất vốn có. Tình yêu của mẹ cũng lớn lao, mênh mông như thế và được gửi gắm vào trong những lời hát ru.

Tiếp đến, Xuân Quỳnh đã lý giải sự xuất hiện của bà. Bà chính là người đem đến cho trẻ con:

Chắc hẳn tuổi thơ của mỗi người đều sẽ in đậm hình ảnh người bà nhân hậu với những truyện cổ tích quen thuộc như: con cóc, nàng tiên; chuyện cô Tấm ở hiền; thằng Lý Thông ở ác… Qua những câu chuyện đó, điều mà bà muốn gửi gắm đó chính là cội nguồn và văn hóa của dân tộc, hướng đến cách sống hiền lành, lương thiện.

Có mẹ đem đến tình thương, có bà dạy dỗ đạo đức, trẻ em còn cần có bố. Bố đã dạy cho trẻ em những hiểu biết của loài người. Nhờ “bố bảo”, “bố dạy” mà trẻ em “ biết ngoan”, “biết nghĩ”. Con người mở rộng tầm hiểu biết, ngày một khám phá mọi sự vật, mọi hiện tượng xung quanh:

Khi cuộc sống ngày càng phát triển, con người được học hành. Trường học được mở ra để dạy trẻ em học, thầy cô giáo chính là người cung cấp kiến thức, dạy dỗ trẻ em nên người. Lớp, trường, bàn, ghế, cái bảng, cục phấn, chữ viết, ông thầy.. là những biểu tượng thể hiện sự thay đổi kỳ diệu cuộc sống loài người trên trái đất ngày một văn minh. Dưới ánh sáng mặt trời, loài người được sống trong ánh sáng của khoa học, của giáo dục, ánh sáng của văn minh:

Như vậy, bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” đã đem đến một cách lý giải độc đáo về nguồn gốc của loài người. Qua đó, Xuân Quỳnh muốn bộc lộ lòng yêu thương trẻ em sâu sắc.

“Chuyện cổ tích về loài người” là một trong những bài thơ hay của Xuân Quỳnh. Với bài thơ này, Xuân Quỳnh đã lí giải cho người đọc về nguồn gốc của loài người một cách độc đáo mà thú vị.

Khi trái đất vẫn còn trần trụi, không có một dáng cây hay ngọn cỏ. Ánh sáng của mặt trời cũng chưa xuất hiện, chỉ toàn là bóng đêm. Trời đã sinh ra trẻ em đầu tiên – đây chính là cách lý giải nguồn gốc có phần trái ngược với thực tế, nhưng được xuất phát từ tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ dành cho con trẻ.

Mọi vật trên trái đất xuất hiện đều vì trẻ em. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy gì, vì vậy mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Để giúp trẻ con nhận biết màu sắc thì cây mới có màu xanh, hoa mới có màu đỏ. Không chỉ màu sắc mà còn có âm thanh được trẻ con cảm nhận khi loài chim được sinh ra với tiếng hót. Dòng sông, biển cả, đám mây, con đường ra đời cũng là để phục vụ cuộc sống của trẻ con. Mọi sự vật của tự nhiên đều được ra đời nhờ có trẻ em.

Tiếp đến, Xuân Quỳnh lí giải nguồn gốc ra đời của gia đình, đầu tiên là sự xuất hiện của mẹ:

Đoạn thơ được mở đầu với sự có mặt của người mẹ trong thế giới. Lý do mẹ có mặt trên đời thật đơn giản nhưng vô cùng ý nghĩa. Trẻ con cần có bàn tay dịu dàng chăm sóc, lời hát ru ngọt ngào của người mẹ. Bởi vậy mà mẹ xuất hiện để đem đến tình yêu thương bao la. Những câu thơ được mở đầu bằng chữ “từ” nhằm khẳng định nguồn gốc ra đời của lời ru. Lời ru được sinh ra từ những thứ thật giản dị, dễ tìm và dễ thấy. “ Từ cái bống, cái bang, từ bông hoa rất thơm, từ vị gừng rất đắng, từ vết lấm chưa khô, từ đầu nguồn cơn mưa, từ bãi sông cát vắng…”. Tất cả những điều đó đều ở xung quanh trẻ em, gần gũi và quen thuộc. Trong lời ru đó đã gửi gắm âm thanh, mùi vị, hương sắc, hình dáng… của thiên nhiên để con trẻ cảm nhận. Lời ru cũng như tình yêu của mẹ đều có nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, tự nhiên như trời đất vốn có. Tình yêu của mẹ cũng lớn lao, mênh mông như thế và được gửi gắm vào trong những lời hát ru.

Sau đó, người bà đã đến với thế giới để giúp trẻ con hiểu hơn về những nét đẹp của đất nước, văn hóa:

Chắc hẳn tuổi thơ của mỗi người đều sẽ in đậm hình ảnh người bà nhân hậu với những truyện cổ tích quen thuộc như: con cóc, nàng tiên; chuyện cô Tấm ở hiền; thằng Lý Thông ở ác… Qua những câu chuyện đó, điều mà bà muốn gửi gắm đó chính là cội nguồn và văn hóa của dân tộc, hướng đến cách sống hiền lành, lương thiện.

Nhưng trẻ con cũng cần phải có hiểu biết, bởi vậy mà người bố đã ra đời:

Nhờ “bố bảo”, “bố dạy” mà trẻ em “ biết ngoan”, “biết nghĩ”. Con người mở rộng tầm hiểu biết, ngày một khám phá mọi sự vật, mọi hiện tượng xung quanh. Không chỉ vậy, khi cuộc sống ngày càng phát triển, trường học đã ra đời. Đó chính là biểu hiện của một xã hội văn minh. Lớp, trường, bàn, ghế, cái bảng, cục phấn, chữ viết, ông thầy.. là những biểu tượng thể hiện sự thay đổi kỳ diệu cuộc sống loài người trên trái đất ngày một văn minh.

Với “Chuyện cổ tích về loài người”, Xuân Quỳnh đã bộc lộ tình yêu thương sâu sắc dành cho trẻ em. Đồng thời gửi gắm thông điệp rằng hãy chăm sóc và nâng niu trẻ em.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ viết nhiều cho thiếu nhi. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của chị dành là bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”.

Mở đầu, nhà thơ đã hình dung được cuộc sống trên trái đất khi mới có loài người “chỉ toàn là trẻ con”. Trái đất vẫn còn hoang sơ “trụi trần”, chưa có màu xanh, “không dáng cây ngọn cỏ”:

Đó là khi trái đất vẫn còn trần trụi, không có một dáng cây hay ngọn cỏ. Ánh sáng của mặt trời cũng chưa xuất hiện, chỉ toàn là bóng đêm. Trời đã sinh ra trẻ em đầu tiên – đây chính là cách lý giải nguồn gốc có phần trái ngược với thực tế. Sau đó, tác giả lại lí giải cho người đọc về sự ra đời của mọi vật. Tất cả bắt nguồn từ trẻ em. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy gì, vì vậy mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Để giúp trẻ con nhận biết màu sắc thì cây mới có màu xanh, hoa mới có màu đỏ. Không chỉ màu sắc mà còn có âm thanh được trẻ con cảm nhận khi loài chim được sinh ra với tiếng hót. Dòng sông, biển cả, đám mây, con đường ra đời cũng là để phục vụ cuộc sống của trẻ con. Qua việc lí giải này, người đọc thấy được tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ dành cho trẻ em.

Tiếp đến, tác giả đã lí giải sự ra đời của người mẹ trong mối liên hệ với trẻ em:

Tình mẫu tử vốn là thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cuộc sống. Người mẹ đã dành cho trẻ con sự chăm sóc từ khi mới sinh ra, cho đến khi lớn lên, trưởng thành. Người mẹ nâng niu con trong bàn tay, chăm sóc con từ cái ăn đến giấc ngủ với lời ru, tiếng hát. Những lời ru đã mở ra cho trẻ con những hiểu biết về thế giới xung quanh. Tác giả đã liệt kê ra các hình ảnh, màu sắc, hương vị xuất hiện từ lời ru của mẹ. Chỉ bằng những câu thơ ngắn gọn, Xuân Quỳnh đã giúp cho người đọc hiểu được ý nghĩa của người mẹ đối với trẻ con thật là sâu sắc.

Không chỉ có mẹ, người bà cũng xuất hiện trong thế giới loài người để đem đến cho trẻ con:

Trẻ em cần có thêm hiểu biết. B ố đã xuất hiện và là người giúp trẻ em biết suy nghĩ và ngoan ngoãn hơn. Nhờ sự dạy dỗ của bố mà trẻ em trở nên trưởng thành hơn. Bố còn là người dạy cho trẻ biết khám phá những điều mới mẻ trong cuộc sống: đâu là mặt bể, đâu là con đường, núi như thế nào và trái đất ra sao… Khi đã có nói, rồi có chữ viết, có nền giáo dục. Con người được học hành và cuộc sống con người ngày một văn minh: biết mở trường dạy trẻ em học, biết đào tạo, biết “sinh ra thầy giáo” để dạy dỗ trẻ em.

Tóm lại, bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” là một cách lí giải thú vị về nguồn gốc của con người. Những hình ảnh thơ gần gũi, giọng thơ hóm hỉnh và ngôn ngữ hồn nhiên đã góp phần làm nên thành công của bài thơ.

Chuyện cổ tích về loài người là một trong những bài thơ nổi tiếng của Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi. Bài thơ in đậm phong cách sáng tác của nhà thơ Xuân Quỳnh.

Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh đã lí giải nguồn gốc của loài người một cách độc đáo:

Hình ảnh trái đất lúc này còn chưa có sự sống. Khắp mọi nơi bao trùm bởi một màu đen. Trẻ em được sinh ra đầu tiên. Đôi mắt của trẻ em rất sáng nhưng chưa thể nhìn thấy. Vậy nên mặt trời xuất hiện cho trẻ con nhìn rõ. Màu xanh của cây cỏ, màu đỏ bông hoa giúp trẻ con nhận biết màu sắc. Cây cối, lá cỏ đã giúp trẻ con cảm nhận về kích thước. Tiếng chim hót, tiếng gió thổi cho trẻ con cảm nhận âm thanh. Dòng sông ra đời giúp trẻ con có nước để tắm. Biển xuất hiện để trẻ con suy nghĩ. Con đường hình thành để trẻ con tập đi. Mọi sự vật ra đời để đáp ứng nhu cầu của trẻ con.

Ngay cả những người thân trong gia đình cũng xuất hiện bởi trẻ con cần tình yêu, hiểu biết:

Nhưng trẻ con còn cần phải học hỏi thêm những kiến thức. Vậy là bố đã xuất hiện. Nhờ “bố bảo”, “bố dạy” mà trẻ em “ biết ngoan”, “biết nghĩ”. Con người mở rộng tầm hiểu biết, ngày một khám phá mọi sự vật, mọi hiện tượng xung quanh:

Trẻ con lớn dần lên, và cần biết thêm nhiều kiến thức. Vậy là trường học được mở ra để dạy trẻ em học, thầy cô giáo chính là người cung cấp kiến thức, dạy dỗ trẻ em nên người. Lớp, trường, bàn, ghế, cái bảng, cục phấn, chữ viết, thầy giáo à những biểu tượng thể hiện sự thay đổi kỳ diệu cuộc sống loài người trên trái đất ngày một văn minh.

Advertisement

Với giọng thơ hồn nhiên, Xuân Quỳnh đã đem đến một lí giải thú vị về nguồn gốc loài người. Nhà thơ cũng gửi gắm tình yêu thương sâu sắc dành cho trẻ em của mình.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ có nhiều sáng tác viết cho thiếu nhi. Một trong số đó phải kể đến là “Chuyện cổ tích về loài người”. Bài thơ đã lí giải về nguồn gốc của loài người một cách rất thú vị:

“Chuyện cổ tích về loài người” được viết theo hình thức một bài thơ, nhưng lại giàu tính tự sự, giống như một câu chuyện được kể lại về nguồn gốc loài người. Đó là khi trái đất vẫn còn trần trụi, không có một dáng cây hay ngọn cỏ. Ánh sáng của mặt trời cũng chưa xuất hiện, chỉ toàn là bóng đêm. Không khí có duy nhất một màu đen, những màu sắc khác chưa xuất hiện. Trời đã sinh ra trẻ em đầu tiên – đây chính là cách lý giải nguồn gốc có phần trái ngược với thực tế. Nhưng qua việc lí giải này, người đọc thấy được sự quan tâm, cũng như tình yêu thương dành cho trẻ con của Xuân Quỳnh.

Và rồi, mọi vật xuất hiện để đáp ứng những nhu cầu của trẻ con. Đôi mắt của trẻ con rất sáng nhưng chưa thấy gì. Bởi vậy, mặt trời đã nhô cao, chiếu sáng vạn bật để có thể giúp trẻ con nhìn rõ. Cây, cỏ ra đời giúp trẻ con có thể phân biệt được màu sắc. Chim chóc ra đời giúp trẻ con cảm nhận được âm thanh. Dòng sông, đám mây, biển cả giúp trẻ con biết cảm nhận về giá trị cuộc sống. Còn con đường xuất hiện là giúp trẻ con tập đi…

Không chỉ vậy, trẻ em cũng cần có tình yêu thương. Bởi vậy mà những người thân như bà, mẹ, bố đã xuất hiện:

Trước tiên là mẹ, đó là người quan trọng nhất đối với trẻ con. Mẹ đã nuôi lớn, chăm sóc và dạy dỗ trẻ con. Lời hát ru ngọt ngào của mẹ đưa trẻ con vào giấc ngủ bình yên. Bàn tay mẹ bồng bé trẻ con, nâng niu với tình yêu thương vô bờ. Trong lời ru đó của mẹ gửi gắm âm thanh, mùi vị, hương sắc, hình dáng của cuộc sống. Tình yêu của mẹ bao la, lớn lao đến vô cùng.

Tiếp đến, trẻ con cũng khao khát được nghe những câu chuyện ngày xửa ngày xưa. Vậy là người bà đã xuất hiện:

Những câu chuyện bà kể giúp trẻ con biết hiểu thêm về truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Những truyện cổ tích về con cóc, nàng tiên; chuyện cô Tấm ở hiền; thằng Lý Thông ở ác… qua giọng kể của bà trở nên hấp dẫn, sinh động hơn. Không chỉ vậy, bà còn gửi gắm cả bài học quý giá về nét đẹp của cội nguồn và văn hóa của dân tộc, hướng trẻ con đến lối sống tốt đẹp hơn.

Trong quá trình trưởng thành, trẻ con sẽ không ngừng học hỏi, khám phá. Bởi vậy mà người bố đã xuất hiện để dạy cho trẻ con nhiều kiến thức thú vị. Bố dạy cho trẻ con “biết ngoan, biết nghĩ” – uốn nắn để trẻ con nên người. Bố còn là kho tàng tri thức, giải đáp cho trẻ con mọi thắc mắc về cuộc sống.

Dù vậy, bố cũng không thể mãi đồng hành cùng trẻ con, vậy là trường học ra đời:

Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Tác Phẩm Số Phận Con Người (Dàn Ý + 7 Mẫu) Số Phận Con Người Của Sô

Dàn ý phân tích Số phận con người

I. Mở bài:

Tác giả Sô-lô-khốp là nhà văn lớn của nước Nga, được coi là nhà văn hàng đầu của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Số phận con người là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của ông, tác phẩm đã cho thấy tính cách kiên cường và lòng nhân ái của con người Nga, nghị lực phi thường của họ để vượt qua những khó khăn.

II. Thân bài:

1. Hoàn cảnh của Xô-cô-lốp

– Là một người đàn ông trải qua nhiều đau khổ trong chiến tranh:

Bị thương hai lần, bị bắt giam 2 năm trong trại tù binh ở Đức.

Sau khi thoát khỏi trại tù binh ở Đức, trở về với hồng quân liên xô, anh lại biết tin vợ và con gái đã mất do bom đạn của bọn phát xít.

Niềm hy vọng duy nhất của anh chính là cậu con trai, nhưng đến ngày hồng quân giành chiến thắng cũng là ngày con trai anh bị một tên thiện xạ Đức giết hại.

– Anh trở nên cô độc sau chiến tranh:

Không còn quê nhà, không còn nhà, không còn người thân và phải sống nhờ nhà người bạn.

Luôn sống trong nỗi thất vọng, cô đơn, luôn như người mất hồn “cặp mắt buồn nguội lạnh lúc nào cũng buồn thê thảm”ngày ngày tìm đến quán rượu, suýt trở thành kẻ nghiện rượu.

– Nhận xét: Xô-cô-lốp là nạn nhân của chiến tranh, chịu nỗi đau cả về thể chất và tinh thần.

2. Cuộc gặp gỡ với bé Va-ni-a và cố gắng vượt qua nỗi đau của Xô-cô-lốp

a. Sự thay đổi của Xô-cô-lốp

– Anh chú ý đến bé Va-ni-a trong những lần gặp tình cờ, qua một số câu hỏi ngẫu nhiên anh biết bé Va-ni-a mồ côi cha me, cha mẹ em đều chết trong bom đạn kẻ thù, em không còn có người thân thích.

– Một lần gặp, anh quyết định nhận nuôi Va-ni-a vì sự cảm thương. Đây là quyết định mang tính bột phát, xuất phát từ tình yêu thương chân thành, không toan tính.

– Khi đưa đứa trẻ về nhà người bạn, hai vợ chồng họ đều rất vui, “bà chủ múc súp… nước mắt ròng ròng”. Giọt nước nước mắt của bà là sự xót thương cho cảnh ngộ của chú bé, của Xô-cô-lốp và cho chính bà.

– Bằng bàn tay vụng về của một người đàn ông, Xô-cô-lốp đã chăm sóc bé Va-ni-a một cách yêu thương, ân cần.

– Từ khi có bé Va-ni-a, anh thấy cuộc sống của mình thực sự có ý nghĩa “trở nên êm dịu hơn”. Chú bé Va-ni-a đã trở thành điểm tựa của anh.

– Thế nhưng, anh vẫn luôn day dứt về nỗi đau mất người thân yêu, cùng với việc anh bị tước bằng lái, Xô-cô-lốp quyết định cùng bé Va-ni-a đến nơi khác sống.

– Nhận xét: Tình yêu thương đã khiến con người trước kia trong anh hồi sinh, anh bắt đầu lại với một cuộc sống mới đầy ý nghĩa, ước mơ. Anh dần thoát khỏi nỗi cô đơn, tuyệt vọng. Anh dùng cách.

– Nêu suy nghĩ về số phận con người: cả Xô-cô-lốp và Va-ni-a đều là những nạn nhân của chiến tranh, nhưng hai con người ấy đã nương tựa vào nhau để cùng vượt qua nỗi đau. “Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước?”, họ còn phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa để tìm thấy hạnh phúc.

III. Kết bài:

Nghệ thuật đặc sắc: kết cấu truyện lồng trong truyện, xây dựng nhân vật điển hình cho tính cách Nga, con người Nga, chi tiết nghệ thuật độc đáo.

Qua số phận của Xô-cô-lốp, tác giả đã tố cáo tội ác của chiến tranh phát xít, phản ánh chân thực cuộc sống của người lính Nga thời hậu chiến từ đó bày tỏ niềm cảm thương trước số phận của họ, đồng thời ngợi ca nghị lực, vẻ đẹp tâm hồn con người Nga.

Phân tích Số phận con người hay nhất – Mẫu 1

Tác phẩm Số phận con người là lời tự sự của nhân vật trung tâm – anh lính hồng quân Xô-cô-lốp, người đàn ông đã chịu bao giông tố khắc nghiệt của cuộc đời đổ ập lên số phận. Đó là cuộc đời gắn liền với một trang sử bi tráng hào hùng của nhân dân Nga, với chế độ Xô-viết đã tạo thành phẩm chất của những con người Nga kiên cường. M.Sôlôkhôp đã dựng lên chân dung một con người Nga bình thường nhất, một người xô viết chân chính. Số phận ấy tiêu biểu cho bao người con ưu tú đã viết nên trang sử thời đại hào hùng của đất nước Liên Xô cũ.

Cuộc sống hiện lên trần trụi như nó vốn có – không khoa trương hào nhoáng, không bi kịch hoá mà cứ đều đều như giọng kể của người đàn ông Nga có cái họ bình thường như bao người Nga: Xô-cô-lốp. Nhưng trong số phận anh có sức nặng của nỗi đau dân tộc Nga qua các thời kỳ khốc liệt nhất. Không tránh né sự thật – đó là phẩm chất hàng đầu của các cây bút Nga – xô viết mà M. Sôlôkhôp chính là một tấm gương. Sự thật đó không phải được kể bằng giọng lạnh lùng thản nhiên mà còn hằn nguyên nỗi đau trong giọng văn thấm thía, trong những ám ảnh kí ức hằn sâu trong tâm trí của người cựu binh xô viết – chính là phản chiếu một mảng hiện thực rộng lớn và xuyên suốt các chặng đường của nhân dân Nga.

Trước hết là kí ức những ngày nội chiến, khi chính quyền xô viết non trẻ phải đối mặt với lũ bạch vệ, thổ phỉ và can thiệp. Người đọc có thể nhận ra những dấu ấn quen thuộc làm nên tên tuổi của M.Sôlôkhôp trong Sông Đông êm đềm. Nạn đói, cuộc sống cùng cực không quật ngã nổi ý chí của người dân xô viết. Xô-cô-lốp từng trải qua cuộc đời làm thuê, từng chứng kiến gia đình gục chết trong cái đói, nhưng chính sự tàn khốc ấy là một sự lý giải vì sao anh trở thành chiến sĩ hồng quân, vì sao anh lại có một hạnh phúc từ đau thương bất hạnh. Đó là hạnh phúc của những người nghèo khổ được xây lên từ bất hạnh để họ khẳng định tư thế làm chủ cuộc đời.

Có lẽ kí ức nhân loại mãi mãi không phai mờ bao ám ảnh khủng khiếp của Chiến tranh thế giới lần thứ II. Nhưng nhà văn không theo cách thông thường để ca ngợi vào những đóng góp xương máu của hơn hai mươi triệu người xô viết làm nên thắng lợi của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. bi kịch chiến tranh hiện hữu ngay trong từng số phận, từng gia đình. Sức hủy diệt của nó khiến cho Xô-cô-lốp mất vợ và hai con; bé Vania mồ côi cả cha lẫn mẹ. Mất mát là điều không tránh khỏi nhưng với người trong cuộc còn kinh khủng hơn rất nhiều, khi sức ám ảnh của nó vẫn trở về trong những giấc ngủ nặng nề, để Xô-cô-lốp mỗi lần tỉnh giấc lại đầm đìa nước mắt. Nhưng vào thời điểm đối mặt quyết liệt với kẻ thù, nước mắt không thể rơi! Chỉ có thể là ánh mắt rực lửa căm hờn và khinh bỉ với kẻ thù, với những tên phản bội. Anh đã sống đúng với tư cách người lính ngay cả khi “chiến bại”, bị bắt làm tù binh.

Cảm hứng về cuộc chiến tranh của M.Sôlôkhôp có phần gần gũi với Alếchxây Tônxtôi với “Tính cách Nga”, với “Người xô viết chúng tôi”… Nhưng người đọc hiểu đó chính là lúc con người đang chiến đấu vì danh dự dân tộc, vì những niềm hy vọng không tắt về tương lai. Xô-cô-lốp đã là người chiến thắng, ngẩng cao đầu trong trại tập trung của kẻ thù, mưu trí dũng cảm trở về đội ngũ, chiến đấu bằng tất cả lòng căm thù sục sôi với kẻ đã hủy hoại hạnh phúc gia đình, và cả “niềm hy vọng cuối cùng” – người con trai đã thành đại úy pháo binh Anđrây Xôcôlôp. Trớ trêu thay, vào ngày cờ đỏ thắm trên nóc nhà Quốc hội Đức , anh đã phải tiễn đưa con mình. Dẫu biết sự hy sinh ấy là anh hùng, là cần thiết, nhưng quả thật đó là một cú đập phũ phàng của định mệnh khiến bất cứ ai yếu lòng cũng có thể quị ngã. Có lẽ đó cũng là những trang viết gợi nhắc cho chúng ta nhiều nhất về ý nghĩa tàn khốc của chiến tranh, vinh quang và cay đắng, hạnh phú và bất hạnh, niềm vui chung và nỗi đau riêng để từ đó suy ngẫm và hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của từ “hy sinh”.

Thế nhưng tuyệt nhiên ta không nhận thấy tâm trạng của những con người – nhân dân Nga trở về sau chiến tranh lại nặng nề bi thảm như của “thế hệ vứt đi” trở về sau Đại chiến I ở Mỹ hay châu Âu. Bởi lẽ hy sinh sẽ là vô ích nếu như sự sống sẽ tê liệt sau bao mất mát. Bởi thế, Xô-cô-lốp đã sống, làm việc như bao người lính xô viết trở về sau chiến trận. Nỗi đau lắng vào trong và chỉ thật sự hiện hữu khi Xô-cô-lốp tìm quên trong men rượu. Áp lực đời thường và hậu quả chiến tranh quá nặng nề tưởng chừng có thể làm cho con người gục ngã. Sự tình cờ, ngỡ như ngẫu nhiên mà tất yếu đã gắn chặt cuộc đời Xô-cô-lốp với bé Vania.

Chú bé Vania – đôi mắt đen lay láy, cuộc sống vất vưởng là một hình tượng nghệ thuật có thể làm mềm những trái tim sắt đá nhất. Chú bé chính là hiện thân của thế hệ tương lai nước Nga, là vẻ đẹp của sự thơ ngây thánh thiện cần phải che chở, bảo bọc. Cuộc gặp gỡ của hai con người ấy là tất yếu. Không chỉ cảm động vì khoảnh khắc thì thầm của Xôcôlốp và bé Vania: “Ta là bố của con”, lúc nhận bố con cũng là lúc người đọc chứng kiến sự trở lại của những giọt nước mắt ở con người tưởng như trái tim đã khô héo vì đau khổ. Nước mắt – hạnh phúc và xót xa cứ đan quyện vào nhau, thấm vào lòng tất cả mọi người.

Ngỡ rằng hạnh phúc đã thật sự trở lại, ngỡ rằng từ đây đầy ắp tiếng cười và những tiếng ríu rít như chim của bé Vania, nhưng kí ức vẫn hiện về đấy ám ảnh. Người đọc phải chứng kiến những lời nói dối – nhưng lạ thay đó lại là lời đẹp hơn trăm lần sự thật. Bởi sự đồng cảm số phận và tình thương yêu đã gắn chặt cuộc đời hai bố con – một người đang cần nén chặt nỗi đau quá khứ và một người cần được bảo đảm tương lai tốt đẹp. Vậy mà định mệnh lại trêu cợt để cho bố con Xô-cô-lốp lại tiếp tục hành trình giữa đời thường với bao thử thách đón chờ phía trước.

Số phận con người là câu chuyện kể chân thực về một con người bình thường. Nhưng cuộc sống bao dồn đẩy sóng gió đã tôi luyện cho anh một phẩm chất kiên cường, một tình thương yêu bao la. Gương mặt người đàn ông ấy đã sắt lại vì đau khổ, nhưng trái tim tổn thương ấy vẫn đập những nhịp thương yêu nồng nàn với con người. Nhà văn đã lên tiếng thay nhân vật ở cuối tác phẩm, bằng tất cả niềm xúc động sâu xa và lòng cảm phục vô hạn trước nhân cách một con Người chân chính. Bức thông điệp của nhà văn giúp ta nhận ra rõ hơn chân dung của nhân dân Nga, vẻ đẹp của tâm hồn Nga và sức mạnh của con người vượt lên bao bi kịch bất hạnh.

Đó là sự khẳng định tuyệt đối của nhà văn thể hiện niềm tin tưởng vào con người nhân dân và tương lai của đất nước. Nỗi buồn kết lại tác phẩm lại khiến ta nhận ra tầm vóc vĩ đại của đất nước và con người Nga xô viết quả cảm, kiên cường, nhân hậu.

Phân tích tác phẩm Số phận con người – Mẫu 2

Sô-lô-khốp nhà văn Nga lỗi lạc, ông được nhận giải thưởng Nô-ben văn học năm 1965. Ông để lại số lượng tác phẩm đồ sộ, những bộ tiểu thuyết lớn và những truyện ngắn hay với cái nhìn chân thực về cuộc sống và chiến tranh. Số phận con người được sáng tác dưới sự chỉ đạo của Đảng cộng sản Liên Xô, khôi phục tinh thần dân chủ, chống sùng bái cá nhân và trong xu thế quan tâm đến số phận con người sau chiến tranh. Tác phẩm của Sô – lô – khốp mang tinh thần thời đại rất rõ nét.

Xô-cô-lốp bị thương, anh bị bắt làm tù binh trong trại tập trung của phát xít Đức với những cực hình vô nhân đạo. Không chỉ vậy anh còn mất đi tất cả người thân, gia đình vì bom đạn phát xít: vợ và hai con gái. Đây có lẽ là nỗi đau đớn lớn nhất cuộc đời anh, những vết thương về thể xác có thể lành theo năm tháng, còn những mất mát, đau thương về tinh thần thi năm tháng cũng không thể chữa lành. Và niềm an ủi duy nhất, cuối cùng cho tầm hồn đầy đau thương ấy là đứa con trai xuất sắc, là đại úy pháo binh, là học sinh học giỏi toán lại bị tên thiện xạ Đức bắn trúng ngay trong khoảnh khắc chiến thắng. Anh phải chôn niềm hy vọng cuối cùng của cuộc đời mình. Bước ra khỏi cuộc chiến, anh không còn lấy một người thân ở bên cạnh, nỗi cô đơn, trống trải, hụt hẫng bủa vây lấy người đàn ông này.

Bởi vì quá đau thương, anh không dám trở về quê hương. Mảnh đất quê hương gắn với biết bao kỉ niệm đẹp đẽ của anh và gia đình, nếu anh trở về đó, từng mảnh kí ức ùa về, có lẽ anh sẽ không thể sống nổi. Chính vì vậy Xô-cô-lốp lựa chọn cách đến ở nhờ nhà bạn, đề vợi bớt nỗi đau đớn và u buồn. Tại anh anh làm nghề lái xe để mưu sinh và trong những ngày đó anh bắt đầu nghiện rượu, anh tìm đến rượu để quên đi quá khứ, chạy trốn những kí ức đeo bám anh. Nhưng anh càng chạy trốn, càng tìm đến rượu thì quá khứ càng ám ảnh anh bấy nhiêu. Sau đó Xô-cô-lốp bị mất bằng lái, anh thất nghiệp nên đã di chuyển đến một vùng đất khác để sinh sống. Những vết tích mà chiến tranh để lại đã hằn in trên đôi mắt màu tro đượm buồn của anh.

Bé Va-ni-a cũng là một số phận bất hạnh khác, bố mẹ em chết vì bom đạn phát-xít. Va-ni-a trở thành một đứa trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, em sống lang thang trên đường phố, cuộc sống hết sức cơ cực “bạ đâu ngủ đấy, ai cho gì thì ăn nấy”. Cả Va-ni-a và Xô-cô-lốp đều là những nạn nhân của chiến tranh phát-xít, họ bị mất gia đình, người thân, sống cuộc đời cô đơn, trơ trọi, nếu thiếu bản lĩnh, nghị lực họ sẽ bị cuộc đời vùi dập.

Số phận đau thương, bất hạnh đã khiến cho hai con người người ấy gặp nhau, bằng tình yêu thương Xô-cô-lốp đã quyết định nhận bé Va-ni-a làm con. Xô-cô-lốp mang hạnh phúc vô bờ bến cho bé Va-ni-a. Em “nhảy chồm lên cổ, hôn vào má vào môi vào trán, như con chim chích ó ríu rít líu lo vang dội cả buồng lái…”. Quyết định ấy không chỉ mang lại niềm vui cho bé Va-ni-a mà còn đem lại sự bình yên, hạnh phúc cho Xô-cô-lốp, sau biết bao nhiêu năm lấy rượu để quên đi, để chìm vào giấc ngủ, thì đây là lần đầu tiên sau nhiều năm anh được ngủ một cách ngon lành… Bằng tình yêu thương, hai con người bị khuyết thiếu tình yêu thương ấy đã bù đắp, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhau. Anh luôn quan tâm, dành tình yêu thương và sự quan tâm chăm sóc cho Va-ni-a: lấy xà phòng rửa tay trước khi đặt ngồi vào bàn ăn, đưa tới hiệu cắt tóc tắm rửa, chạy ra cửa hàng tạp hóa mua một chiếc quần dạ vào lúc trời đang rất nóng… Bởi khi mang hạnh phúc đến cho Va-ni-a cũng chính là mang lại hạnh phúc cho chính anh.

Không chỉ tình yêu thương, mà cả nghị lực kiên cường đã giúp Xô-cô-lốp vượt lên số phận đầy đau thương của mình. Gia đình anh đều bị bom đạn phát-xít cướp mất tính mạng, chỉ còn một mình anh cô độc trong cuộc đời, trái tim đã dần trở nên yếu đuối, chán nản, có những lúc tưởng như bỏ cuộc. Sức khỏe của anh ngày một đi xuống, con tim bỗng nhiên nhói lên, thắt lại giữa ban ngày, khiến anh tối sầm mặt lại. Anh lo lắng rồi một ngày không xa cái chết sẽ đến và anh còn lo hơn cho bé Va-ni-a, anh chết, bé sẽ rơi vào cảnh cô đơn, lang thang, điều này còn làm anh lo lắng gấp bội. Không chỉ vậy, những ám ảnh quá khứ vẫn đeo bám anh, dù đã cố gắng nhưng nó vẫn lẩn khuất hiện về. Hầu như đêm nào anh cũng gặp lại những giấc chiêm bao về vợ con. Tuy nhiên luôn phải giấu diếm, che đậy nỗi đau, không muốn để Va-ni-a nhìn thấy mình khóc, để giữ niềm vui trọn vẹn cho Va- ni- a. Ý chí nghị lực của anh còn thể hiện trong lần anh mất bằng lái, thay vì chán nản, bi quan, than vãn, đổ lỗi cho số phận, anh lại mang đứa con trai của anh đến những vùng đất mới để giải quyết việc trước mắt là mưu sinh bằng nghề nghiệp khác, và cũng là để quên đi nỗi đau quá khứ. Ý chí nghị lực đã giúp anh vượt qua nỗi đau, những trớ trêu của số phận để tiếp tục sống, nuôi dưỡng bé Va-ni-a trưởng thành. Ý chí nghị lực của anh cũng chính là bản tính tiêu biểu của con người Nga.

Tác phẩm dùng lối kể truyện, truyện lồng trong truyện vô cùng đặc sắc. Giúp cho câu chuyện vừa chân thật, vừa dạt dào tình cảm. Đặc biệt với mỗi lối kể sẽ đem đến những hiểu quả khác nhau. Khi Xô-cô-lốp kể chuyện giọng điệu, ngôn ngữ sẽ nương theo đặc điểm của người lính, người lái xe, giúp cho nhân vật hiện lên sinh động, tự nhiên hơn. Khi chọn ngôi kể là tác giả câu chuyện sẽ được thuật lại khách quan, chân thực hơn.

Dù chỉ là trích đoạn nằm ở cuối tác phẩm nhưng đã gửi gắm những thông điệp sâu sắc của tác giả. Sô-lô-cốp kêu gọi, nhắc nhở sự quan tâm cả toàn xã hội đối với những cá nhân, những số phận con người như Xô-cô-lốp đã hi sinh tất cả để giữ gìn độc lập cho dân tộc. Đồng thời lên án bão tố chiến tranh phi nghĩa với sức mạnh phũ phàng của nó và nó vẫn có ý nghĩa thời sự tới tận ngày nay.

Phân tích tác phẩm Số phận con người – Mẫu 3

Sô-lô-khốp được biết đến là một nhà văn Xô viết lỗi lạc, ông được nhận giải thưởng Nobel về văn học vào năm 1965. Ông đã có nhiều tác phẩm hay và nổi tiếng để lại bao gồm truyện, tiểu thuyết và đặc biệt hơn nữa là tác phẩm xuất sắc viết về “số phận con người”. Và thông qua tác phẩm này chúng ta thấy được những số phận bất hạnh của con người sau chiến tranh.

Nhân vật chính trong truyện được biết đến là nhân vật Xô-cô-lốp. Và anh ta được xây dựng lên là một người rơi vào bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc. Trong khi trước đó anh phải đi lính và sau khi hòa bình thì anh mất hết tất cả từ người thân, nhà cửa và cả bạn bè nữa. Đối với Xô-cô-lốp thì có thể nói thì anh chiến đấu vì gia đình, vì quê hương đất nước nhưng khi hòa bình đã được lập lại thì mọi thứ đã bỏ anh mà đi thì không còn gì nữa cả. Anh dường như đã phải sống trong một cuộc sống đau khổ, kể cả khi chiến đấu, anh bị thương rất nhiều. Có cả vợ và hai người con của anh cũng bị bom của phát xít cướp đi tính mạng của mình. Và lúc này Xô-cô-lốp chỉ còn biết hy vọng và trông chờ vào người anh trai nhưng rồi cuối cùng anh ấy cũng đã chết trận.

Như vậy, thông qua đây chúng ta như đã có thể thấy được rằng số phận anh rất bất hạnh, khi chiến đấu đã chịu những giày vò thật tủi cực về thể xác lẫn tinh thần. Sau đó khi trở giờ về thì lại phải nếm trải niềm đau khổ về tinh thần tụt độ bởi người thân yêu duy nhất của mình cũng không còn nữa. Từ đó chúng ta có thể thấy được những hậu quả mà chiến tranh đã để lại là quá lớn lao, quá đắng cay và thật đáng thương cho Xô-cô-lốp.

Sau chiến tranh, anh cứ ngỡ được sống trong hạnh phúc, nhưng không, Xô-cô-lốp phải sống trong bế tắc và tuyệt vọng. Không hề có một mái nhà che nắng che mưa mà anh phải sống nhờ nhà một người bạn. Và để rồi cho tới khi anh tình cờ gặp được cậu bé có tên Va-ni-a. Nhà văn đã miêu tả thật ám ảnh về ngoại hình của cậu bé bằng những lời văn hết sức chân thật. Hiện lên đó là một cậu bé tầm 5 tới 6 tuổi ăn mặc rách rưới, cả cha và mẹ của cậu bé đều đã chết trong chiến tranh, ít ra Sô-lô-khốp còn có thể lao động được còn cậu bé thì lại không có ai, ai cho ăn gì thì cậu bé ăn nấy và bạ đâu ngủ đấy. Duyên phận dường như đã đưa đẩy cho họ gặp nhau như để bù đắp cho nhau những thiếu sót của cuộc đời đầy giông bão này vậy.

Xô-cô-lốp đã nhận nuôi bé Va-ni-a, anh còn chăm sóc tận tình chu đáo, anh còn mua quần áo cho cậu bé, là một chiếc áo bành tô rất đẹp. Có thể nói rằng chính lòng nhân ái đó đã đem hai trái tim đó như đã xích lại với nhau như để sưởi ấm cho nhau vậy.

Anh luôn luôn cố gắng làm mọi việc để nuôi bé Va-ni-a, nhưng trớ trêu thay cuộc sống không giống như những gì mình nghĩ, anh vượt qua mọi nỗi đau, xe anh quệt nhẹ vào người ta và cuối cùng bị mất bằng lái và không được lái xe. Nghề mưu sinh của anh cũng đã không còn cho nên anh phải đi khắp nơi, đã thế sức khỏe anh lại yếu đi trông thấy, anh đau đến mức khóc nhưng anh lại không để cho bé Va-ni-a biết được điều này. Thông qua điều này chúng ta dường như nhận thấy tác giả có một tấm lòng nhân đạo cao cả.

Đến đoạn cuối của tác phẩm đầy tình thương yêu và biết bao sự nghiệt ngã này thì nhà văn đã thể hiện sự thương xót của mình đối với nhân vật. Đó chính là “Với nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con…”. Đoạn văn như đã thể hiện được sự khâm phục, tính cách của những con người luôn luôn kiên cường đứng vững vàng trước những khó khăn của cuộc sống. Có thể nói trong hoàn cảnh có nghèo khó thế nào thì họ vẫn luôn trao nhau những tình yêu thương đầy sự nhân ái, họ luôn luôn đùm bọc nhau cho nhau những yêu thương để vượt qua cuộc đời khó khăn và để sống.

Như vậy, chỉ với qua tác phẩm thôi mà chúng ta như có thể thấy được số phận đau khổ của con người qua chiến tranh là như thế nào. Con người đó, họ không những phải chịu những nỗi đau thể xác trên chiến trường mà còn phải chịu nhiều nỗi đau về tinh thần. Xô-cô-lốp cùng bé Va-ni-a là hai nhân vật chính là hiện thân của những số phận bất hạnh đó. Qua đó tác giả Sô-lô-khốp như đã muốn kêu gọi mọi người hãy có trách nhiệm đối với những con người như vậy hơn, để cuộc sống thực sự có ý nghĩa.

Phân tích tác phẩm Số phận con người – Mẫu 4

Nhà văn Sô-lô-khốp (1905 – 1984), ông là một nhà văn Xô Viết lỗi lạc, vinh dự hơn khi ông được nhận giải thưởng Nobel về văn học năm 1965. Đồng thời ông được liệt vào danh sách những nhà văn lớn. Tác phẩm của ông để lại gồm những tập truyện, tiểu thuyết lớn và tiêu biểu trong số đó có tác phẩm Số phận con người. Qua tác phẩm ấy ta thấy được những số phận bất hạnh của con người sau chiến tranh. Từ khi ra đời có trên mặt báo Sự Thật cho đến nay tác phẩm vẫn còn nguyên những giá trị ý nghĩa của mình.

Nhân vật chính trong truyện chính là nhân vật Xô-cô-lốp. Anh là một người rơi vào bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc. Trước đó anh phải đi lính và sau khi hòa bình thì anh không còn gì cả, người thân, nhà cửa, bạn bè không còn ai hết. Đối với anh mà nói một lòng chiến đấu vì quê hương đất nước cũng chính là bảo vệ người thân của mình vậy mà giờ đây những người thân yêu của anh đều từ bỏ anh mà đi, bom đạn kia đã cướp họ khỏi anh.

Chính vì thế mà anh phải sống một cuộc sống đau khổ. Trong chiến đấu anh cũng phải chịu những bất hạnh đó là hai lần anh bị thương và tiếp tục bị đày đọa hai năm trong trại tập trung của phát xít Nhật. Vợ và hai người con gái của anh bị bom phát xít cướp đi tính mạng. Anh chỉ còn niềm hy vọng vào người con trai cả là A-na-tô-li thì anh ấy cũng bị chết trận năm 1945.

Như vậy có thể thấy số phận của anh rất bất hạnh, khi chiến đấu đã chịu những khổ cực về thể xác rồi mà đến khi chiến tranh kết thúc mọi nhà sống trong độc lập thì với anh lại là niềm đau khổ về tinh thần vì những người thân yêu của anh đều bị chiến tranh cướp đi mất rồi. Anh tuyệt vọng trước những đau khổ của cuộc đời. Từ đó ta thấy được hậu quả của chiến tranh để lại thật sự rất đau lòng.

Sau chiến tranh anh không còn nhà cửa, không còn người thân cho nên anh phải ở nhờ một người đồng chí cũ. Anh phải tìm đến rượu để dịu bớt nỗi đau của mình. Tóm lại sau chiến tranh anh phải sống một cảnh sống cô đơn và bế tắc.

Và trong một lần tình cờ hay do duyên trời run rủi cho anh gặp bé Va ni a. Nhà văn miêu tả ngoại hình của chú bé bằng những lời văn chân thực nhất để từ đó thấy được hậu quả kinh khủng của chiến tranh để lại. Chú bé khoảng năm đến sáu tuổi. Chú hiện lên trong bộ dạng quần áo rách bươm xơ mướp, mặt mũi thì bê bết lem luốc…duy nhất chỉ có cặp mắt là sáng ngời. Cậu bé ấy cũng có một hoàn cảnh vô cùng thương tâm. Cả cha và mẹ của cậu bé đều chết trong chiến tranh. Cùng có người thân bị mất nhưng ít ra Xô-cô-lốp còn có sức mà lao động còn cậu bé kia làm sao có thể lao động được. Cậu còn quá nhỏ. Cậu sống vạ vật, ai cho gì ăn đấy, bạ đâu ngủ đấy. Và duyên phận như cho họ gặp nhau để bù đắp cho nhau những tình thương mà mình đã mất đi. Xô-cô-lốp cảm thương tình cảnh của Va ni a cho nên anh quyết định nhận cậu làm con nuôi. Cả hai người chủ nhà của Xô-cô-lốp cũng đồng tình với hành động nhân ái ấy. Và anh như quên đi mọi đau khổ mà dành cho bé Va ni a những tình thương sự tận tình chu đáo. Anh mua quần áo cho cậu bé, một chiếc áo bành tô rất đẹp. Chính lòng nhân ái đã đem hai trái tim gần nhau sưởi ấm cho nhau.

Thế rồi anh cố gắng kiếm sống để nuôi bé Va ni a nhưng cuộc sống hay số phận anh khổ đau. Anh vượt lên những nỗi đau, xe anh quệt nhẹ người ta mà anh bị tước bằng lái, anh mất việc nên phải đi lang bạt kiếm sống. Đã thế thể chất sức khỏe của anh cũng giảm đi trông thấy. Anh đau đến khóc thế nhưng anh vẫn cố gắng không để cho bé Va ni a biết. Trước mặt cậu bé, anh vẫn tỏ ra bình thường. Dường như nhà văn đang nhìn anh với một ánh mắt nhân đạo, anh đã không để cho bé Va ni a phải khóc, điều đó thể hiện một sự hi sinh của người cha.

Đến đoạn cuối tác phẩm thì nhà văn như thể hiện sự đồng cảm thương xót của mình với nhân vật. Tác giả không thể nào giấu được những cảm xúc của bản thân mình trước những tình cảnh cũng như tình cảm của hai cha con mà thốt lên: “Với nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con…” Hai người côi cút đã tìm đến nhau chia sẻ cho nhau những niềm yêu thương trong cuộc sống. Đoạn văn thể hiện sự khâm phục những tính cách con người Nga kiên cường trước những khó khăn của cuộc sống. Trong hoàn cảnh đói nghèo đau khổ nhưng vẫn trao cho nhau những tình yêu thương nhân ái để chạm tay đến hạnh phúc.

Như vậy có thể nói qua đây ta thấy được số phận con người sau chiến tranh đau khổ như thế nào. Người lính đã trải qua những khó khăn trên chiến trường rồi tưởng rằng chiến tranh kết thúc sẽ được đoàn tụ thì người thân cũng bị chiến tranh cướp đi. Xô-cô-lốp cùng bé Va ni a chính là hiện thân của những số phận bất hạnh đó. Đồng thời qua tác phẩm này nhà văn kêu gọi mọi người nên có trách nhiệm với số phận của những con người như thế.

Phân tích Số phận con người – Mẫu 5

Nhà văn Sô lô Khốp (1905 – 1984), ông là một nhà văn Xô Viết lỗi lạc, vinh dự hơn khi ông được nhận giải thưởng Nô-Ben về văn học năm 1965. Đồng thời ông được liệt vào danh sách những nhà văn lớn. Tác phẩm của ông để lại gồm những tập truyện, tiểu thuyết lớn và tiêu biểu trong số đó có tác phẩm số phận con người. Qua tác phẩm ấy, ta thấy được những số phận bất hạnh của con người sau chiến tranh. Từ khi ra đời có trên mặt báo Sự Thật cho đến nay, tác phẩm vẫn còn nguyên những giá trị ý nghĩa của mình.

Nhân vật chính trong truyện chính là nhân vật Xô cô lốp. Anh là một người rơi vào bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc. Trước đó anh phải đi lính và sau khi hòa bình thì anh không còn gì cả, người thân, nhà cửa, bạn bè không còn ai hết. Đối với anh mà nói, một lòng chiến đấu vì quê hương đất nước, cũng chính là bảo vệ người thân của mình, vậy mà giờ đây những người thân yêu của anh đều từ bỏ anh mà đi, bom đạn kia đã cướp họ khỏi anh.

Chính vì thế mà anh phải sống một cuộc sống đau khổ. Trong chiến đấu anh cũng phải chịu những bất hạnh đó, là hai lần anh bị thương và tiếp tục bị đày đọa hai năm trong trại tập trung của phát xít Nhật. Vợ và hai người con gái của anh bị bom phát xít cướp đi tính mạng. Anh chỉ còn niềm hi vọng vào người con trai cả là A-na-tô-li thì anh ấy cũng bị chết trận năm 1945.

Như vậy có thể thấy số phận của anh rất bất hạnh, khi chiến đấu đã chịu những khổ cực về thể xác rồi, mà đến khi chiến tranh kết thúc, mọi nhà sống trong độc lập thì với anh lại là niềm đau khổ về tinh thần, vì những người thân yêu của anh đều bị chiến tranh cướp đi mất rồi. Anh tuyệt vọng trước những đau khổ của cuộc đời. Từ đó ta thấy được hậu quả của chiến tranh để lại thật sự rất đau lòng.

Sau chiến tranh anh không còn nhà cửa, không còn người thân, cho nên anh phải ở nhờ một người đồng chí cũ. Anh phải tìm đến rượu để dịu bớt nỗi đau của mình. Tóm lại sau chiến tranh anh phải sống một cảnh sống cô đơn và bế tắc. Và trong một lần tình cờ hay do duyên trời run rủi cho anh gặp bé Va ni a. Nhà văn miêu tả ngoại hình của chú bé bằng những lời văn chân thực nhất, để từ đó thấy được hậu quả kinh khủng của chiến tranh để lại. Chú bé khoảng năm đến sáu tuổi. Chú hiện lên trong bộ dạng quần áo rách bươm xơ mướp, mặt mũi thì bê bết lem luốc… duy nhất chỉ có cặp mắt là sáng ngời. Cậu bé ấy cũng có một hoàn cảnh vô cùng thương tâm.

Cả cha và mẹ của cậu bé đều chết trong chiến tranh. Cùng có người thân bị mất, nhưng ít ra Xô cô lốp còn có sức mà lao động, còn cậu bé kia làm sao có thể lao động được. Cậu còn quá nhỏ. Cậu sống vạ vật, ai cho gì ăn nấy, bạ đâu ngủ đấy. Và duyên phận như cho họ gặp nhau, để bù đắp cho nhau những tình thương mà mình đã mất đi. Xô cô lốp cảm thương tình cảnh của Va ni a cho nên anh quyết định nhận cậu làm con nuôi. Cả hai người chủ nhà của Xô cô lốp cũng đồng tình với hành động nhân ái ấy. Và anh như quên đi mọi đau khổ, mà dành cho bé Va ni a những tình thương sự tận tình chu đáo. Anh mua quần áo cho cậu bé, một chiếc áo bành tô rất đẹp. Chính lòng nhân ái đã đem hai trái tim gần nhau sưởi ấm cho nhau.

Thế rồi anh cố gắng kiếm sống để nuôi bé Va ni a, nhưng cuộc sống hay số phận anh khổ đau. Anh vượt lên những nỗi đau, xe anh quệt nhẹ người ta mà anh bị tước bằng lái, anh mất việc nên phải đi lang bạt kiếm sống. Đã thế sức khỏe của anh cũng giảm đi trông thấy. Anh đau đến khóc, thế nhưng anh vẫn cố gắng không để cho bé Va ni a biết. Trước mặt cậu anh vẫn tỏ ra bình thường. Dường như nhà văn đang nhìn anh với một ánh mắt nhân đạo, anh đã không để cho bé Va ni a phải khóc, điều đó thể hiện một sự hi sinh của người cha.

Đến đoạn cuối tác phẩm, thì nhà văn như thể hiện sự đồng cảm thương xót của mình với nhân vật. Tác giả không thể nào giấu được những cảm xúc của bản thân mình, trước những tình cảnh cũng như tình cảm của hai cha con mà thốt lên: “Với nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con…” Hai người côi cút, đã tìm đến nhau chia sẻ cho nhau những niềm yêu thương trong cuộc sống. Đoạn văn thể hiện sự khâm phục, những tính cách con người Nga kiên cường trước những khó khăn của cuộc sống. Trong hoàn cảnh đói nghèo đau khổ, nhưng vẫn trao cho nhau những tình yêu thương nhân ái để chạm tay đến hạnh phúc.

Như vậy, có thể nói, qua đây ta thấy được số phận con người sau chiến tranh đau khổ như thế nào. Người lính đã trải qua những khó khăn trên chiến trường, rồi tưởng rằng chiến tranh kết thúc sẽ được đoàn tụ, thì người thân cũng bị chiến tranh cướp đi. Xô cô lốp cùng bé Va ni a chính là hiện thân của những số phận bất hạnh đó. Đồng thời qua tác phẩm này nhà văn kêu gọi mọi người nên có trách nhiệm với số phận của những con người như thế.

Phân tích Số phận con người – Mẫu 6

Sô lô khốp được biết đến là một nhà văn Xô viết lỗi lạc, ông được nhận giải thưởng Nobel về văn học vào năm 1965. Ông đã có nhiều tác phẩm hay và nổi tiếng để lại bao gồm truyện, tiểu thuyết và đặc biệt hơn nữa là tác phẩm xuất sắc viết về “số phận con người”. Và thông qua tác phẩm này chúng ta thấy được những số phận bất hạnh của con người sau chiến tranh.

Nhân vật chính trong truyện được biết đến là nhân vật Xô-cô-lốp. Và anh ta được xây dựng lên là một người rơi vào bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc. Trong khi trước đó anh phải đi lính và sau khi hòa bình thì anh mất hết tất cả từ người thân, nhà cửa và cả bạn bè nữa. Đối với Xô-cô-lốp thì có thể nói thì anh chiến đấu vì gia đình, vì quê hương đất nước nhưng khi hòa bình đã được lập lại thì mọi thứ đã bỏ anh mà đi thì không còn gì nữa cả. Anh dường như đã phải sống trong một cuộc sống đau khổ, kể cả khi chiến đấu, anh bị thương rất nhiều. Có cả vợ và hai người con của anh cũng bị bom của phát xít cướp đi tính mạng của mình. Và lúc này Xô-cô-lốp chỉ còn biết hi vọng và trông chờ vào người anh trai nhưng rồi cuối cùng anh ấy cũng đã chết trận.

Advertisement

Như vậy, thông qua đây chúng ta như đã có thể thấy được rằng số phận anh rất bất hạnh, khi chiến đấu đã chịu những giày vò thật tủi cực về thể xác lẫn tinh thần. Sau đó khi trở giờ về thì lại phải nếm trải niềm đau khổ về tinh thần tụt độ bởi người thân yêu duy nhất của mình cũng không còn nữa. Từ đó chúng ta có thể thấy được những hậu quả mà chiến tranh đã để lại là quá lớn lao, quá đắng cay và thật đáng thương cho Xô-cô-lốp.

Sau chiến tranh, anh cứ ngỡ được sống trong hạnh phúc, nhưng không, Xô-cô-lốp phải sống trong bế tắc và tuyệt vọng. Không hề có một mái nhà che nắng che mưa mà anh phải sống nhờ nhà một người bạn. Và để rồi cho tới khi anh tình cờ gặp được cậu bé có tên Va-ni-a. Nhà văn đã miêu tả thật ám ảnh về ngoại hình của cậu bé bằng những lời văn hết sức chân thật. Hiện lên đó là một cậu bé tầm 5 tới 6 tuổi ăn mặc rách rưới, cả cha và mẹ của cậu bé đều đã chết trong chiến tranh, ít ra Sô-lô-khốp còn có thể lao động được còn cậu bé thì lại không có ai, ai cho ăn gì thì cậu bé ăn nấy và bạ đâu ngủ đấy. Duyên phận dường như đã đưa đẩy cho họ gặp nhau như để bù đặp cho nhau những thiếu sót của cuộc đời đầy giông bão này vậy.

Xô-cô-lốp đã nhận nuôi bé Va-ni-a, anh còn chăm sóc tận tình chu đáo, anh còn mua quần áo cho cậu bé, là một chiếc áo bành tô rất đẹp. Có thể nói rằng chính lòng nhân ái đó đã đem hai trái tim đó như đã xích lại với nhau như để sưởi ấm cho nhau vậy. Anh luôn luôn cố gắng làm mọi việc để nuôi bé Va-ni-a, nhưng trớ trêu thay cuộc sống không giống như những gì mình nghĩ, anh vượt qua mọi nỗi đau, xe anh quệt nhẹ vào người ta và cuối cùng bị mất bằng lái và không được lái xe. Nghề mưu sinh của anh cũng đã không còn cho nên anh phải đi khắp nơi, đã thế sức khỏe anh lại yếu đi trông thấy, anh đau đến mức khóc nhưng anh lại không để cho bé Va-ni-a biết được điều này. Thông qua điều này chúng ta dường như nhận thấy tác giả có một tấm lòng nhân đạo cao cả.

Đến đoạn cuối của tác phẩm đầy tình thương yêu và biết bao sự nghiệt ngã này thì nhà văn đã thể hiện sự thương xót của mình đối với nhân vật. Đó chính là “Với nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con…”. Đoạn văn như đã thể hiện được sự khâm phục, tính cách của những con người luôn luôn kiên cường đứng vững vàng trước những khó khăn của cuộc sống. Có thể nói trong hoàn cảnh có nghèo khó thế nào thì họ vẫn luôn trao nhau những tình yêu thương đầy sự nhân ái, họ luôn luôn đùm bọc nhau cho nhau những yêu thương để vượt qua cuộc đời khó khăn và để sống.

Như vậy, chỉ với qua tác phẩm thôi mà chúng ta như có thể thấy được số phận đau khổ của con người qua chiến tranh là như thế nào. Con người đó, họ không những phải chịu những nỗi đau thể xác trên chiến trường mà còn phải chịu nhiều nỗi đau về tinh thần. Xô-cô-lốp cùng bé Va-ni-a là hai nhân vật chính là hiện thân của những số phận bất hạnh đó. Qua đó tác giả Sô-lô-khốp như đã muốn kêu gọi mọi người hãy có trách nhiệm đối với những con người như vậy hơn, để cuộc sống thực sự có ý nghĩa.

Phân tích Số phận con người – Mẫu 7

Sô Lô Khốp là nhà văn nổi tiếng của nước Nga, ông đạt được rất nhiều thành tựu văn học to lớn, trong đó ông đã đạt được giải thưởng Nô ben văn học năm 1965 và đạt được nhiều cảm xúc trong lòng người đọc. Số phận con người là một tác phẩm xuất sắc của ông.

Chiến tranh là một đề tài sâu rộng và nó dần ăn đi tiềm thức và cuộc sống của con người, con người được xem như là nạn nhân của chiến tranh, họ phải chịu đựng những đau khổ, và bất hạnh do cuộc sống gây nên, chiến tranh đã cướp đi rất nhiều thứ của con người, con người đang dần phải sống những năm tháng tăm tối và bị chiến tranh vùi dập đến tận xương tủy. Khi chiến tranh nhiều anh hùng đã xung phong ra mặt trận và Xô cô Lốp là một nhân vật như thế, chiến tranh nổ ra anh đã từ giã gia đình để xung phong ra mặt trận, bỏ lại ở nhà đó là vợ và con, buôn ba ngoài mặt trận nhiều năm, con trai lớn của anh cũng đang tham gia vào đội quân của Liên xô.

Trước khi tham gia vào chiến tranh Xô Cô Lốp được xem như là một nhân vật giàu lòng yêu thương, có tấm lòng nhân ái, và sự quả quyết trong cuộc sống, nhưng rồi chính chiến tranh đã cướp đi rất nhiều thứ của anh, từ gia đình, quê hương, người thân… anh đã trở thành nạn nhân của chiến tranh, bị chiến tranh vùi dập anh lâm vào tình trạng đau khổ, số phận con người đang dần phải chịu đựng nhiều đau khổ, và điều đó đã mang một ý nghĩa to lớn, ngay trong chính nhan đề, tác giả đã thể hiện được dòng tâm trạng, và một thái độ dứt khoát trước kẻ thù, ở đây số phận con người đã nêu ra một hiện thực đó là con người phải chịu nhiều đau khổ và là nạn nhân xấu số của chiến tranh.

Xô Cô Lốp là nhân vật đại diện cho con người Nga, với tính chất kiên cường, quả cảm mặc dù khó khăn như anh vẫn luôn thể hiện cho mình một thái độ dứt khoát và anh dũng trước cuộc sống, giá trị của tác phẩm để lại cho người đọc nhiều cảm xúc về chiến tranh, chính chiến tranh làm cho các nhân vật này phải chịu nhiều cực khổ, họ phải sống cuộc sống vất vả và gian nan nhất. Trong hoàn cảnh đó con người đang phải chịu những đau đớn, không chỉ nỗi đau về tinh thần mà còn thể hiện nỗi đau về thể xác, con người phải chịu những hậu quả lớn do chiến tranh gây nên, chiến tranh là thủ phạm gây nên bao nhiêu đau khổ cho con người.

Chiến tranh cướp đi người thân và gia đình của con người, luôn hết mình quả cảm chiến đấu vì dân tộc, họ luôn phải vượt qua rất nhiều những gian nan để có thể quật cường đứng dậy trước những sóng gió mà cuộc sống này gây ra, con người cũng đang phải chịu những nỗi đau đớn, dằn vặt, đúng từ những điều đó mà con người phải chịu đựng nhiều bất hạnh và số phận con người đang phải chịu những vô định, dạt dào từ cuộc sống này. Giống như cậu bé Va ni a, chính chiến tranh cũng đã cướp đi cha mẹ của bé, mặc dù mới ít tuổi nhưng nỗi đau đớn về tinh thần đã bủa vây lấy con người của chính nhân vật này.

Tác phẩm đã để lại cho người đọc, nhiều cảm xúc, đó là những cảm xúc đau thương và sự cảm thông sâu sắc cho số phận của những con người trong tác phẩm, họ phải chịu nhiều đau đớn và sự tổn thương tinh thần sâu sắc, trong những cảm xúc đó con người đang bị chiến tranh vùi dập và nó cướp đi nhiều thứ quan trọng trong cuộc sống của con người, họ phải chịu nhiều tổn thương, không chỉ về thể xác mà còn chịu nhiều tổn thương tinh thần.

Và chiến tranh cũng đang ám ảnh lấy cuộc sống của con người, họ phải chịu đựng nhiều bất hạnh mà cuộc sống này đã gây nên, họ cướp đi gia đình người thân, và qua đó họ còn bị ám ảnh trước những hiện thực của chiến tranh, chiến tranh đã gây cho họ nhiều tổn thương, không chỉ về thể xác mà tinh thần của họ, cũng bị ám ảnh và đau đớn, mặc dù hòa bình, nhưng cuộc sống của họ vẫn bị ám ảnh những nỗi đau không thể nào nguôi ngoai, đó là những cảm xúc riêng trong tâm hồn của con người.

Chiến tranh để lại cho con người nhiều nỗi nhớ, khi người thân của họ ra chiến trường, nhưng không biết bao giờ mới quay trở về, họ vẫn đang bị ám ảnh và mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc, hình ảnh bé vania vẫn từng ngày chờ đợi bố về đó cũng thể hiện tình yêu thương mà những người con dành cho người bố, hình ảnh chiếc áo bành tô đó là sự thể hiện những nỗi khắc khoải sâu sắc của con người mong ngóng từng ngày người thân của mình sẽ trở về, đó là những cảm xúc riêng và cũng chứa chan bao nhiêu ý nghĩa.

Trong tác phẩm tác giả đã thể hiện được những ý nghĩa tư tưởng một cách sâu sắc, đó là hoàn cảnh của cuộc sống, của chiến tranh đang dần bao vây và che lấp đi cuộc sống cũng như giá trị của con người, từng ngày con người vẫn đang phải chịu những tổn thương sâu sắc, đó là hình ảnh của sự mất mát, đó là sự mất mát và không bao giờ có thể nguôi ngoai được, mỗi nhân vật trong tác phẩm đều thể hiện một tư tưởng khác nhau, nhưng họ đều phải chịu những nỗi đau chung đó là sự mất mát trong tâm hồn từ việc ra đi của người thân, họ bị thiếu hụt đi tình yêu thương.

Nhan đề trong tác phẩm cũng đã thể hiện mạnh mẽ được những điều đó, qua cách nhìn mới mẻ của tác giả, ông đã nêu lên hiện thực của chiến tranh, nó thật tàn khốc, và cướp đi cuộc sống bình lặng của con người. Trong tác phẩm, giá trị của nó để lại cho người đọc nhiều cảm xúc, con người có thể hiểu biết và có cái nhìn nhận về chiến tranh, chiến tranh cướp đi cuộc sống của con người. Tác phẩm đã để lại cho người đọc nhiều cảm xúc, đó là sự tàn khốc và đau đớn và chiến tranh đã gây nên cho con người.

Văn Mẫu Lớp 12: Cảm Nhận Về Nhân Vật Phùng Trong Chiếc Thuyền Ngoài Xa Dàn Ý & 4 Bài Văn Mẫu Lớp 12 Hay Nhất

Dàn ý cảm nhận về nhân vật Phùng

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

Giới thiệu nhân vật Phùng

2. Thân bài

2.1. Một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm, say mê với cái đẹp

– Phùng là người say mê nghệ thuật, có trách nhiệm với công việc: sẵn sàng bỏ cả vài tuần để đi săn lùng một bức ảnh đẹp, loay hoay suốt mấy ngày vẫn chưa tìm được bức ảnh ưng ý.

– Tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với cái đẹp: trong một thoáng nhìn anh đã phát hiện ra cảnh đắt trời cho để chớp lấy:

Nhận xét “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, một vẻ đẹp toàn bích.

Bối rối trước cái đẹp: “trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”, nhận ra rằng “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”

Nhận xét: Không chỉ nhạy bén trước cái đẹp, Phùng còn có cả những suy tưởng sâu sắc về quan hệ giữa cái đẹp với cái thiện: cái đẹp thực sự phải có khả năng thanh lọc tâm hồn con người.

2.2 Một tấm lòng luôn trăn trở về thân phận con người

Trước cảnh bạo hành trong gia đình hàng chài, lúc đầu Phùng kinh ngạc tột độ: “chỉ biết há mồm ra mà nhìn”, nhưng sau đó đã vứt máy ảnh xuống chạy nhào tới. Khi chứng kiến thêm một lần nữa, Phùng đã can ngăn, rồi bị thương phải vào viện điều trị.

Sau câu nói của người đàn bà ở tòa án (xin không bỏ chồng), Phùng cảm thấy bức xúc, “cảm thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt” nên đã vén màn bước ra ngoài như muốn đòi lại công lí cho chị ta.

Khi nghe câu chuyện của người đàn bà, trăn trở, ám day dứt trong lòng cho số phận những gia đình giống như gia đình Phác, anh xách máy ảnh đi lang thang.

Nhận xét: Mặc dù chưa quen nghịch lí trong cuộc đời nhưng trong anh vẫn là phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ căm ghét những bất công, sẵn sàng hành động vì lẽ công bằng.

2.3. Là nhân vật tự ý thức

Ban đầu, Phùng là người nghệ sĩ có thái độ dễ bằng lòng, nhìn đời bằng con mắt đơn giản một chiều (nghĩ đơn giản rằng những kẻ đi theo ngụy là xấu “lão ta hồi 75 có đi lính ngụy không?”), không sẵn sàng đối mặt với nghịch lí cuộc đời.

Phùng cảm thông cho số phận của người đàn bà hàng chài, cuộc đời và câu chuyện của chị ở tòa án đã giúp Phùng vỡ lẽ ra nhiều điều, anh biết chấp nhận những điều nghịch lí ở đời.

Thông qua những cảm nhận của Phùng, nhà văn gửi đến người đọc những nhận thức sâu sắc về cuộc đời, về nghệ thuật: cần phải có cái nhìn đa diện nhiều chiều để phát hiện ra bản chất sau vẻ đẹp của hiện tượng

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề

Cảm nhận nhân vật Phùng – Mẫu 1

Nguyễn Minh Châu thuộc trong số những nhà văn mở đường tài năng, tinh anh nhất cho văn học nước ta hiện nay. Sự tinh anh và tài năng ấy trước hết thể hiện ở quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ở tác phẩm này ông thật sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và Phùng là một nhân vật như thế.

Phùng là một người quý trọng và say mê nghề nghiệp nhiếp ảnh của mình, anh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Phùng đã tìm về vùng ven biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Anh đã bỏ ra một tuần lễ suy nghĩ tìm kiếm, phục kích mới chụp được một bức ảnh ưng ý, một cảnh đắt trời cho. Phùng còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn người nghệ sĩ rung lên nhiều cảm xúc khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”.

Phùng còn là người căm ghét áp bức bất công, dám đối diện với cái ác và hành động chống lại cái ác. Sau phút ngỡ ngàng thấy cái ác, cái xấu diễn ra ngay trước mắt, ngay trên chính chiếc thuyền đẹp như mơ mà anh vừa thấy lúc trước. Phùng đã phản xạ một cách tự nhiên như một người yêu sự công bằng. Đó là hành động vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy đến ngăn cản người đàn ông vũ phu. Là người từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người. Anh vẫn giữ quan điểm từ thời chiến tranh “cái xấu ắt là từ phía địch”, vì thế anh đã ngộ nhận “gã đàn ông vũ phu kia hẳn là từng đi lính ngụy”, rồi đặt ra một câu hỏi “ lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?”, người đàn ông kia ắt hẳn là người độc ác tàn nhẫn nhất thế gian, còn người đàn bà ắt hẳn là nạn nhân đáng thương của bạo lực gia đình. Anh cho rằng hành động của anh là hành động của một người anh hùng “tôi nện hắn ta bằng tay không nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay của một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay của một người lính đã từng mười năm cầm súng”.

Nhưng câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã giúp Phùng hiểu ra nhiều điều. Lúc đầu anh phẫn nộ sau đó lại cảm thông chua xót cho số phận của người đàn bà. Anh hiểu ra đằng sau vẻ đẹp lãng mạn của chiếc thuyền là sự thật đầy tăm tối, gai góc của cuộc đời. Người đàn ông độc ác kia cũng chỉ là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, người đàn bà thô kệch, xấu xí đầy cam chịu ấy chính là người hiểu sâu sắc lẽ đời. Đồng thời ai cũng nhận ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, Nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống mà phải chính là cuộc sống, gắn bó mật thiết với cuộc sống.

Nổi bật lên ở nhân vật Phùng là tấm lòng âu lo, trắc ẩn về con người. Sau khi nhiệm vụ đã hoàn thành Phùng khoác chiếc máy ảnh đi lang thang tới tận khuya để suy ngẫm. Anh nhìn thấy một chiếc thuyền lưới vó đang đậu giữa phá trong cơn gió bão cấp 11. Đó chính là biểu tượng của tấm lòng âu lo, trăn trở của Phùng về cuộc sống nhân sinh, cũng chính về tấm lòng đó mà Phùng luôn nhìn thấy người đàn bà lam lũ bước ra từ bức tranh hoàn toàn tĩnh vật.

Phùng còn là người nghệ sĩ khát khao tìm kiếm cái đẹp nhưng anh không về thế mà quay lưng lại với sự thật cuộc đời cho dù sự thật ấy phũ phàng, trần trụi. Điều đáng quý nhất ở Phùng là tấm lòng dành cho con người trong cuộc sống, cái nhìn của anh về người đàn bà hàng chài, chị em thằng Phát vì thế thấm thía niềm cảm thông trân trọng.

Đọc truyện ngắn, ta thấy nổi bật lên ở Phùng là những nét đẹp của một nghệ sĩ đam mê cái đẹp, yêu tha thiết sự công bằng. Qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện, anh nhận ra được nhiều điều về hiện thực cuộc sống và từ đó có những phát hiện mới mẻ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.

Cảm nhận về nhân vật Phùng – Mẫu 2

Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn xuất sắc nhất trong việc thể hiện quá trình đổi mới về tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường.. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ở tác phẩm này ông thực sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật, để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người độc và phùng chính là một nhân vật như thế.

Phùng là một người quý trọng, say mê với nghề nhiếp ảnh của mình, anh đã được trưởng phòng giao cho nhiệm vụ chụp một bức ảnh về thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Phùng đã tìm đến với biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Anh đã bỏ cả tuần để tìm kiếm để suy nghĩ, rồi phục kích mãi mới chụp được một bức ảnh ưng ý, có thể xem là một cảnh đắt trời cho. Anh còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn của người nghệ sĩ như rung lên nhiều cảm xúc rất khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”.

Phùng còn là người căm ghét áp lực bất công, dám đối diện với cái ác và hành động chống lại các ác. Sau những phút ngỡ ngàng thấy cái ác cùng cái xấu diễn ra ở ngay trước mắt, ngay trên chính chiếc thuyền đẹp như mơ mà anh vừa thấy. Theo phản xạ tự nhiên như một sự yêu công bằng, đó là vứt máy ảnh xuống đất chạy tới ngăn cản người đàn ông vũ phu. Là một người từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của đất nước, anh vẫn luôn giữ vững quan điểm “cái xấu ắt là từ phía địch”, vì thế anh đã ngộ nhận “gã đàn ông vũ phu kia hẳn là từng đi lính ngụy”, rồi đặt ra một câu hỏi “ lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?”, người đàn ông kia ắt hẳn là một người độc ác nhất thế gian còn người đàn bà ắt hẳn là nạn nhân hết sức đáng thương của bạo lực gia đình. Anh đã cho rằng hành động của anh chính là hành động của một anh hùng “tôi nện hắn ta bằng tay không nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay của một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay của một người lính đã từng mười năm cầm súng”..

Sau khi hiểu ra câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã giúp cho Phùng hiểu ra được nhiều điều. Lúc đầu anh phẫn nộ nhưng lại trở nên thông cảm, chua xót cho số phận của người đàn bà. Anh đã hiểu được đằng sau vẻ đẹp lãng mạn của chiếc thuyền đó là sự thật đầy tăm tối, gai góc của cả cuộc đời. Người đàn ông độc ác kia cũng chỉ là một trong những nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, người đàn bà thô kệch, xấu xí đầy cam chịu đó lại là người hiểu sâu sắc lẽ đời. Từ đây anh đã hiểu ra được mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống mà phải chính là cuộc sống, gắn bó mật thiết với cuộc sống.

Nổi bật lên trong con người Phùng là một tấm lòng lo âu, trắc ẩn về con người. Sau khi nhiệm vụ đã hoàn thành thì Phùng khoác chiếc máy ảnh đi lang thang tới tận khuya nhằm để suy ngẫm. Anh nhìn thấy một chiếc thuyền lưới vó đang đậu ở giữa phá trong cơn bão. Đó là suy nghĩ trăn trở của anh về cuộc sống nhân sinh, về người đàn bà lam lũ bước ra từ bức tranh hoàn toàn tĩnh vật.

Phùng còn là một người nghệ sĩ khát khao đi tìm kiếm cái đẹp nhưng anh không vì thế mà quay lại sự thật của cuộc đời. Điều đáng quý nhất ở phùng đó là tấm lòng giành cho con người trong cuộc sống.

Đọc truyện ngắn, ta thấy nổi bật lên ở Phùng đó là những nét đẹp của một nghệ sĩ đam mê cái đẹp, yêu tha thiết về sự công bằng. Qua câu chuyện của người đàn bà ở toàn án huyện, anh đã nhận ra được nhiều điều về hiện thực cuộc sống và từ đó có những phát hiện mới mẻ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.

Cảm nhận về nhân vật Phùng – Mẫu 3

Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp”.

Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.

Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khỏe khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh. Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ.

“Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”.

Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao động, sẽ xóa tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ cho chúng ta : cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hòa với nó. Cách lý giải về con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.

Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.” . Và những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn, những con người gặp gỡ thật đáng yêu…

Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc – thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”.

Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.

Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đằng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh.

Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếc thuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến. Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người.

Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.

Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía: “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu).

Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia?

Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

Advertisement

Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.

Cảm nhận về nhân vật Phùng – Mẫu 4

Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh cho văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới. Các tác phẩm của ông thường được xây dựng trên những tình huống nghịch lý, qua đó làm nổi bật giá trị tư tưởng. Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm tiêu biểu của ông- một tác phẩm thấm đẫm giá trị nhân đạo. Truyện đã xây dựng thành công nhân vật Phùng- một người nghệ sĩ với khao khát vươn tới giá trị chân chính của nghệ thuật và ý nghĩa thực sự của đời sống con người.

Trước hết, Phùng là một nghệ sĩ giàu trách nhiệm với công việc. Rời xa chiến trường, về với cuộc sống yên bình, anh làm nghề nhiếp ảnh. Nhận nhiệm vụ đi thực tế để tìm kiếm một bức ảnh bổ sung cho bộ lịch nghệ thuật thuyền và biển để xuất bản, Phùng bắt đầu hành trình của mình bằng tất cả sự tận tâm vốn có của người nghệ sĩ. Suốt hơn một tuần lễ tìm kiếm, Phùng đã phát hiện được một vẻ đẹp “đắt trời cho”, đó là một vẻ đẹp toàn bích khiến Phùng cảm thấy hạnh phúc “Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ… toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp.” Vẻ đẹp ấy, khiến phùng như thắt lại, rồi vỡ oà cảm nhận giây phút trong ngần của tâm hồn và nhận ra cái đẹp chính là đạo đức. Có thể nói phải là một người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, Phùng mới có những cảm nhận đầy tinh tế, quan sát tỉ mỉ từng chi tiết của khung cảnh để thu vào tầm mắt mình những gì đẹp đẽ nhất mà thực tại và tạo hoá ban tặng. Cũng là một nhiếp ảnh thiên lương, Phùng mới có thể nhận ra một ý nghĩa đáng trân trọng “cái đẹp chính là đạo đức” sau giây phút chạm lấy cảnh thực.

Phùng cũng là một nghệ sĩ giàu tình cảm và vô cùng lương thiện. Khi nhận ra hiện thực nghiệt ngã đằng sau bức tranh ấy: “Lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà…cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Trước cảnh tượng ấy, Phùng hết sức kinh ngạc, đứng há hốc mồm, không dám tin vào mắt mình. Bất giác từ giây phút nào anh vứt máy ảnh nhào tới, can ngăn hành động vũ phu và tàn nhẫn của người đàn ông. Trái tim nhân hậu, yêu chính nghĩa đã thôi thúc Phùng hành động, anh không thể cam lòng đừng nhìn kẻ yếu thế- một người đàn bà tội nghiệp phải chịu những đòn roi từ chính người chồng của mình. Đó là sự thương cảm của một tấm lòng cao đẹp, dũng cảm đứng lên bênh vực người khốn khổ. Trong lần thứ hai, khi chứng kiến lại cảnh tượng ấy một lần nữa, Phùng đã hành động mạnh mẽ khi tiến đến đánh người đàn ông độc ác kia. Bằng tất cả sự căm thù cái ác, Phùng dùng bàn tay của một người lính từng vào sinh ra tử trên chiến trường để tiêu diệt cái ác, anh tự nhận rằng “ Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh.”.

Không chỉ lương thiện, Phùng còn là một con người có nội tâm sâu sắc, trăn trở với cuộc sống của con người, đặc biệt là những người khốn khổ. Khi lắng nghe những lý do mà người đàn bà đưa ra để từ chối yêu cầu ly hôn của chánh án Đẩu, Phùng đã hiểu hơn về cuộc sống, cuộc đời của những người hàng chài khốn khổ. Anh lo lắng cho số phận của họ, những con người suốt đời cam chịu, nhẫn nhục, cho số phận của những đứa trẻ lớn lên trong cảnh bạo lực của cha chúng. Chỉ biết bức ảnh của nghệ sĩ Phùng được lặp lại cuối truyện “Bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá,nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm” như minh chứng cho sự trăn trở của người nghệ sĩ trước cuộc sống “muôn hình vạn trạng” và cả những trăn trở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với hiện thực cuộc sống.

Có thể nói, bằng tài năng trong ngòi bút của mình, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nên một nhân vật Phùng đầy ấn tượng. Ở Phùng là một con người tuy không quá hoàn hảo nhưng hội tụ vẻ đẹp của một người lính có tấm lòng nhân hậu và một người nghệ sĩ chân chính, hết mình vì nghệ thuật. Bằng sự tự nhận thức của mình, Phùng cũng đã gửi gắm đến độc giả một thông điệp về cuộc sống: “Đừng nhìn cuộc đời, con người một cách phiến diện mà phải có cái nhìn đa chiều, trong nhiều mối quan hệ khác nhau.”.

Văn Mẫu Lớp 6: Viết Bài Văn Đóng Vai Nhân Vật Kể Lại Một Truyện Cổ Tích Dàn Ý & 26 Bài Văn Mẫu Lớp 6

Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích

Tài liệu sẽ bao gồm dàn ý và 26 bài văn mẫu lớp 6, cung cấp những bài văn mẫu hay nhất. Các bạn học sinh có thể tham khảo nội dung chi tiết ngay sau đây.

1. Mở bài

Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu chuyện định kể.

2. Thân bài: Kể lại diễn biến câu chuyện

– Xuất thân của các nhân vật.

– Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.

– Diễn biến chính:

Sự việc 1: …

Sự việc 2: …

Sự việc 3: …

3. Kết bài

Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.

Tôi là Thạch Sanh. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, tôi sống lủi thủi một mình trong túp lều cũ dựng dưới gốc đa. Cả gia tài của tôi chỉ có một lưỡi búa để hàng ngày lên rừng đốn củi kiếm ăn.

Một hôm, có người hàng rượu tên là Lý Thông đi qua chỗ tôi, nghỉ ở gốc đa. Lý Thông thấy tôi gánh củi về liền lân la gợi chuyện và nói kết nghĩa anh em với tôi. Tôi cảm động lắm, vui vẻ nhận lời. Lý Thông là anh còn tôi là em. Tôi từ giã gốc đa, đến sống chung với mẹ con Lý Thông.

Đi kiếm củi về, tôi thấy mâm cơm có rất nhiều thức ăn ngon. Chưa hiểu nhà có việc gì thì anh Lý Thông nói với tôi:

– Đêm nay, đến phiên anh canh miếu thờ, ngặt vì dở cất mẻ rượu, em chịu khó thay anh, đến sáng thì về.

Tôi không nghĩ ngợi gì, vui vẻ nhận lời. Đêm hôm ấy, khi tôi đang mơ màng nửa ngủ nửa thức thì một con trăn tinh hiện ra. Nó nhe răng, giơ vuốt định vồ lấy tôi. Tôi giơ cao búa đánh vào con chằn tinh. Tôi xả xác nó làm hai mảnh. Trăn tinh hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ và để lại bên mình một bộ cung bằng vàng.

Tôi chặt đầu quái vật và nhặt bộ cung tên bằng vàng rồi xách đầu quái vật về nhà. Tôi gọi cửa mãi anh Lý Thông mới ra mở cửa. Không hiểu sao mẹ con anh Lý Thông cứ van lạy tôi rối rít.

Khi vào nhà, tôi kể đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, anh Lý Thông nói với tôi: – Con trăn ấy là của vua nuôi đã lâu. Nay em giết nó, tất không khỏi bị tội chết. Thôi, bây giờ nhân trời chưa sáng em hãy trốn đi ngay đi. Có chuyện gì để anh ở nhà lo liệu.

Tôi không nghi ngờ gì liền trở về túp lều dưới gốc đa ngày nào. Tôi lại sống bằng nghề kiếm củi.

Một hôm, tôi đang ngồi dưới gốc đa thì trông thấy một con đại bàng quắp một người con gái. Tôi liền lấy cung tên vàng ra bắn con đại bàng. Mũi tên trúng vào cánh làm nó bị thương. Nhưng nó vẫn cố bay về hang trong núi. Theo vết máu, tôi tìm được chỗ ở của con đại bàng.

Nghe có lễ hội đông vui, tôi liền tìm đến xem. Nào ngờ, ở đó, tôi gặp anh Lý Thông. Anh ấy đã kể cho tôi nghe việc tìm công chúa. Tôi thật thà kể cho anh nghe về việc tôi bắn đại bàng và biết được chỗ ở của nó. Anh Lý Thông liền nhờ tôi dẫn đến chỗ đại bàng.

Tôi xin được xuống hang cứu công chúa. Quân sĩ lấy dây buộc ngang lưng tôi rồi dòng xuống hang. Xuống tới đáy hang, tôi thấy đại bàng hiện nguyên hình là một con yêu tinh ở trên núi. Tuy bị thương nặng nhưng con quái vật vẫn rất hung dữ. Nó giơ vuốt và lao vào tôi. Tôi dùng cung tên vàng bắn mù hai mắt nó. Tôi chặt đứt vuốt sắc, bổ vỡ đầu con quái vật. Tôi lấy dây buộc ngang người công chúa và ra hiệu cho quân sĩ của Lý Thông kéo lên.

Tôi chờ quân sĩ thả dây xuống kéo tôi lên, nào ngờ cửa hang đã bị lấp lại. Lúc đó, tôi mới biết là Lý Thông hại tôi. Tôi tìm cách lên. Đi đến cuối hang, tôi thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú bị nhốt trong cũi sắt. Tôi dùng cung tên vàng bắn tan cũi sắt và cứu chàng ra. Chàng trai cho biết mình là thái tử con vua Thủy Tề.

Thái tử thoát nạn, cám ơn tôi và mời tôi xuống thủy phủ chơi. Vua Thủy Tề vui mừng được gặp lại con. Biết tôi là người cứu con trai mình, vua Thủy Tề cảm ơn tôi và biếu tôi rất nhiều vàng bạc châu báu. Tôi không lấy vàng bạc châu báu mà chỉ xin một cây đàn, rồi tôi trở về gốc đa.

Một hôm, tôi bị quân lính của nhà vua tới và bắt giam tôi vào ngục. Lúc đó, tôi mới biết của cải của nhà vua bị mất trộm và được giấu ở gốc đa nơi tôi ở. Tôi bị bắt vì nhà vua cho là chính tôi đã ăn trộm. Lúc đó tôi mới nghĩ là chính chằn tinh và đại bàng bị giết đã báo thù tôi.

Trong ngục tối, tôi đem đàn vua Thủy Tề cho ra gảy. Không ngờ tiếng đàn của tôi vẳng đến hoàng cung. Nàng công chúa được tôi cứu đòi vua cha cho được gặp người đánh đàn. Nhà vua cho đưa tôi đến. Trước mặt mọi người, tôi kể hết đầu đuôi câu chuyện của mình, từ chuyện kết bạn với Lý Thông, đến chuyện chém chằn tinh, giết đại bàng, cứu công chúa và cuối cùng bị bắt oan vào ngục thất.

Cho đến lúc này tôi mới biết chằn tinh không phải vua nuôi mà Lý Thông đã nham hiểm lừa tôi đi chết thay cho hắn. Và lúc này, tôi cũng mới biết, nàng công chúa đã bị câm sau khi được tôi cứu khỏi hang. Nàng chỉ vui cười trở lại khi nghe tiếng đàn của tôi.

Nhà vua cho bắt mẹ con Lý Thông giam lại và giao cho tôi xét xử. Nhà vua gả công chúa cho tôi. Lễ cưới tưng bừng nhất kinh kì. Hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn lấy làm tức giận, họ hội binh lính của mười tám nước sang đánh. Tôi xin nhà vua đừng động binh.

Tôi lấy đàn thần ra gảy. Quân mười tám nước bủn rủn chân tay không còn nghĩ gì đến chuyện đánh nhau nữa. Cuối cùng, tất cả đều phải xin hàng.

Tôi sai dọn một bữa cơm thết đãi những kẻ thua trận. Tôi cho dọn ra một niêu cơm nhỏ. Cả mấy vạn tướng lính thấy niêu cơm như vậy liền bĩu môi cười. Tôi liền hứa sẽ trọng thưởng cho người ăn hết niêu cơm. Quân mười tám nước ăn mãi không hết. Cơm trong niêu hết lại đầy. Tất cả cúi đầu lạy tạ vợ chồng tôi rồi kéo quân về nước.

Vì không có con trai nối ngôi, nhà vua đã nhường ngôi cho tôi. Từ đó, tôi làm một ông vua tốt và dân chúng có cuộc sống no ấm, yên bình.

Tôi là Lý Thông, một người chuyên bán rượu. Trong một lần đi bán rượu ở xã Cao Bình, ngồi nghỉ chân tại một quán nước gần gốc đa, tôi thấy một người vác về một đống củi to. Tôi nghĩ bụng đây chắc chắn là một người có sức khỏe phi thường, liền lấn lá làm quen. Cậu ta tên là Thạch Sanh, từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, của cải chẳng có gì ngoài chiếc búa cha để lại. Tôi biết tên này thật thà, dễ lợi dụng nên đã quyết định kết nghĩa anh em với Thạch Sanh, rồi bảo cậu ta về ở cùng với mình và mẹ già.

Từ ngày có Thạch Sanh, mẹ con tôi đỡ vất vả đi nhiều. Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh rất hung ác, phép thuật vô song, thường xuyên bắt người ăn thịt. Để yên ổn, dân làng tình nguyện nộp người cho nó để nó ăn thịt, không quấy phá dân làng nữa. Lần đó, đến lượt tôi, tôi bèn nghĩ ra cách là nhờ Thạch Sanh đi thay mình. Tối đó, tôi mời Thạch Sanh ăn uống no say, rồi cất lời nhờ cậy đi trông miếu thay. Thạch Sanh không nghĩ ngợi nhiều liền nhận lời ngay. Tôi và mẹ vui mừng lắm.

Đêm hôm đó, tôi đang ngủ say thì bỗng có tiếng gọi của Thạch Sanh. Mẹ con tôi nghĩ Thạch Sanh về đòi mạng, van xin khẩn thiết. Thạch Sanh mới kể lại chuyện giết chằn tinh, bây giờ mẹ con tôi mới an tâm. Tôi còn nghĩ ra một kế lừa Thạch Sanh rằng đó là con vật nhà vua nuôi, không giết được và bảo Thạch Sanh về lại gốc đa cũ đi. Thạch Sạch tin lời ngay. Sau khi lừa được Thạch Sanh, tôi liền mang đầu chằn tinh lên quan lĩnh thưởng. Tôi được vua khen ngợi và phong làm đô đốc.

Năm đó, nhà vua có một người con gái đến tuổi lấy chồng nhưng chưa chọn được ai thích hợp. Vua cha bèn nghĩ ra cách ném cầu kén rể, ai bắt được cầu sẽ được làm phò mã. Nhưng khi công chúa vừa lên lầu chuẩn bị ném cầu thì bị một con đại bàng cắp đi mất. Tôi được vua cha giao cho nhiệm vụ đi tìm công chúa. Tình cờ, tôi gặp được Thạch Sanh. Tôi kể cho cậu ta nghe về việc đang đi tìm công chúa. Thạch Sanh nói rằng mình biết hang của đại bàng và đề nghị được đi cùng. Cậu ta dẫn tôi cùng quân lính đến hang của đại bàng. Tôi buộc dây vào thắt lưng hắn, dặn rằng khi vào cứu được công chúa thì hãy lấy dây để kéo công chua lên, sau đó sẽ thả dây xuống để cứu em. Khi Thạch Sanh cứu được công chúa, tôi sai người lấp cửa hang lại.

Từ lúc công chúa về cung không nói không rằng, nhà vua rất lo lắng. Tôi đã mời rất nhiều nhà sư, đạo gia về để lễ tế nhưng không có tác dụng. Một hôm, trong từ trong tù phát ra một tiếng đàn của ai đó. Bỗng công chúa cất tiếng nói và muốn gặp người đánh đàn. Vua liền truyền người đánh đàn vào cung. Thì ra lại chính là Thạch Sanh. Cậu ta kể rõ sự tình cho nhà vua. Nghe xong, vua rất tức giận, sai người trừng phạt tôi. Nhưng Thạch Sanh nể tình nghĩa năm xưa nên đã tha mạng cho tôi.

Sau khi cha mẹ mất, tôi và anh trai sống cùng nhau. Chúng tôi chăm chỉ làm lụng nên cũng đủ ăn. Từ ngày có vợ, anh của tôi đâm ra lười biếng. Vợ chồng tôi phải làm lụng vất vả mới có của ăn của để.

Một hôm, anh trai gọi tôi đến bàn bạc chuyện chia gia tài. Vì là phận em, tôi xin được nghe theo lời anh. Tôi nhận được một túp lều nhỏ, ở trước cửa có một cây khế. Dù khó khăn, nhưng tôi và vợ vẫn sống hạnh phúc, êm đềm. Hằng ngày, tôi và vợ vẫn thay nhau chăm sóc cây khế. Đến mùa, những chùm quả chín lúc lỉu trên cây. Tôi và vợ bàn nhau hái khế ra chợ bán. Sáng hôm đó, tôi ra vườn cây để hái khế thì nghe thấy trên ngọn cây có tiếng rung mạnh như có người. Tôi gọi vợ ra xem, thì nhìn thấy một con chim lớn đang ăn khế chín. Tôi lấy làm lạ lắm, chưa bao giờ thấy một con chim nào to như vậy. Tôi liền bảo vợ cứ đợi cho chim ăn xong mới ra hái. Suốt một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm.

Vợ tôi xót ruột. Một hôm thấy chim đang ăn khế, liền chạy ra nói:

– Ông chim ơi, ông ăn như thế thì nhà cháu còn khế đâu mà bán! Cả nhà cháu chỉ nhờ vào cây khế thôi!

Chim nói:

– Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Nghĩ đây chắc hẳn là chim thần, tôi bảo vợ làm theo lời chim nói. Sáng sớm hôm sau, chim thần bay đến. Tôi xách túi ra, chim nằm rạp xuống đất cho tôi trèo lên. Tôi ngồi trên lưng chim mà lòng có chút lo lắng. Chim bay qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả. Ra tới giữa biển, chim rẽ vào một cái đảo, rồi đáp xuống cửa một cái hang.

Chim ra hiệu cho tôi bước vào. Ngay từ cửa đã có rất nhiều thứ đá trong như thủy tinh và hổ phách đủ thứ màu. Tôi thấy hang sâu và rộng nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra ngoài. Tôi bảo chim thần bay về. Chim lại cất cánh đưa tôi về nhà. Từ đó, cuộc sống của gia đình tôi trở nên khá giả hơn trước. Chúng tôi còn giúp đỡ được rất nhiều người dân nghèo khổ.

Một hôm, anh trai của tôi đến chơi. Tôi đoán biết anh nghe được chuyện nên đến hỏi thăm. Nghe anh hỏi chuyện, tôi liền kể cho anh nghe. Anh liền thương lượng để đổi tài sản của mình lấy túp lều và cây khế. Thầy anh nài nỉ mãi, tôi cũng ưng thuận.

Kể từ đó, anh trai và chị dâu của tôi dọn đến ở trong túp lều. Tôi nghe người trong làng kể lại. Hằng ngày, họ chỉ ngồi ăn rồi chờ chim đến. Một buổi sáng nọ, khi thấy luồng gió mạnh nổi lên, và ngọn cây khế rung chuyển. Họ biết là chim thần đến liền nói:

– Chim thần ơi, cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn thì tôi lấy gì mà sống?

Chim thần cũng nói y như với tôi:

– Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Anh trai và chị dâu của tôi cứ bàn qua tính lại. Rồi cuối cùng họ quyết định may cái túi to gấp ba lần, như một cái tay nải lớn. Sáng hôm sau, chim thần đến đưa anh tôi ra hòn đảo. Nhìn thấy vàng bạc, kim cương, anh trai tôi cố nhặt cho đầy túi. Không chỉ vậy, anh ta còn cho cả vào túi quần, túi ào. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Anh trai tôi bị sóng cuốn trôi, bao nhiêu của cải mất hết. Còn chim thần chỉ bị ướt lông, ướt cánh nên lại vùng lên trời bay đi. May có người dân đánh cá ngang qua mới cứu được. Anh trai tôi trở về, kể rõ sự tình cho tôi nghe và tỏ ra rất hối hận.

Cha mẹ mất sớm, tôi sống cùng với em trai. Hai anh em tôi chăm chỉ làm ăn. Rồi tôi và em trai cũng đến tuổi lấy vợ. Từ đó, tình cảm giữa hai chúng tôi không còn mặn mà như xưa nữa.

Hai vợ chồng tôi tính đến chuyện ở riêng cho hai vợ chồng người em. Tôi bàn với vợ, lấy tài sản và chia cho em trai căn nhà tranh lụp xụp trước nhà có một cây khế. Tuy vậy, hai vợ chồng cậu em không phàn nàn một lời, vẫn chịu khó làm ăn. Cho đến một hôm nghe người ta nói chuyện hiện nay vợ chồng người em đã rất giàu có thì tôi lấy làm tò mò liền sang gặp gỡ hỏi thăm. Em trai tôi thật thà nên đã kể lại mọi chuyện cho tôi nghe.

Hằng ngày, vợ chồng nó vẫn chăm sóc cho cây khế. Đến mùa, cây khế ra hoa kết trái và thu hoạch, em tôi mang ra chợ bán. Bỗng một hôm, có con chim lạ bay đến ăn khế của em. Nó ăn rất nhiều khế trên cây, ăn những quả thơm ngon nhất, cứ như thế suốt gần tháng trời.

Em tôi liền nói với chim, thì nó trả lời thế này:

Biết rõ câu chuyện, tôi bàn mưu cùng vợ, gạ đổi hết tài sản của mình để lấy túp lều tranh và cây khế. Thế là từ đó, tôi chỉ có một việc là trông mong chim lạ bay đến ăn khế. Lâu dần, con chim cũng xuất hiện. Không thể kiên nhẫn ợi lâu hơn nữa, khi chim thần vừa ăn được vài quả tôi đã chạy ra hỏi như những gì em tôi đã nói. Và tôi cũng được chim lạ trả lời y hệt. Chỉ chờ có thế, vợ chồng tôi hí hửng, vội vàng may túi. Nhưng không phải túi ba gang như cậu em ngốc nghếch, tôi may hẳn một túi sáu gang.

Tôi là Sọ Dừa. Khi mẹ sinh ra, tôi không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như quả dừa. Bà buồn quá, định vứt tôi đi, thì tôi liền nói:

– Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp.

Vì thương tôi nên mẹ đã để lại nuôi, đặt cho tôi cái tên là Sọ Dừa. Lớn lên, tôi vẫn như lúc nhỏ, lăn lông lốc trong nhà. Mẹ liền nói với tôi:

– Con nhà người ta báy tám tuổi đã đi ở chăn bò, còn mày chẳng được tích sự gì.

Tôi liền bảo với mẹ:

– Chuyện gì chứ chăn bò con cũng làm được. Mẹ cứ xin phú ông cho con đi chăn bò.

Nghe vậy, mẹ tôi liền đến hỏi phú ông. Từ đó tôi đến ở nhà phú ông. Ngày ngày, tôi lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà, đàn bò béo tốt hẳn ra. Tôi thấy phú ông mừng ra mặt.

Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho tôi. Hai cô chị độc ác nên thường hắt hủi tôi. Chỉ có cô út hiền lành, đối xử với với tôi.

Một hôm, tôi biến thành người, ngồi thổi sáo trên lưng trâu thì tiếng động, biết có người nên tôi lại hóa về hình dáng cũ. Từ đó, cô út càng chăm sóc tôi nhiều hơn, có thức ăn ngon lại giấu đem cho tôi.

Cuối mùa ở, tôi liền về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ. Mẹ tôi ửng sốt lắm, nhưng thấy tôi năn nỉ mãi nên cũng sang hỏi phú ông. Khi trở về, bà nói rằng phú ông yêu cầu phải sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm mới đồng ý gả con gái. Tôi nói với mẹ cứ yên tâm.

Đến ngày hẹn, mẹ tôi vô cùng ngạc nhiên khi trong nhà bỗng có đủ những lễ vật mà phú ông yêu cầu. Không chỉ vậy, còn có chục giai nhân khiêng sính lễ sang nhà phú ông. Phú ông liền hỏi ba cô con gái xem có ai đồng ý, thì chỉ có cô út.

Trong ngày cưới, tôi cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, tôi biến thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú sang đón cô út về làm vợ. Hai vợ chồng tôi sống hạnh phúc. Tôi ngày đêm miệt mài đèn sách và thi đỗ trạng nguyên. Chẳng bao lâu, nhà vua cử tôi đi sứ. Trước khi đi, tôi đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giữ luôn các thứ ấy bên mình để có lúc cần dùng đến.

Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, tôi nghe thấy tiếng con gà trống gáy vang ba lần:

– Ò… ó… o… Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.

Tôi hạ lệnh cho thuyền vào xem, thì gặp lại vợ mình. Vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc. Tôi đưa vợ về nhà, mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai người chị của vợ tôi tranh nhau kể chuyện nàng gặp phải rủi ro, tỏ vẻ thương tiếc lắm. Tôi không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Nhìn thấy em mình đã trở về bình an, họ xấu hổ bỏ về.

Một hôm, trời nắng to. Tôi đi vào rừng hái củi cho chủ, nhưng khát nước quá mà không tìm thấy suối. Thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, tôi bưng lên uống.

Không ngờ, về nhà thì mang thai. Tôi sinh ra một đứa trẻ không chân, không tay, tròn như một quả dừa. Tôi buồn lắm, toan vứt đi đứa con bảo:

– Mẹ ơi, con là người đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp.

Nghĩ lại, thấy thương con, tôi đành để con lại nuôi và đặt tên cho nó là Sọ Dừa. Lớn lên, Sọ Dừa vẫn không khác lúc nhỏ, cứ lăn lông lốc trong nhà, chẳng làm được tích sự gì. Tôi cứ than phiền:

– Con nhà người ta bảy, tám tuổi đã đi chăn bò, chăn trâu. Họ giúp bố mẹ được nhiều việc. Còn mày thì chẳng làm được việc gì cả.

Nghe lời tôi nói như vậy, Sọ Dừa nói:

– Gì chứ chăn bò thì con chăn cũng được. Mẹ cứ nói với phú ông cho con ở chăn bò.

Nghe con nói như vậy, tôi liền đến hỏi phú ông. Phú ông đồng ý. Sọ Dừa chăn bò rất giỏi, con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng lắm. Đến mùa, tôi tớ trong nhà ra đồng hết nên ba cô con gái phải thay phiên nhau đi đưa cơm cho Sọ Dừa. Nghe Sọ Dừa kể lại thì hai cô chị rất ác nghiệt, kiêu căng luôn hắt hủi nó. Còn cô út rất hiền lành, tính hay thương người nên đối đãi với nó rất tử tế. Có của ngon vật lạ cô út thường giấu đem cho Sọ Dừa.

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi cuối năm ấy, Sọ Dừa giục tôi đến hỏi con gái nhà phú ông làm vợ. Tôi nghĩ một người ở như Sọ Dừa làm sao sánh được với con gái nhà phú ông nhưng vì thương con nên cũng nghe theo. Tôi sắm một buồng cau rồi đến nhà phú ông thưa chuyện. Thấy tôi đặt vấn đề hỏi con gái phú ông cho Sọ Dừa. Ông ta cười mỉa và nói vẻ thách thức:

– Ừ, được! Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.

Nghe ông ta nói vậy tôi bàng hoàng và nghĩ rằng chẳng bao giờ có đủ các thứ đó. Về nhà tôi nói với Sọ Dừa và khuyên nó đừng bao giờ nghĩ đến việc lấy vợ nữa. Không ngờ Sọ Dừa nói với tôi một cách quả quyết:

– Mẹ đừng lo con sẽ lo đủ các thứ đó.

Đúng hẹn, tự nhiên tôi thấy trong nhà có bao nhiêu đồ sính lễ, lại có cả chục gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà phú ông. Lúc đó tôi nghĩ rằng Sọ Dừa không phải là người trần. Phú ông nhìn thấy lễ vật, hoa cả mắt, lúng túng nói với tôi:

– Để ta hỏi con gái ta xem, có đứa nào ưng lấy thằng Sọ Dừa.

Lão gọi ba đứa con gái ra rồi lần lượt hỏi. Hai cô chị bĩu môi chê bai. Còn cô út cúi mặt xuống, tỏ ý bằng lòng. Phú ông đành phải nhận lễ và gả cô con gái cho Sọ Dừa.

Lúc gần rước dâu, tôi chẳng thấy Sọ Dừa đâu mà chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú cùng cô út của phú ông từ phòng cô dâu đi ra. Mọi người đều sửng sốt, mừng rỡ. Hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Thấy cô út là đứa con dâu hiền lại hiếu thảo nên tôi cũng mừng thầm.

Ngày ngày Sọ Dừa thì mải mê đèn sách chờ khoa thi, còn cô út thì se tơ dệt vải. Ngày thi đã đến Sọ Dừa đã đỗ Trạng nguyên không bao lâu nhà vua ban chiếu quan trạng đi sứ. Hai vợ chồng Sọ Dừa chia tay nhau nhưng vô cùng quyến luyến, khiến tôi không khỏi động lòng. Trước khi lên đường Sọ Dừa còn gọi vợ vào nhà và dặn dò kĩ lắm.

Một hôm hai cô chị đến xin phép tôi cho cô út đi chơi. Nghĩ bụng con dâu phải xa chồng nên buồn bực, tôi liền đồng ý cho cô út đi chơi cùng cho khuây khoả. Thế rồi từ hôm đó, chẳng thấy cô út về, tôi lo lắng chạy sang nhà hỏi phú ông thì hai cô chị kể rằng: Khi chèo thuyền ra biển cô út đã sảy chân ngã xuống biển chết. Nghe tin đó tôi vô cùng đau lòng, thương xót cho cô con dâu hiền lành xấu số. Hết hạn đi sứ Sọ Dừa đã trở về, tôi không ngờ nó lại cùng đi với vợ nữa. Nghe con kể lại, tôi mới biết rõ sự tình.

Tôi vốn là công chúa độc nhất của vua cha. Vốn xinh đẹp, lại được nuông chiều từ nhỏ nên tôi khá kiêu. Khi đến tuổi gả chồng, rất nhiều người đến cầu hôn nhưng đều bị tôi từ chối. Thậm chí tôi còn chế giễu, nhạo báng họ. Một lần nọ, vua cha cho mời các chàng trai ở khắp các nước xa gần tới mở tiệc linh đình để chọn phò mã. Rất nhiều người đến, họ đứng theo ngôi thứ, đứng trên cùng là vua các nước rồi các công tước, các ông hoàng, các bá tước, các nam tước, cuối cùng là những người dòng dõi quý tộc.

Tôi được vua cha dẫn đi xem mắt từng người. Nhưng chẳng có ai là tôi cảm thấy vừa ý: người thì quá mập; người quá mảnh khảnh; người thì lại lùn; người thì mặt mày xanh xao… Cuối cùng, tôi nhìn thấy một người có cằm hơi cong như mỏ chim chích chòe, tôi nói anh ta chẳng khác gì chim chích choè có mỏ. Từ đó, tôi nghe đồn anh ta được mọi người gọi là Vua chích chòe.

Thấy tôi chê bai và giễu cợt tất cả mọi người xung quanh, vua cha nổi cơn thịnh nộ và ban truyền, nếu có người ăn mày nào đi qua cung vua, vua sẽ gả tôi cho người ấy.

Mấy hôm sau có một người hát rong đi qua, đứng ngây dưới cửa sổ cất tiếng hát, mong sẽ được ban thưởng cho vài xu. Nghe thấy vậy nhà vua ban truyền:

– Hãy cho tên hát rong vào đây!

Người hát rong đi vào cung vua, hát cho vua và tôi nghe, rồi đưa tay xin tiền thưởng. Nhà vua bảo:

– Ta rất thích tiếng hát của ngươi, vì vậy ta gả con gái ta cho ngươi.

Tôi sợ hãi, van xin nhưng vua cha vẫn kiên quyết:

– Cha đã thề rằng sẽ gả con cho người ăn mày đầu tiên đi qua cung vua, cha muốn giữ lời thề đó.

Lời van xin chẳng làm lay chuyển vua cha. Linh mục được mời ngay tới để làm hôn lễ của tôi lấy người hát rong. Hôn lễ cử hành xong, vua cha nói với tôi:

– Theo tục lệ, vợ một người hát rong không được ở lâu lại trong cung vua, giờ thì con phải theo chồng ra khỏi cung.

Tôi buồn bã đi theo người chồng của mình. Tới một khu rừng lớn, tôi hỏi:

– Rừng đẹp này của ai?

Anh ta nói:

– Rừng của Vua chích choè, nếu nàng lấy ông ta thì hẳn rừng đã là của nàng.

Tôi tiếc nuối thốt lên:

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Một lúc sau tới một thảo nguyên, tôi lại hỏi:

– Thảo nguyên xanh đẹp của ai?

– Thảo nguyên của Vua chích choè.

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Rồi chúng tôi tới một thành phố lớn, tôi lại hỏi:

– Thành phố mỹ lệ này của ai?

– Thành phố mỹ lệ của Vua chích choè.

– Tôi thật đáng thương, đáng lẽ ra tôi nên đồng ý lấy Vua chích chòe.

Chồng tôi liền nói:

– Tôi không hài lòng một chút nào, tại sao nàng lại cứ luôn luôn mong có người chồng khác, thế tôi không xứng đáng hay sao?

Tôi không nói được gì nữa, mà chỉ lặng lẽ đi theo sau. Tới một túp lều, tôi lại hỏi:

– Trời ơi, nhà ai mà nhỏ, thảm thương thế này?

Chồng tôi đáp:

– Nhà của chúng ta đó!

Tôi cúi người bước vào trong, rồi hỏi:

– Người hầu của anh đâu?

Anh ta trả lời:

– Người hầu nào? Muốn làm gì thì tự mình làm lấy. Giờ em hãy nhóm bếp nấu ăn đi, anh mệt lắm rồi.

Nhưng tôi nào có biết nhóm bếp và nấu ăn, chồng tôi đành phải nhúng tay vào làm công việc mới xong. Sau bữa ăn, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi. Ngày hôm sau, tôi bị chồng đánh thức dậy để làm việc nhà. Cứ như vậy mấy ngày thì lương ăn dự trữ hết. Người hát rong bảo tôi:

– Mình ạ, chỉ ngồi ăn không kiếm được thêm gì cả cứ như thế này mãi chắc không được lâu, hay là em đan sọt bán.

Anh ta vào rừng lấy tre nứa về, tôi phải chẻ lạt đan sọt. Nhưng bàn tay của tôi bị cạnh sắc của tre nứa cửa rỉ máu. Chồng nói với tôi:

– Thế thì không được, có lẽ dệt vải hợp với em hơn.

Tôi ngồi tập quay sợi, nhưng rồi những ngón tay lại bị sợi cứa chảy máu. Chồng tôi nói:

– Em chẳng thể làm được việc gì, sống với em thật khổ. Giờ thì chắc ta phải xoay ra đi buôn nồi và bát đĩa. Em ngồi ở chợ và bán hàng.

Tôi nghe vậy, thì nghĩ bụng:

– Nếu như dân nước mình họ tới đây mua bán, nhìn thấy mình họ sẽ cười nhạo mình mất.

Nhưng tôi vẫn phải làm theo lời chồng mình. Lúc đầu, khách đến mua khá đông, họ trả tiền hàng mà không hề mặc cả, thậm chí có người trả tiền nhưng không lấy hàng. Cuộc sống của vợ chồng tôi khá sung túc. Một lần nọ, tôi đang ngồi coi hàng thì có một anh chàng hiệp sĩ từ xa phi ngựa lao thẳng vào chợ làm cho đống hàng sành sứ của tôi đổ vỡ hết cả ra thành hàng nghìn mảnh lớn nhỏ ngổn ngang ở chợ. Tôi sợ hãi, ngồi ôm mặt khóc:

– Trời, khổ thân tôi thế này, còn mặt mũi nào mà nhìn chồng nữa?

Về nhà, tôi kể cho chồng nghe chuyện chẳng may ấy. Nghe xong chuyện, chồng tôi trách móc, rồi nói rằng đã hỏi được công việc phụ bếp trong cung cho tôi. Một hôm, trong cung vua tổ chức hôn lễ cho nhà vua, tò mò tôi cũng len vào đứng trước cửa ngõ vào. Khi đèn lần lượt được thắp sáng, cảnh đẹp lộng lẫy trong cung vua mới hiện lên hết. Tôi thấy vậy mà buồn tủi thay cho số phận của mình, tôi hối hận chỉ vì tính kiêu căng, ngông cuồng đã khiến mình trở nên như hôm nay. Bỗng nhiên nhà vua bước vào, lụa là châu báu đầy người, cổ đeo dây chuyền vàng. Nhà vua nhìn thấy tôi, bước tới tỏ ý muốn tôi nhảy cùng. Tôi sợ hãi lùi lại.

Tôi nhận ra đó là Vua chích chòe, liền giật tay lại nhưng chẳng ăn thua gì cả, vẫn bị người kéo vào tới giữa phòng làm dây buộc nồi đứt, hai cái nồi rơi xuống đất, súp và bánh mì vung ra khắp nền nhà. Khách khứa và những người đứng đó thấy cảnh tượng ấy đều bật cười và chêm pha những lời nhạo báng. Tôi vô cùng xấu hổ, giật mạnh một cái khỏi tay Vua chích choè, lao thẳng ra phía cửa để chạy trốn, nhưng mới tới được cầu thang lại bị một người đàn ông lôi lại, khi định thần lại được, nàng thấy người đó lại chính là Vua chích choè:

– Em đừng có sợ hãi, người hát rong sống chung với em trong căn lều lụp xụp chính là anh. C hính anh cũng là kỵ sĩ cho ngựa chạy đổ vỡ hết hàng sành sứ của em. Tất cả những việc đó chỉ nhằm uốn nắn tính kiêu ngạo của em.

Tôi nghe xong liền bật khóc:

– Em đã làm những điều sai trái, không xứng đáng là vợ của anh.

Nhưng chàng đã nói với tôi:

– Em đừng buồn nữa, những ngày cay đắng đã qua, giờ chúng ta hãy làm đám cưới.

Tôi nghe theo lời Vua chích chòe, vào thay quần áo. Toàn thể triều đình đều có mặt để chúc mừng.

Tại một vương quốc có một cô công chúa xinh đẹp tuyệt trần, nhưng tính tình lại kiêu ngạo. Một lần, nhà vua cho mời các chàng trai ở khắp các nước xa gần tới mở tiệc linh đình để chọn phò mã. Các vị khách đứng theo thứ bậc, trên cùng là vua các nước rồi các công tước, các ông hoàng, các bá tước, các nam tước, cuối cùng là những người dòng dõi quý tộc. Ta vốn là quốc vương nước láng giềng nên cũng được mời tới.

Công chúa được dẫn đi xem mắt. Người nào nàng cũng tìm ra điểm để giễu cợt họ. Đến lượt ta, nàng liền chế giễu ta có cái cằm chẳng khác gì chim chích choè có mỏ. Từ đó trở đi, mọi người bắt đầu gọi ta là Vua chích choè. Sau khi bị nàng châm chọc, ta cảm thấy rất tức giận, và quyết định sẽ trị thói kiêu căng của nàng.

Nghe tin vua cha của nàng nổi cơn thịnh nộ và ban truyền, nếu có người ăn mày nào đi qua hoàng cung, ông sẽ gả công chúa cho người đấy. Ta liền cải trang thành một người hát rong, đi đến trước hoàng cung và cất tiếng hát. Một lúc sau, nhà vua cho gọi ta vào, hát cho vua và công chúa nghe. Xong, nhà vua bảo với ta:

– Ta rất thích tiếng hát của ngươi, vì vậy ta gả con gái ta cho ngươi.

Ta thấy công chúa van xin, nhưng vẫn không thể lay chuyển được nhà vua. Ông nói:

– Cha đã thề rằng sẽ gả con cho người ăn mày đầu tiên đi qua cung vua, cha muốn giữ lời thề đó.

Một vị linh mục được mời ngay tới để làm hôn lễ của công chúa và ta. Hôn lễ cử hành xong, vua cha nói với công chúa:

– Theo tục lệ, vợ một người hát rong không được ở lâu lại trong cung vua, giờ thì con phải theo chồng ra khỏi cung.

Công chúa dù rất buồn bã, nhưng vẫn phải đi theo ta. Tới một khu rừng lớn, công chúa liền hỏi:

– Rừng đẹp này của ai?

Ta trả lời:

– Rừng của Vua chích choè, nếu nàng lấy ông ta thì hẳn rừng đã là của nàng.

Công chúa tiếc nuối thốt lên:

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Một lúc sau tới một thảo nguyên, nàng lại hỏi:

– Thảo nguyên xanh đẹp của ai?

Ta đáp:

– Thảo nguyên của Vua chích choè.

Công chúa lại than thở:

– Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Rồi họ tới một thành phố lớn, công chúa hỏi tiếp:

– Thành phố mỹ lệ này của ai?

Ta đáp:

– Thành phố mỹ lệ của Vua chích choè.

Nàng bật khóc, than rằng:

– Tôi thật đáng thương, đáng lẽ ra tôi nên đồng ý lấy Vua chích chòe.

Ta nói:

– Tôi không hài lòng một chút nào, tại sao nàng lại cứ luôn luôn mong có người chồng khác, thế tôi không xứng đáng hay sao?

Công chúa không nói được gì nữa, mà chỉ lặng lẽ đi theo sau. Tới một túp lều, nàng hỏi ta:

– Trời ơi, nhà ai mà nhỏ, thảm thương thế này?

Ta liền trả lời:

– Nhà của chúng ta đó!

Nàng phải cúi người xuống mới bước vào trong được, rồi hỏi:

– Người hầu của anh đâu?

Ta nói với nàng:

– Người hầu nào? Muốn làm gì thì tự mình làm lấy. Giờ em hãy nhóm bếp nấu ăn đi, anh mệt lắm rồi.

Ta biết ngay rằng công chúa nào có biết nhóm bếp và nấu ăn, cuối cùng phải tự nhúng tay vào làm công việc mới xong. Sau bữa ăn, hai vợ chồng ta mệt mỏi ngủ thiếp đi. Ngày hôm sau, ta liền đánh thức dậy làm việc nhà. Cứ như vậy mấy ngày thì lương ăn dự trữ hết. Ta nói với công chúa:

– Mình ạ, chỉ ngồi ăn không kiếm được thêm gì cả cứ như thế này mãi chắc không được lâu, hay là em đan sọt bán.

Sau đó, ta vào rừng lấy tre nứa về, còn công chúa phải chẻ lạt đan sọt. Nhưng bàn tay của nàng bị cạnh sắc của tre nứa cửa rỉ máu. Ta thấy vậy, dù rất đau lòng, nhưng vẫn nói với nàng:

– Thế thì không được, có lẽ dệt vải hợp với em hơn.

Nàng ngồi tập quay sợi, nhưng rồi những ngón tay lại bị sợi cứa chảy máu. Ta lại bảo với công chúa:

– Em chẳng thể làm được việc gì, sống với em thật khổ. Giờ thì chắc ta phải xoay ra đi buôn nồi và bát đĩa. Em ngồi ở chợ và bán hàng.

Advertisement

Công chúa không mấy vui vẻ, nhưng vẫn phải đồng ý. Lúc đầu, công việc diễn ra khá suôn sẻ. Nhưng một hôm, nàng chạy về khóc lóc kể cho ra nghe chuyện nồi niêu, bát đĩa đã bị vỡ hết. Nghe xong chuyện, ta liền trách móc nàng:

– Đời thuở nhà ai bán sành sứ mà lại ngồi ngay đầu chợ chỗ người ta qua lại, khóc làm chi nữa. Anh thấy em chẳng làm gì cho đến đầu đến cuối. Lúc nãy, anh có đến cung vua hỏi xem nhà bếp có cần người phụ không, họ hứa sẽ nhận em vào làm và nuôi cơm.

Công chúa giờ đây đã là một chị phụ đầu bếp. Nàng đã bớt đi thói kiêu ngạo, và chịu khó làm ăn. Ta quyết định sẽ nói rõ mọi chuyện với nàng. Ta cho tổ chức tiệc linh đình. Khi nhìn thấy công chúa, ta bước tới tỏ ý muốn nàng nhảy cùng. Nàng liền giật tay lại tỏ ý từ chối, nhưng chẳng ăn thua gì cả, vẫn bị ta kéo vào tới giữa phòng làm dây buộc nồi đứt, hai cái nồi rơi xuống đất, súp và bánh mì vung ra khắp nền nhà. Khách khứa và những người đứng đó thấy cảnh tượng ấy đều bật cười và chêm pha những lời nhạo báng. Công chúa vô cùng xấu hổ, giật mạnh một cái khỏi tay ta, rồi lao thẳng ra phía cửa để chạy trốn. Ta chạy theo và nói với công chúa:

– Em đừng có sợ hãi, người hát rong sống chung với em trong căn lều lụp xụp chính là anh. Chính anh cũng là kỵ sĩ cho ngựa chạy đổ vỡ hết hàng sành sứ của em. Tất cả những việc đó chỉ nhằm uốn nắn tính kiêu ngạo của em.

Nàng nói:

– Em đã làm những điều sai trái, không xứng đáng là vợ của anh.

Ta liền an ủi nàng:

– Em đừng buồn nữa, những ngày cay đắng đã qua, giờ chúng ta hãy làm đám cưới.

Công chúa nghe theo lời ta, vào thay quần áo. Toàn thể triều đình đều có mặt để chúc mừng.

Một buổi trưa nọ, tôi và cha đang phải cày ruộng. Bất chợt, tôi thấy một người đàn ông ăn mặc sang trọng cưỡi ngựa đến, có lẽ là quan của nhà vua, ông bèn hỏi cha tôi:

– Này ông kia, trâu này một ngày cày được bao nhiêu đường?

Cha tôi nghe xong thì ngớ người. Tôi nghĩ bụng, ai đời lại đi hỏi câu kì lạ như vậy, chắc chắn là muốn trêu người khác rồi, tôi liền hỏi lại:

– Vậy xin quan trả lời con ngựa kia một ngày đi được bao nhiêu bước,thì tôi sẽ nói cho quan biết con trâu đi được bao nhiêu đường?

Quan lúng túng không biết trả lời, rồi quan bỗng hỏi tên hai cha con, tôi cũng không nghĩ nhiều mà khai báo.

Mấy tuần sau, làng tôi nhận được chiếu vua, vua ban cho làng ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, năm sau làng phải nuôi cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, thiếu con nào thì sẽ bị phạt. Mọi người đều biết chuyến này lành ít dữ nhiều, được vua quan tâm thì tốt nhưng ai lại làm được trâu đực đẻ con? Cái khó ló cái khôn, tôi chợt nảy ra một kế. Tôi nói với cha:

– Cha cứ bảo cả làng lấy hai con trâu và hai thúng gạo mà ăn, còn lại thì bán đi để hai cha con ta lên kinh thành.

Cha và mọi người lúc đầu còn lo lắng nhưng nghe tôi trấn an, còn làm giấy cam đoan với làng thì yên tâm hơn.

Lên đến kinh vua, nhân lúc lính canh không để ý, tôi lẻn vào sân rồng khóc ầm lên làm nhà vua đang chầu triều phải dừng lại, điệu tôi vào trong. Vua hỏi:

– Thằng bé kia, tại sao lại đến đây mà khóc?

Tôi mới ấm ức phân bua:

– Mẹ con chết sớm mà cha không chịu đẻ em bé cho con chơi, con buồn lắm. Kính vua ra lệnh bắt cha con phải đẻ em bé cho con…

Cả triều đình cười rộ lên, vua tủm tỉm giải thích:

– Cha mày là giống đực, làm sao mà đẻ con được?

Tôi nhanh nhảu đáp lại:

– Vậy sao vua lại bắt làng con làm trâu đực đẻ con?

Vua nhớ ra, cười nói:

– Cái đấy là thử, làng ngươi phải biết thịt trâu mà ăn chứ!

– Làng chúng con nhận được trâu và gạo liền biết đó là lộc vua ban đã làm cỗ ăn mừng rồi.

Hôm sau, tôi và cha đang ăn cơm, bỗng có người của vua mang một con chim sẻ bắt tôi phải dọn ba mâm cỗ, tôi biết ngài là vua lại thử mình liền đưa cho anh lính cây kim nhờ vua rèn thành một con dao để xẻ thịt chim. Cha con tôi được ban thưởng hậu hĩnh.

Một hôm, tôi đang ở nhà chơi với bạn, có sứ thần mang một cái vỏ ốc rất dài bị rỗng hai đầu, ông nhờ tôi dùng sợi chỉ mảnh xuyên qua vỏ ốc. Tôi liền hát:

Mãi về sau khi đã thành trạng nguyên, tôi mới hiểu được, sự nhanh trí lần đó của mình đã cứu nước khỏi giặc ngoại xâm.

– Này, lão kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?

Tôi lúng túng, chưa biết trả lời sao thì thằng bé đã nhanh miệng hỏi lại:

– Thế xin hỏi ông câu này đã. Nếu ông trả lời được ngựa của ông đi một ngày được mấy bước tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

Nhận lệnh vua, cả làng đều lo lắng. Khi trở về nhà, thằng bé liền nói với tôi:

– Chả mấy khi được lộc vua ban, bố cứ thưa với làng làm thịt hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho bố con ta trẩy kinh lo việc đó.

Tôi tỏ ý nghi ngờ, nói với thằng bé:

– Lệnh vua ban như thế, sao dân làng dám cãi lại. Con đừng nghĩ như vậy mà rồi gặp họa.

Thằng bé vẫn kiên quyết, nói đã nghĩ ra cách rồi. Hôm sau, tôi dậy sớm, đi ra đình để nói với dân làng. Cả làng nghe nói ban đầu vô cùng ngờ vực, bắt cha con tôi phải làm giấy cam đoan, mới dám ngả trâu đánh chén.

Còn tôi và thằng bé khăn gói tìm đường tiến kinh. Đến hoàng cung, thằng bé bảo tôi đứng ở ngoài, còn nó thì lẻn vào sân rồng khóc um lên. Tôi lấy làm lo lắng lắm, nhưng chỉ biết đứng chờ bên ngoài. Sau khi ra ngoài, nghe thằng bé kể lại tôi mới rõ mọi chuyện. Sau khi vào trong, nhà vua đã hỏi thằng bé:

– Thằng bé kia, ngươi có việc gì oan ức, sao phải tới đây mà khóc làm ầm ĩ cả hoàng cũng vậy?

Nó bình tĩnh trả lời:

– Tâu đức vua con đá mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.

Nghe nói, vua và các triều thần đều bật cười. Vua phán:

– Muốn có em thì phải kiếm vợ khác cho bố, chứ bố ngươi là giống đực, làm sao mà đẻ được!

Nó nói tiếp:

– Thế sao vua lại bắt làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp lên vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được kia chứ!

Vua cười bảo:

– Ta thử đấy thôi mà! Thế làng chúng mày không biết đem trâu ấy ra thịt mà ăn với nhau à?

Thằng bé hớn hở đáp:

– Tâu đức vua, làng chúng con sau khi nhận được trâu và gạo nếp, biết là lộc của đức vua, cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau rồi.

Nhà vua tỏ ra hài lòng lắm, liền ban thưởng cho thằng bé, rồi cho người đưa hai cha con tôi về quán trọ. Hôm sau, hai cha con tôi đang ngồi ăn ở quán trọ. Bỗng có sứ nhà vua mang tới cho một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Nhanh chóng suy nghĩ, thằng bé liền bảo tôi lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:

– Phiền ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.

Lập tức, vua cho gọi cả hai cha con tôi vào, ban thưởng rất hậu. Bấy giờ, có nước láng giềng lúc nào cũng lăm le xâm lược đất nước ta. Họ cử viên viên sứ giả sang thăm dò xem nước ta có nhân tài nào không. Viên sứ giả đến mang theo một con ốc vặn dài, rỗng hai đầu và một sợi chỉ mảnh, đố các quan trong triều làm thế nào để xâu được sợi chỉ qua ruột ốc. Các quan làm đủ mọi cách: người thì dùng miệng hút, người bôi sáp vào sợi chỉ cho cứng để dễ xâu. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Vua bèn mời sứ giả ở lại cùng nghỉ ngơi vài ngày, kéo dài thời gian cho người đi hỏi ý kiến con trai tôi. Lúc đó, tôi đang cặm cụi trong bếp. Còn thằng bé thì đang chơi ngoài sân cùng lũ bạn. Nghe chuyện, nó chỉ liền hát một câu:

……… Mời tham khảo chi tiết tại file tại bên dưới ……..

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Nhân Vật Cụ Mết Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 12 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!