Xu Hướng 3/2024 # Vovinam – Môn Võ Truyền Thống Đáng Tự Hào Của Người Việt # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Vovinam – Môn Võ Truyền Thống Đáng Tự Hào Của Người Việt được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Vovinam là sự kết hợp hài hoà giữa bản sắc truyền thống và tinh hoa nhân loại. Cùng chúng mình khám phá môn võ Việt Nam ngay dưới bài viết này.

Vovinam được xem là một trong những môn võ ấn tượng nhất của Việt Nam. Môn võ này đang được nhiều người quan tâm và phát triển mạnh mẽ. Nếu bạn đang tìm kiếm một phương pháp phòng thân tối ưu thì Vovinam sẽ là một lựa chọn không nên bỏ qua.

Tổng quan về môn phái Vovinam

Vovinam – tinh hoa võ thuật Việt Nam

Vovinam hay Võ Việt Đạo là một môn võ thuật của Việt Nam. Môn võ này được thành lập vào năm 1938 bởi Nguyễn Lộc . Nó dựa trên các môn học truyền thống của Việt Nam.

Vovinam bao gồm sử dụng tay, khuỷu tay, chân, đầu gối và các vũ khí như kiếm, dao, đục, vuốt, quạt. Học sinh cũng học cách đối phó với vũ khí cầm tay, phản đòn, khóa và đòn bẩy. Trong các môn võ Việt Nam, Vovinam là môn võ lớn nhất và phát triển nhất. Môn võ ở Việt Nam với hơn 60 môn phái trên khắp thế giới. Nó bao gồm Ba Lan , Bỉ , Campuchia , Đan Mạch , Đức , Hoa Kỳ , Maroc , Na Uy , Nga , Pháp , Romania , Thụy Sĩ , Thụy Điển , Singapore,… Trưởng Hội đồng Vovinam hiện nay là Nguyễn Văn Chiếu.

Vovinam được thực hành có và không có vũ khí. Nó dựa trên nguyên tắc giữa nhu và cương, bao gồm việc rèn luyện cơ thể cũng như trí óc. Cả kỹ thuật tấn công và phòng thủ đều được đào tạo, cũng như các hình thức, chiến đấu và đấu vật truyền thống.

Kỹ thuật tự vệ bao gồm phòng thủ chống lại các cuộc tấn công không có vũ khí từ phía sau và phòng thủ chống lại tấn công được trang bị vũ khí. Học sinh được học cách kết hợp các kỹ thuật và tự vệ trước đối thủ có vũ trang. Do đó, vũ khí đóng vai trò là thiết bị huấn luyện để đạt được sự kiểm soát tối ưu về thể chất và tinh thần.

Lịch sử hình thành Vovinam

Vovinam Việt Võ Đạo được thành lập bởi Nguyễn Lộc (1912 – 1960) vào năm 1938. Mục đích nhằm cung cấp học với một phương pháp hiệu quả để tự vệ trong một khoảng thời gian ngắn học tập. Võ sư tin rằng võ thuật sẽ góp phần giải phóng Việt Nam, vốn bị Pháp cai trị từ năm 1859 khỏi sự đô hộ. Vovinam được võ sư tổng hợp từ kungfu cổ truyền Trung Quốc kết hợp cùng võ cổ truyền Việt Nam. Bên cạnh đó có cả các yếu tố trong võ thuật Nhật Bản và Hàn Quốc.

Sau khi được mời biểu diễn Vovinam với các môn đệ tại Hà Nội, vào năm 1940 võ sư được mời dạy môn này tại Ecole Normale Hà Nội. Cũng từ đó, Vovinam đã trở nên nổi tiếng và phổ biến tại Việt Nam. Đến năm 1954, Võ sư di cư vào miền Nam Việt Nam, tiếp tục dạy võ và thành lập trường dạy Vovinam. Sau khi mất năm 1960, võ sư Lê Sang tiếp tục phát triển và quảng bá Vovinam ra quốc tế.

Trường Vovinam đầu tiên tại nước ngoài được thành lập tại Houston, Texas , bởi những người Việt di cư vào năm 1976. Đến năm 2000, các trường Vovinam đã được thành lập nhiều hơn. Tiêu biểu như tại Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Maroc, Ba Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ. Vovinam giờ đây tồn tại với tên gọi Vovinam Việt Võ Đạo. Điều này khiến môn võ không mang âm hưởng chính trị như ban đầu.

Học thuyết võ thuật Vovinam

Sự kết hợp hài hòa giữa mạnh mẽ và mềm mại

Bất cứ loại võ thuật nào đều có những học thuyết làm nền tảng. Với Vovinam, thuyết nhu cương được xem là nền tảng, cốt lõi cho mọi sự vận động.

Thuyết nhu – cương

Thuyết nhu- cương hay thuyết âm – dương cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều được khởi tạo thông qua sự tương sinh của âm – dương. Theo lý thuyết này, có những môn võ thuật dựa trên nền tảng những chuyển động mạnh, dứt khoát. Có những môn võ thuật lại ưa sự mềm mại, uyển chuyển trong các động tác. Vovinam Việt Võ Đạo là sự kết hợp hoàn hảo giữa nhu và cương, trong cương có nhu, trong nhu có cương.

Vovinam phát triển khả năng kết hợp giữa cứng và mềm trong chiến đấu và trong cuộc sống hàng ngày. Điều này nhằm mục đích phát triển khả năng thể chất cũng như tinh thần của người học võ. Không chỉ nguyên tắc hài hòa giữa cứng và mềm mà còn nhiều điều khác. Hơn hết là sự rèn luyện về đạo đức và hình thành nên tính cách của học sinh. Nhấn mạnh vào việc nhận ra bản ngã của một người và vượt qua nó.

Làm như vậy, môn sinh Vovinam sẽ có được sự rộng lượng và khoan dung với người khác. Với ý thức rằng điều quan trọng nhất trong cuộc đời không chỉ giúp đỡ bản thân mà còn giúp người khác sống hòa bình và hòa hợp với xung quanh.

10 điều tâm niệm Vovinam Việt võ đạo

Vovinam luôn đề cao tinh thần thượng võ và giá trị văn hóa. Đối với những môn sinh Vovinam thì 10 điều tâm niệm Vovinam là điều cần ghi nhớ và không thể quên. Nó hướng môn sinh đến rèn luyện thể chất, tinh thần, đạo đức, nhân cách và các đối nhân xử thế.

Điều 1: Việt Võ Đạo Sinh nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại

Điều 2: Việt võ đạo sinh nguyện trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên dấn thân hiển ích

Điều 3: Việt võ đạo sinh đồng tâm nhất trí, tôn kính người trên, thương mến đồng đạo.

Điều 4: Việt võ đạo sinh tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh sự võ sĩ.

Điều 5:  Việt võ đạo sinh tôn trọng các võ phái khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.

Điều 6: Việt võ đạo sinh chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau dồi đạo hạnh.

Điều 7:  Việt võ đạo sinh sống trong sạch, giản dị, trung thực và cao thượng.

Điều 8:  Việt võ đạo sinh kiện toàn một ý chí đanh thép, nỗ lực tự thân cầu tiến.

Điều 9: Việt võ đạo sinh sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động.

Điều 10: Việt võ đạo sinh tự tín, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn luôn tự kiểm để tiến bộ.

Võ phục Vovinam

Từ năm 1938 đến năm 1964, Vovinam không có đồng phục chính thức. Sau khi dỡ bỏ lệnh cấm võ thuật ở Việt Nam năm 1963, liên đoàn Vovinam Việt Nam  đã thống nhất võ phục cho bộ môn này.

Võ phục

Từ năm 1938 đến năm 1964, Vovinam không có đồng phục chính thức. Sau đó, Hội đồng Vovinam đầu tiên được tập hợp vào năm 1964 đã hệ thống hóa Vovinam. Từ đó môn võ này được thiết lập hệ thống cấp bậc, đồng phục và hệ thống hóa giáo trình huấn luyện theo cấp bậc.

Màu xanh lam được sử dụng làm màu chính thức cho đồng phục Vovinam. Vào năm 1990, các võ sư Vovinam trên thế giới đã họp mặt tại Đại hội Vovinam-Việt Võ Đạo Quốc tế ở California. Mục tiêu đại hội là tạo ra một tổ chức có cấu trúc cho Vovinam Việt Võ Đạo quốc tế. Một trong những quyết định là võ phục Vovinam Việt Võ Đạo sẽ có màu xanh lam trên toàn thế giới.

Màu sắc đai thể hiện sự phân cấp

Tự vệ nhập môn: Có màu nhạt hơn so với đồng phục, là màu tượng trưng cho hy vọng của tuổi trẻ. Nó dành cho người nhập môn quyền Vovinam và được gọi là võ sinh.

Lam đai: Đai màu xanh có vạch vàng, chia làm 3 cấp. Mỗi cấp độ yêu cầu trung bình sáu tháng và được xác định bằng một vạch. Người tập chính thức được gọi là môn sinh

Chuẩn hoàng đai: Đai vàng viền xanh, dành cho các môn sinh trung đẳng dưới 12 tuổi.

Đai vàng, gạch đỏ và có 4 cấp, mỗi cấp được xác định bằng một sọc đỏ. Thời gian luyện tập cho Hoàng đai và Hoàng đai nhất là 2 năm. Thời gian cho Hoàng đai nhị là 3 năm và Hoàng đai tam là 4 năm.

Chuẩn Hồng đai: Đai đỏ viền vàng, với thời gian tập luyện khoảng 5 năm và trình tiểu luận võ học khi thi thăng cấp.

Bạch đai: Chỉ có một đai trắng trong Vovinam và nó được dành riêng cho Chưởng môn. Chiếc đai trắng là biểu tượng cao nhất thể hiện sự xuất sắc của Chưởng môn Vovinam Việt Võ Đạo.

Bài quyền

Hệ thống các bài quyền cơ bản gồm 16 bài dành cho người mới bắt đầu:

Khởi môn quyền

Nhập môn quyền

Thập tự quyền

Long hổ quyền

Tứ trụ quyền

Ngũ môn quyền

Song dao pháp

Viên phương quyền

Tinh hoa lưỡng nghi kiếm pháp

Thập thế bát thức quyền

Võ đạo quyền

Tứ tượng côn quyền

Xà quyền

Ngọc trản quyền

Nhật nguyệt đại đao

Thái cực đơn đao

Vovinam là một môn võ rất đặc biệt. Môn võ này không chỉ tiếp thu xu hướng mới mà còn giữ được bản sắc cổ truyền. Hiện nay môn võ này đã và đang phát triển mạnh mẽ. Đây được xem như sự quy tụ của linh hồn võ thuật Việt Nam.

Đăng bởi: Hoàng Công Hậu

Từ khoá: Vovinam – môn võ truyền thống đáng tự hào của người Việt

Niềm Tự Hào Của Người Pháp

Được xây dựng năm 1889, để phục vụ triển lãm quốc tế, tháp Eiffel là kỳ đài đã gây ra nhiều tranh luận nhất ở Paris. Không một người dân Paris nào sống vào cuối thế kỷ XIX lại có thể thờ ơ với sự xuất hiện của tháp Eiffel.

Tháp Eiffel – biểu tượng của nước Pháp.

Năm 1889, nước Pháp dự định tổ chức triển lãm để kỷ niệm 100 năm Cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1889), qua đó muốn tự khẳng định mình là một cường quốc công nghiệp đồng thời thể hiện tính táo bạo của người Pháp dám khởi đầu một cuộc cách mạng mới trong lịch sử ngành kiến trúc Pháp với việc sử dụng các vật liệu xây dựng sắt, thép, gang… Làm như vậy nước Pháp là người bắt đầu một kỷ nguyên công nghiệp với nền văn minh duy vật lấy máy móc, sắt thép làm biểu tượng..

Thực hiện ý tưởng trên, nước Pháp cho phép xây dựng một tháp bằng sắt, tháp cao 300m ở Quảng trường Tháng Ba (Champ de Mars) bên bờ sông Seine. Trong số 700 đề án thiết kế được gửi đến người ta chỉ giữ lại 3 đề án để xem xét. Cuối cùng đề án của Gustave Eiffel 36 tuổi, kỹ sư, nhà thầu khoán và nhà doanh nghiệp tài ba đã được chấp thuận. Ông đã mua lại và sửa đổi, hiệu chỉnh lại phác thảo của hai kỹ sư Kơslanh và Nughiê là nhân viên trong hãng của ông. Cả cơ nghiệp của cải của mình Eiffel dồn hết vào việc xây dựng một công trình đồ sộ đầy khó khăn, thêm nữa còn vấp phải sự không đồng tình của dư luận. Ý tưởng của Eiffel muốn dựng lên một tháp cao hơn 300 mét bằng sắt thép đã gây tranh luận gay gắt giữa những người muốn duy trì truyền thống và những người có xu hướng tân thời. Trong giới nghệ thuật và văn học, đa số giận dữ vì họ e rằng công trình đồ sọ sắt thép này sẽ là một vết đen trên bầu trời Paris. Trong khi đó thì Eiffel thốt lên hào hứng: Nước Pháp là quốc gia duy nhất có cột cờ cao hơn 300m. Thật vậy, vào thời kỳ đó, tượng đài cao nhất ở Washington cũng còn thấp hơn tháp Eiffel đến 125m.

Tháp Eiffel được xây dựng trong vòng 25 tháng. Rất nhiều người Paris đến xem xây dựng công trình kỳ quái này, và luôn luôn nghi ngại rằng có một ngày nào đó tháp này có thể đổ xuống đầu họ. Từ năm 1887 đến năm 1889 đã có 300 công nhân giỏi leo trèo lắp ráp 1 triệu rưởi đinh rivê. Đáy tháp chiếm một diện tích 129m. Với chiều cao 300 mét, Tháp được chia thành ba tầng: Từ đỉnh tháp tầm nhìn xa đến 67km. Cứ bảy năm lại phải dùng đến 50 tấn sơn và 40 nghìn giờ lao động để sơn lại tháp.

Tháp Eiffel được xây dựng trong vòng 25 tháng.

Khi khởi công xây dựng tháp Eiffel, người ta chỉ cho phép tháp tồn tại trong 20 năm. Năm 1887, nhiều nghệ sĩ và nhà văn đã thảo bản kiến nghị “Phản đối ba trăm”nhằm ngăn chặn việc xây dựng tháp vì nó sẽ làm mất danh giá Paris. Năm 1910, thời cuộc hoàn toàn thay đổi: tháp Eiffel trở thành nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ, nghệ sĩ. Nhà văn Cocteau đã sáng tác vở kịch lấy tên là “Các cặp tân hôn tháp Eiffel”. Apollinaire lấy tháp làm biểu tượng cho nhiều bài thơ. Pissarro; Dufy; Utrillo và bao nhiêu họa sĩ khác cũng thường vẽ tháp trên nền trời Paris… Bên cạnh đó kỹ thuật hiện đại tiến triển nhanh và ngay từ năm 1904 người ta đã đặt lên đỉnh tháp một hệ thống ăng ten. Cuối cùng đến năm 1910, người ta quyết định rằng tháp Eiffel tồn tại vĩnh viễn: Tháp phục vụ cho dịch vụ giờ chuẩn quốc tế, với chiều cao của nó, tháp cso thể sử dụng cho việc truyền thông bằng điện thoại vô tuyến vượt đại châu. Năm 1918, Đài phát thanh sử dụng tháp để phát sóng và đến năm 1957, Đài truyền hình đã dựng ăngten lên đỉnh tháp. Sau đó, một phòng thí nghiệm về khí tượng và hàng không cũng đã sử dụng tầng cao nhất của tháp.

Edouard (Eđuác VII) hồi đó là Hoàng tử xứ Galles (Galơ) cùng với gia đình là những người đầu tiên lên đỉnh tháp ngày 10 tháng 6 năm 1889. Người ta có thể lên bằng thang máy hoặc cầu thang (cầu thang chỉ lên được đến tầng 1 và tầng 2), công chúng có thể lên dạo ngắm và tham quan trên sân thượng của cả ba tầng: Ở tầng một qua thiết bị nghe nhìn du khách sẽ được nghe giới thiệu về lịch sử của tháp, ở tầng hai có nhà hàng biểu diễn phục vụ ăn uống vào buổi tối; tầng ba được che kính, du khách có thể ngắm nhìn phong cảnh mọi phía và xem hệ thống cầu thang máy phía cột cờ phía Tây. Ở tầng ba có cửa hàng Jules Verne (Giuylơ Vécnơ) nổi tiếng nhất của tháp, đặc biệt ở chỗ dùng khăn ăn màu xám, đĩa đen, cốc đen chân, hoa hồng đen để trên bàn.

Tháp Eiffel được chia làm ba tầng.

Để ngắm nhìn toàn cảnh Paris, khách tham quan nên chọn ngày nắng đẹp, không nên lên tháp quá sớm vì buổi sáng ở Paris thường có sương mù. Buổi chiều lúc Mặt trời lặn, hoặc ban đêm lên tháp khách tham quan sẽ thấy một cảnh tượng tuyệt vời. Từ năm 1985, tháp được lắp thêm một hệ thống chiếu sáng làm nổi bật vẻ đẹp và những đường nét kiến trúc phức tạp của tháp.

Tháp Eiffel là biểu tượng của nước Pháp và Paris. Ngoài ý nghĩa cách mạng khoa học, kỹ thuật. Tháp Eiffel còn là biểu tượng cách mạng về phương diện chính trị, là niềm tự hào của người dân Pháp và Paris.

Đăng bởi: Đông Trần

Từ khoá: Tháp Eiffel – Niềm tự hào của người Pháp

Những Món Ăn Truyền Thống Trong Mâm Cơm Ngày Tết Cổ Truyền Việt Nam

Người Việt Nam từ xưa đến nay rất coi trọng hình thức của mâm cơm ngày Tết. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, mâm cơm ngày tết của người Miền Bắc vẫn giữ được những nét văn hóa ẩm thực cổ truyền Việt Nam. Nhờ đó,

những món ăn truyền thống trong mâm cơm ngày Tết Việt Nam

 không còn quá xa lạ với mỗi chúng ta.

Những món ăn truyền thống

Bánh Chưng – Món ăn không thể thiếu trong mâm cơm ngày Tết

Chắc hẳn, mỗi chúng ta không ai không biết đến sự tích bánh chưng, bánh giầy. Theo đó, bánh chưng đã có trong mâm cỗ ngày Tết của người dân Việt Nam kể từ thời Hùng Vương thứ 6.

Cả nhà cùng nhau gói bánh chưng (Ảnh: Internet).

Sự kết hợp hoàn hảo giữa gạo nếp, hồ tiêu thơm thơm cay nhẹ, thịt mỡ béo ngậy và một chút hành, tất cả quyện vào nhau tạo nên hương vị đặc trưng khó lẫn của không khí Tết. Hình ảnh cả nhà quây quần bên nhau cùng gói bánh và trông nồi bánh chưng ngày Tết từ lâu đã đi vào tiềm thức của người dân Việt. Những hình ảnh này cũng đã làm tốn khá nhiều giấy mực của các nhà thơ.

Bánh Tét

Bánh tét miền Nam (Ảnh: Internet).

Bánh Tét là món ăn đặc trưng trong dịp Tết của người dân miền Nam. Nguyên liệu làm bánh tét cũng không khác so với bánh chưng là mấy, có chăng chỉ khác ở kiểu cách gói bánh của 2 miền. Một điều thú vị nữa chính là bánh tét phải “có đôi có cặp” với nhau chứ không riêng lẻ như bánh chưng miền Bắc.

Người miền Nam sử dụng lá chuối để gói đòn bánh tét chứ không sử dụng lá dong như bánh chưng miền Bắc. Hình dạng bánh tét tương tự như cây giò lụa vậy.

Xôi gấc

Người Việt Nam xưa thường quan niệm rằng màu đỏ chính là biểu trưng cho sự may mắn của sự hạnh phúc ngập tràn. Do đó, trong những mâm cơm dịp lễ, giỗ chạp, ngày rằm hay cỗ cưới…người Việt đều làm món xôi gấc.

Xôi gấc (Ảnh: Internet).

Xôi gấc được làm từ gạo nếp mùa thơm ngon, trộn cùng ruột gấc tươi rồi hấp chín. Xôi gấc có màu đỏ vị dẻo thơm từ gạo nếp, béo ngậy từ gấc và nước cốt dừa kết hợp cùng vị ngọt thanh của đường sẽ dễ dàng đánh gục mọi tâm hồn ăn uống.

Dưa hành

Nhắc đến những món ăn truyền thống trong mâm cơm ngày Tết Việt Nam không thể bỏ qua món dưa hành muối chua. Chẳng phải món sơn hào hải vị, dưa hành đơn giản chỉ là một món ăn mang đậm hương vị dân dã của người miền Bắc.

Dưa hành (Ảnh: Internet).

Với hương vị chua chua và cay nhẹ, dưa hành trứ danh là món ăn đưa cơm nhất trong dịp Tết cổ truyền giữa những mâm cơm đầy rượu và thịt. Dù cuộc sống có đổi thay và hiện đại cách mấy thì chiếc bánh chưng và bát dưa hành là những món không thể thiếu trong mâm cơm ngày Tết của người Việt Nam.

Thịt gà

Thịt gà luộc (Ảnh: Internet)

Thịt gà là món ăn đặc trưng trong mâm cỗ của người Việt. Không chỉ riêng dịp Tết, trong các dịp cưới hỏi, giỗ chạp, tân gia, mừng thọ đều không thể thiếu món ăn này. Miếng thịt gà ngọt ngọt, dai dai chấm cùng muối và lá chanh thái mỏng làm nên hương vị khó quên của mâm cơm đãi khách đến chơi nhà.

Giò chả

Giò heo (Ảnh: Internet).

Đĩa giò thường được đặt ở vị trí trung tâm của mâm cơm ngày Tết với ngụ ý “trong ấm ngoài êm, phúc lộc đầy nhà”. Do đó, đây là món ăn không thể thiếu trong dịp tết cổ Truyền Việt Nam. Giò được làm từ thịt heo xay nhuyễn cùng vài quả hồ tiêu rồi gói trong lá chuối xanh và luộc chín tạo nên hương thơm nức mũi. Những miếng giò ngày Tết không chỉ được sử dụng trong mâm cơm đãi khách, đây còn là món quà dân dã để dành tặng cho những người thân trong gia đình.

Myanmar – Đất Nước Của Truyền Thống Và Hiếu Khách

Sau 2 giờ bay từ TPHCM, chúng tôi đến Yangon – thành phố lớn nhất của đất nước Myanmar này chào đón bằng cơn mưa rào vào một ngày tháng 10 mát mẻ. Thủ tục nhập cảnh được làm nhanh chóng bởi anh nhân viên hải quan tuổi trung niên vừa làm việc vừa nhai trầu trong sự ngạc nhiên đầy thú vị của tôi.

Một bức tranh tường lớn trưng bày ở Sân bay Yangon

Tháng 10 đang là mùa mưa nên thời tiết mát mẻ thật dễ chịu, khác với những gì bạn tôi kể khi cô ấy du lịch vào mùa hè trong cái nắng gay gắt như đổ lửa. Xe đón chúng tôi từ sân bay về trung tâm thành phố. Yangon lướt qua khung cảnh ven đường thật ấn tượng với những hàng cây xanh, những ngôi chùa cổ và đường phố đầy xe hơi. Anh Coco, hướng dẫn viên của đoàn nói rằng những năm gần đây số lượng xe hơi tại Yangon tăng nhanh chóng, là nguyên nhân gây ra tình trạng kẹt xe thường xuyên vào giờ cao điểm. Tuy vậy, không có nhiều cảnh sát giao thông trên đường và tài xế không bóp còi nhiều mà chầm chậm di chuyển.

Chùa Shwedagon (Chùa Vàng) ở Yangon lúc bình minh

Chùa Shwedagon (Chùa vàng) lúc hoàng hôn

Đất nước đậm bản sắc truyền thống

Myanmar được biết đến là đất nước theo tín ngưỡng Phật giáo, đất nước của những ngôi chùa, nơi văn hóa truyền thống được thể hiện một cách rõ nét trong đời sống hàng ngày. Đàn ông vẫn còn ăn trầu và mặc Longchy, một loại váy dài màu tối trong khi phụ nữ mặc váy truyền thống được gọi là Thummy với màu sắc nổi bật. Anh hướng dẫn viên của đoàn chúng tôi còn biểu diễn nhiều cách mặc Longchy trong những tình huống công việc khác nhau, tậm chí là ngay cả khi đá bóng

Người đàn ông mặc Longchy

Từ làng quê đến thành phố, tôi ấn tượng với cả trẻ con và phụ nữ ở mọi lứa tuổi khác nhau – khi ra đường họ thoa lên mặt bột Thanakha được lấy từ cây Thanakha có tác dụng chống nắng và làm cho da sáng và mịn màng như một loại mỹ phẩm thiên nhiên sử dụng hàng ngày. Những đứa trẻ thoa bột với hình tròn ở hai má và trán thật dễ thương trong khi phụ nữ là những hình vuông.

Trẻ em với khuôn mặt thoa bột Thanakha

Tôi dạo bộ trên những con đường ở trung tâm Yangon vào sáng sớm để xem cuộc sống hang ngày của người địa phương. Thành phố thức dậy thật yên bình, tiếng chuông chùa ngân trong không gian, những chú tiểu và thầy tu đi khất thực trên đường. Tôi đến viếng chùa Shwedagon, được biết đến với tên gọi Chùa Vàng, ngôi chùa trở thành biểu tượng về vẻ đẹp truyền thống của đấy nước Myanmar. Chùa có lịch sử hơn 2500 năm và nổi tiếng bởi vẻ đẹp dát vàng rực rỡ. Khi tôi ở Yangon, tôi đã dành thời gian viếng thăm nơi này để chiêm ngưởng hết kỳ quan này cả lúc bình minh và hoàng hôn. Kiến trúc Chùa Vàng vô cùng độc đáo, với hàng trăm tượng Phật được điêu khắc công phu. Mỗi lần đến tôi đều đi một vòng quanh chùa, ngồi cùng những người địa phương cầu nguyện trong tiếng đọc kinh của các vị sự thầy. Đạo Phật thấm đẫm trong đời sống hàng ngày của người dân khi họ thường dành thời gian thức dậy sớm đến chùa cầu nguyện trước khi đi làm mỗi ngày.

Tác giả viếng thăm Chùa Vàng

Anh Lê, một hướng dẫn viên người Việt bảo rằng gần 3 năm anh ấy làm hướng dẫn tour ở Myanmar, điều tuyệt vời nhất là không một du khách nào phản ánh họ bị mất bất cứ thứ gì. Thậm chí anh ấy còn cho biết một lần nhóm khách của anh ấy bỏ quan ví, trong đó có passport và 800 đô la ở một cửa hang trong chợ Bogjoke ở Yangon. Rồi thì người chủ cửa hàng đã mang trả lại.

Dịch vụ với sự chân thành và hiếu khách

Myanmar được biết đến là đất nước của những ngôi chùa, của những rừng gỗ Teak, của truyền thống đậm bản sắc và của những con người chân thật. So với các nước Đông Nam Á khác, Myanmar là một thị trường du lịch mới. Vì vậy, cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch còn hạn chế. Tuy nhiên, đó là một điểm đến tuyệt vời, nơi du khách có thể khám phá một phần khác của thế giới với vẻ đẹp hoang sơ, thuần khiết của thiên nhiên, với những di sản văn hóa được bảo tồn nguyên vẹn và sự chân thật đặc trưng của người dân bản địa.

Vẻ đẹp của mái chùa cổ kính

Khôi Nguyên, một hướng dẫn viên trẻ tuổi đã đi hơn 30 nước trên thế giới kể rằng bên cạnh những di sản phật giáo, anh có ấn tượng sâu sắc với người dân địa phương. “Họ làm du lịch từ trái tim, với sự chân thật, chân thành và hiếu khách, đó cũng chính là những di sản của Myanmar”, anh chia sẻ từ trải nghiệm thực tế của mình, “Mọi thứ của thế giới hiện đại dường như chưa tác động nhiều đến xứ sở này”.

Cầu nguyện vào buổi sáng

Nguyên kể trải nghiệm khó quên của anh khi anh dẫn đoàn du khách đi tour xe đạp  đến Mandalay, thành phố lớn thứ hai của Myanmar, cách Yangon 700km. Nhóm của anh không đặt khách sạn trước. Đoàn đến nơi khi trời tối và thật sự không tìm thấy khách sạn để ở. Rồi thì, một anh tài xế taxi chỉ tình cờ gặp tình nguyện giúp đỡ cả nhóm. Anh ấy gọi đến nhiều khách sạn quanh thị trấn nhưng không thể tìm thấy phòng. Cuối cùng, anh ấy tìm được nhà của một người địa phương đồng ý cho thuê phòng với giá phải chăng, chỉ 30 đô la một đêm.

Chùa Golden Rock Pagoda tọa lạc trên đình núi ở Kyaikhtiyo

Trong suốt chuyến đi 4 ngày ở Myanmar, chúng tôi có dịp tham quan rát nhiều ngôi chùa nổi tiếng, gồ có cả chùa Shwetha Lyaung Buddha (Chùa Phật Nằm) ở Bago và Chùa Golden Rock (chùa Đá Vàng) ở trên đỉnh núi ở Kyaikhtiyo, nơi chúng tôi đi bằng nhiều phương tiện mới đến được trong một buổi chiều mưa và sương mù giăng khắp nơi làm không khí nơi này thật huyền bí và linh thiêng. Buổi sáng chúng tôi còn được khám phá đời sống hàng ngày của các dân tộc bản địa nơi đây thật độc đáo.

Những chú tiểu đi khất thực vào buổi sáng ở gần chùa Golden Rock Pagoda

Một cử chỉ của người tài phụ trong suốt hành trình của chúng tôi làm tôi nhớ mãi. Anh ấy luôn mỉm cười với khuôn mặt thoa bột Thanakha và mỗi khi đoàn dừng lại ở một điểm tham quan hay nhà hàng, anh ấy đứng ở cửa xe giúp khách lên xuống an toàn, che dù cho khách khi trời mưa hoặc nắng và rồi đưa khắn ướt cho từng người để lau chân của họ sau khi vào chùa tham quan phải đi bộ bằng chân trần. Anh phụ xe, anh Coco hướng dẫn viên đoàn chúng tôi và còn nhiều người khác tôi gặp ở Myanmar thật sự là những người làm du lịch tuyệt vời, góp phần làm nên một chuyến đi đáng nhớ cho du khách.

Bài và ảnh: Thanh Van

Đăng bởi: †ö Kåï

Từ khoá: Myanmar – đất nước của truyền thống và hiếu khách

Bánh Cật Mật Phú Quốc Truyền Thống Đặc Biệt Và Kỳ Lạ Của Người Dân Biển Đảo

1. Nguyên Liệu Làm Món Bánh Cật Mật Phú Quốc 1.1. Lá cây cật mật

Bạn có tò mò tại sao loại bánh này lại có cái tên kì lạ như vậy không? Đó là tên của một loài cây tên là cật mật. Ở miền Nam làm bánh tét người ta thường gói bằng lá chuối hay lá dong xanh. Nhưng ở đây họ dùng lá cật mật gói bánh, tạo nên một hương vị bánh cật mật Phú Quốc có một không hai.

Mật cật là loại cây có lá xòe rộng như lá cọ, mọc đầy trên dãy núi Hàm Ninh. Người ta thường dùng lá mật cật để chằm nón lá. Nhưng ở Phú Quốc, lá chuối đâu phải hiếm nhưng chẳng biết sao họ lại dùng loại lá này gói bánh tét. Trước tiên người ta phơi lá mật cật hơi héo, rửa và lau lá bằng dầu cho mềm thêm. Lá xanh của nó giòn chứ không dai như lá dong.

Cây cật mật Phú Quốc

1.2. Nhân bánh

Cũng bằng gạo nếp, nhân đậu xanh, thịt heo nhưng khi được gói bằng thứ lá đặc biệt này bánh tét cũng trở nên đặc biệt hơn. Bánh được trộn cùng gạo có nước cốt lá ngót, cốt lá dứa thơm. Bánh không dùng nước dừa như một số loại bánh tét phổ biến của miền Tây nói chung nên để được lâu hơn nhưng vẫn ngậy béo và thơm ngon một cách đặc biệt. Nếp gói bánh xanh ngọc bích và mùi thơm hấp dẫn. Đậu xanh cà nấu nhừ cùng dây thịt mỡ làm nhân. Và với kinh nghiệm lâu năm cùng với sự khéo léo trong cách gói bánh bằng lá mật cật đã tạo nên một nét riêng độc đáo cho ẩm thực Phú Quốc.

2. Cách Gói Bánh Cật Mật

Gói đòn bánh tét mật cật là việc làm công phu vì lá mật cật hẹp, không to như lá chuối nên phải thật khéo léo. Và càng phải cẩn thận vì bánh được cột bằng gân lá, chẳng thể nào mềm như lạt tre. Bánh ngon còn nhờ kỹ thuật buộc dây. Buộc chặt quá thì bánh chín không đều, lỏng quá thì bánh nong nước, nhão. Khó hơn là đòn bánh dài khoảng 30cm này được gói theo hình tam giác. Muốn có được một đòn bánh thực sự hoàn thiện cũng đòi hỏi những kỹ năng nhất định. Nguyên liệu làm bánh tét mật cật Phú Quốc cũng như nhiều loại bánh tét khác. Có gạo nếp loại ngon, đậu xanh thật bở cùng thịt mỡ… Nhưng độc đáo ở chỗ, trộn cùng gạo có nước cốt lá ngót, cốt lá dứa thơm. Đặc biệt không dùng nước dừa như một số loại bánh tét phổ biến của miền Tây nói chung. Nhưng vẫn ngậy béo và thơm ngon một cách đặc biệt.

Cách gói bánh cật mật

3. Hương Vị Bánh Cật Mật Phú Quốc

Điểm độc đáo của nhân bánh là gạo nếp được trộn cùng cốt lá ngót, lá dứa. Không phải nước dừa như các loại bánh tét miền Tây. Bánh khi chín màu xanh ngọc rất đẹp mắt, nhân đậu ăn bùi, béo và thơm ngon lạ kì. Bánh Tét mật cật sau khi chín vừa dẻo chất nếp, vừa ngọt bùi hương đậu xanh, vừa thơm béo thịt mỡ. Món quà quê đậm chất Phú Quốc này đã thể hiện được cái chất phác, thuần túy và nghệ thuật làm bánh đầy công phu, khéo léo  của người dân trên đảo. Không những thơm ngon mà bánh cật mật còn có tính giải nhiệt, ngừa và trị được mụn nhọt nhờ nước cốt lá bồ ngót.

Cua Hoàng Đế Phú Quốc – Món Ăn Vương Giả Dành Cho Dân Sành Ăn

Đăng bởi: Trần Quốc Toản

Từ khoá: Bánh Cật Mật Phú Quốc Truyền Thống Đặc Biệt Và Kỳ Lạ Của Người Dân Biển Đảo

✅ Nhạc Cụ Truyền Thống Việt Nam ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️

5/5 – (3 bình chọn)

Các loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam

Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam có nhiều loại khác nhau. Những nhạc cụ đó dùng để đệm cho hát, múa, độc tấu, hào tấu… Các nhạc cụ này còn dùng trong lễ hội, trong sinh hoạt văn hóa của mỗi dân tộc.

Nhạc cụ Việt Nam

Sáo trúc

Sáo trúc xuất hiện nhiều trong văn thơ Việt Nam. Từ xưa đến nay đã gắn bó với đời sống tinh thần, văn hóa của người Việt. Vật liệu làm sáo trúc thường là tre hoặc trúc. Đường kính khoảng 1,5cm và chiều dài 30cm.

Sáo trúc diễn đạt nhiều cung bậc cảm xúc, âm vực rộng trên hai quãng tám. Âm sắc của nó trong sáng, vui tươi gợi mở khung cảnh đồng quê yên bình của nước ta.

Sáo trúc có thể độc tấu hoặc hòa tấu cùng với dàn nhạc giao hưởng, cổ truyền, thính phòng, nhạc nhẹ.

Biên khánh

Biên khánh là một nhạc cụ gõ Trung Hoa cổ xưa bao gồm một bộ chuông chùm bằng đá nhẵn nhụi hình chữ L còn được hiểu như là khánh, chơi một cách du dương. Bộ nhạc khí này được du nhập vào cung đình Việt Nam từ thời phong kiến.

Đàn bầu

Đàn bầu, tên chữ là độc huyền cầm, là loại đàn một dây của người Việt, gảy bằng que hoặc miếng gảy. Đàn có hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.

Còn được gọi là Độc huyền cầm. Đây là một trong các loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam được gảy bằng que hoặc miếng gảy. Có hai loại đàn bầu là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.

Đàn thân tre: Loại đàn được sử dụng trong hát Xẩm. Thân đàn là một đoạn tre hoặc bương dài 120cm, đường kính 12cm. Mặt đàn được lóc đi phần cật trên đoạn tre, bương.

Đàn hộp gỗ: Loại đàn được cải tiến về sau, dùng cho nghệ sĩ chuyên nghiệp. Loại đàn này có nhiều kích thước, hình dáng khác nhau.

Dây đàn bầu chạy suốt thân đàn. Xưa dây đàn được làm bằng tơ tằm se thành sợi, sau thay bằng dây sắt.

Đàn bầu được làm bằng một nửa quả bầu nậm. Bầu đàn lồng vào giữa vòi đàn nơi buộc dây đàn. Bầu đàn sẽ giúp âm lượng của đàn tăng thêm.

Âm sắc của loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam này sâu lắng, ngọt ngào, quyến rũ, dễ đi vào lòng người.

Đàn đá

Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam và là một trong những loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau

Đàn đá thuộc bộ gõ, đâu là loại nhạc cụ cổ nhất của dân tộc Việt Nam. Mỗi thanh đá có hình dáng, kích thước khác nhau và được chế tác bằng phương pháp gõ thô sơ.

Đá nhỏ, mỏng sẽ cho âm cao. Ngược lại đá to, dày sẽ cho âm trầm. Vật liệu được sử dụng làm đàn đá là các loại đá ở vùng Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

Tiếng đàn âm vang nghe như lời kể, niềm an ủi những vui buồn trong cuộc sống.

Đàn cầm

Đàn cầm hay cổ cầm là một loại nhạc cụ xuất xứ từ Trung Quốc từ thời cổ đại, không rõ năm nào được đưa vào Việt Nam. Nhưng căn cứ ghi chép trong

Cuốn An Nam chí lược của dưới thời nhà Trần đàn cầm hay cổ cầm được đưa vào dàn tiểu nhạc. Vào thời Hậu Lê, khi triều đình áp dụng

Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc trong thời gian ngắn với biên chế như sau: Đường thượng chi nhạc gồm: trống treo lớn, biện khánh, biên chung,

Đàn cầm, đàn sắt, sinh, tiêu, quản, thược, chúc, ngữ, huân, trì; Đường hạ chi nhạc gồm có phương hướng treo, không hầu, tỳ bà, quản cổ, quản địch. Đàn cầm

Tiếp tục được sử dụng trong các lễ nhạc thời nhà Nguyễn. Hiện nay đàn cầm không được thịnh hành như đàn tranh, đàn nhị và tiêu sáo.

Đàn tỳ bà

Tỳ bà đã du nhập từ Trung Quốc sang nước Việt từ rất sớm. Bằng chứng là hình chạm các nhạc công trên tảng đá vuông dùng làm chân cột chùa Phật Tích, Bắc Ninh,

Có chạm hình tỳ bà giữa hai nhạc công dùng ống sênh, và ống tiêu thổi dọc. Trong khi đàn tranh có vóc dáng mà không thấy những con nhạn căng dây,

Đứng giữa hai nhạc công thổi ống sênh và ống sáo ngang. Trong cuốn An Nam chí lược của Lê Tắc, đàn tỳ bà thuộc dàn tiểu nhạc.

Đàn gáo

Còn được gọi là đàn hồ, là loại nhạc khí cung vĩ phát triển từ đàn nhị. Đàn gáo to, dài hơn đàn nhị nhưng lại khá giống đàn hồ cầm của Trung Quốc về các tính năng.

GS Tô Vũ cho biết: “Gáo” và “Cò” là hai sáng tạo ngôn ngữ có tính cách dân gian ở Nam Bộ, chỉ đàn Nhị và Hồ ở miền Bắc và Trung. Đàn gáo ở miền Nam thường được làm bằng nửa gáo dừa to, bịt mặt gỗ để làm bầu đàn nên được gọi là đàn gáo.

Đàn gáo có âm trầm hơn đàn nhị nhưng lại đầy đặn, rộng rãi và chắc chắn hơn. Âm sắc của đàn gáo đẹp, ấm nhưng hơi trầm đem lại cảm xúc sâu lắng.

Đàn gáo thường được sử dụng trong dàn nhã nhạc, sân khấu chèo, tuồng, phường bát âm. Đây cũng là nhạc cụ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hát Xẩm, đệm cho giọng trung, trầm.

Điểm khác biệt nhất so với đàn nhị là không xuất hiện trong dàn nhạc cung đùng, dàn nhạc tài tử miền nam. Tuy nhiên, đàn gáo và đàn nhị luôn song hành ở những dàn nhạc sân khấu cải lương, cổ truyền và dàn nhạc lễ.

Đàn sến

Đàn sến là một trong những loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam, là nhạc khí dây gảy loại có cần đàn. Loại đàn này được du nhập vào nước ta và trở thành nhạc cụ dân tộc Việt, được sử dụng phổ biến nhất là ở miền Nam.

Âm sắc đàn sến rất trong trẻo, tưới sáng, gần giống đàn nguyệt nhưng độ ngân vang không bằng. Đàn sến được dùng trong những dàn nhạc cải lương, sân khấu tuồng.

Đàn đáy

Được chế tác vào thời Lê khoảng thế kỷ XV-XVIII, là cây đàn dài nhất do người Việt sáng tạo ra. Xưa đàn đáy được gọi là Vô để cầm tức đàn không đáy, cũng có người gọi là Đới cầm.

Đàn đáy được sử dụng trong hát ca trù, hát ả đào cùng với phách và trống đế.

Âm thanh của đàn đáy nỉ non, buồn man mác. Loại đàn này được gắn với 7 cung chia đều nên khi hát xuống thấp hoặc lên cao thì người nghệ sĩ không cần vặn dây lại mà chỉ cần đổi thế bấm nhanh.

Đàn đáy có thể tạo ra các ngón chùn khi bấm tạo thành nét độc đáo của loại đàn này.

Đàn tranh

Đàn tranh có hình hộp dài, khung hình thang chiều dài từ 110 – 120cm. Đầu lớn có lỗ và con chắn để mắc dây, rộng 25 – 30cm. Đầu nhỏ gắng 16 khóa lên dây chéo qua mặt đàn rộng 15 – 20cm.

Mặt đàn được làm bằng ván gỗ ngô đồng uốn hình vòm và dày 0,05cm. Ngựa đàn (con Nhạn) nằm ở giữa để gác dây và di chuyển điều chỉnh âm thanh.

Dây đàn có các cỡ khác nhau và được làm bằng kinh loại. Móng gảy được làm bằng nhiều chất liệu như kim loại, đồi mồi, sừng.

Tiếng đàn tranh nghe trong trẻo, tươi sáng thể hiện những điệu nhạc vui tươi. Đàn tranh được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho người hát, ngâm thơ, dàn nhạc tài tử, dàn nhã nhạc, phường bát âm và những dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Đàn hồ

Đàn hồ là nhạc cụ có cung vĩ, thuộc loại trung âm. Nó là một loại đàn nhị nhưng kích thước lớn hơn, âm thanh trầm hơn đàn nhị bình thường.

Đàn hồ lớn: Đàn hồ lớn còn gọi là hồ trầm, mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Hình dạng và cấu tạo của hồ lớn giống như đàn hồ trung nhưng kích thước cao to hơn. Do đó các nghệ sĩ thường đặt đàn hồ trên giá gỗ để diễn tấu chứ không thể đặt trên người.

Đàn hồ trung: Hồ trung còn gọi là hồ đại, mới xuất hiện trong thời gian gần đây do yêu cầu của các dàn nhạc vừa trở lên.

Đàn nguyệt (đàn kìm)

Đàn nguyệt tức nguyệt cầm, trong Nam còn gọi là đàn kìm. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như Mặt Trăng nên mới có tên là “đàn nguyệt”. Theo sách xưa thì đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Sách của Phạm Đình Hổ thì ghi rằng đàn nguyệt xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 18.

Đàn nguyệt có tên gọi khác là đàn Kìm. Đây là loại nhạc cụ dân tộc được sử dụng rộng rãi trong dòng nhạc cung đình, nhạc dân gian.

Đàn nguyệt bắt đầu xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI, cho đến nay vẫn là một nhạc cụ âm nhạc quan trọng và được sử dụng chủ yếu dành cho nam giới.

Cần đàn nguyệt khá dài, phím cao nên nghệ sĩ có thể tạo ra được các âm mềm mại, nhấn nhá uyển chuyển.

Âm đàm vang, trong và biểu hiện rất phong phú, có lúc nỉ non sâu lắng, có lúc lại sôi nổi, tươi vui. Vì thế, đàn nguyệt được sử dụng trong hòa tấu nhạc lễ trang nghiêm, lễ tang hoặc hát văn, hòa tấu thính phòng. Hình thức diễn tấu cũng phong phú: Độc tấu, hòa tấu hoặc đệm cho hát.

Đàn nhị (đàn cò)

Đàn nhị (ở miền nam Việt Nam gọi là đàn cò) là nhạc cụ có cung vĩ, xuất hiện từ lâu ở Việt Nam. Ngoài người Kinh, nhiều dân tộc khác cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giáy, H’Mông…). Họ gọi đàn nhị bằng cái tên khác nhau.

Có mặt trong âm nhạc truyền thống của nước ta từ rất lâu đời, đàn nhị đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong những dàn nhạc dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay

Đàn nhị được người dân Nam bộ gọi là đàn cò vì hình dáng trông giống như con cò. Trục dây đầu quặp xuống như mỏ cò. Thân đơn như con cò. Cần đờn như cổ cò. Tiếng đờn nghe lảnh lót nhưng tiếng cò.

Đờn cò được sử dụng trong các dàn nhạc nhã nhạc, sắc mùa, cải lương, ngũ âm, bát âm, nhạc tài tử, dân ca…

Ngày nay, đàn nhị còn được khai thác dùng trong những ca khúc buồn hoặc nhạc phẩm quê hương.

Đàn tam

Đàn tam là nhạc cụ Việt Nam có 3 dây (tam là 3). Trước đây người ta thường dùng nhạc cụ này trong dàn nhạc bát âm, ngày nay phần lớn các dàn nhạc đều có đàn tam với đủ loại kích cỡ, từ nhỏ, vừa đến lớn và cả loại đàn tam âm trầm, hòa điệu với những nhạc cụ âm trầm khác trong dàn nhạc.

Đàn tam có 3 dây, mặt bầu vàng được bịt da trăn. Trước đây, đàn tam được sử dụng trong dàn nhạc bát âm. Ngày nay, đàn tam có mặt ở hầu hết các dàn nhạc với kích cỡ khác nhau.

Âm sắc của loại đàn này không như những loại đàn khảy dây khác, có màu âm vang, sáng sủa, ấm áp và rộn rã. Nhưng khi ở quãng thấp thì âm đàn tam lại hơi đục. Vì thế thường được dùng để thể hiện những giai điệu khỏe khoắn, trầm hùng.

Đàn tam thập lục

Tam thập lục là nhạc khí dây, chi gõ của âm nhạc dân gian Việt Nam. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục. Tuy nhiên ngày nay một số nghệ nhân đã cải tiến đàn này bằng cách mắc thêm nhiều dây nữa để đánh được nhiều âm hơn, kể cả những âm nửa cung.

Có 36 dây đàn nên được gọi là tam thập lục. Đây là nhạc khí dây thuộc chi gõ của nhạc cụ dân tộc Việt Nam.

Đàn tam thập lục hình thang cân, mặt đàn được làm bằng gỗ xốp, nhẹ, để mộc, nhìn hơi phồng lên ở giữa. Cần đàn và thành đàn được làm bằng gỗ cứng, trên mặt đàn và đặt so le 2 hàng ngựa. Mỗi hàng có 28 ngựa. Cần đàn bên trái có 36 móc để mắc dây và bên phải có 36 trục lên dây.

Dây đàn được làm bằng kim khí. Que đàn làm bằng 2 thanh tre mỏng và dẻo. Đầu que được quấn dạ để tiếng đàn nghe êm hơn.

Âm thanh của đàn tam thập lung thánh thót, trong sáng và rộn rã.

Đàn tam thập lục được sử dụng trong những dàn nhạc cải lương, chèo. Được dùng để độc tấu, đệm cho hát hoặc tham gia vào dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Đàn tứ

Đàn tứ là một nhạc cụ Việt Nam có âm cao, do có 4 dây nên người ta gọi là đàn tứ (tứ là bốn). Tuy nhiên đàn này còn nhiều tên gọi khác như đàn đoản (đoản là ngắn) và cần đàn ngắn hơn đàn nguyệt, đàn nhật (nhật là mặt trời) một cách để đối lại với đàn nguyệt (nguyệt là Mặt Trăng).

Kèn loa

Kèn loa là nhạc cụ thổi hơi có nhiều tên gọi khác nhau. Người ta còn gọi kèn loa là kèn già nam, kèn bát (loa kèn giống hình cái bát) hay pí lê, pí kẻo (cách gọi của người Thái). Nhạc cụ này cả người kinh và người dân tộc đều sử dụng.

Mõ được xếp là một nhạc khí tự thân vang, phổ biến ở Việt Nam. Trên thực tế mõ được sử dụng vào các môi trường khác nhau và có những chức nǎng khác nhau.

Phách

Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt Nam từ lâu đời. Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau. Trong hát xẩm phách gọi là cặp kè; trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang; trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách…

Sáo ngang

Sáo là nhạc cụ thổi hơi có từ thời kỳ cổ đại, rất nhiều nước trên thế giới sử dụng sáo với nhiều hình dáng và cấu tạo có thể khác nhau. Ở Việt Nam sáo ngang rất thông dụng và có nhiều loại.

Sinh tiền

Sinh tiền là nhạc cụ gõ độc đáo, xuất hiện ở Việt Nam ít nhất vài trăm năm nay. Tên cổ của nó là phách sâu tiền hay phách quán tiền. Ngày nay có người gọi là sênh tiền. Nhìn chung, nhạc cụ này là một loại sinh có gắn những đồng tiền vào nên gọi là sinh tiền. Con chim./.

Song lang

Song lang là một loại mõ nhỏ bằng gỗ cứng hình tròn dẹt dùng để giữ nhịp trong dàn nhạc.

Tiêu

Tiêu là nhạc cụ xuất hiện ở Việt Nam hàng ngàn năm nay. Nó là nhạc cụ thổi hơi có cấu tạo đơn giản hơn cả sáo ngang, vì chỉ có một ống nứa và một số lỗ khoét. Nếu sáo thường được thổi ngang thì tiêu lại thổi dọc.

Trống cái

Trống cái là nhạc cụ không định âm, to lớn, xuất hiện ở khắp nước Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Dù ở đồng bằng hay miền núi người ta đều nhận ra sự có mặt của trống cái.

Trống cơm

Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất hiện ở Việt Nam (đời nhà Lý). Đây là nhạc cụ gõ, định âm, còn có tên gọi khác là phạn cổ (phạn là cơm, cổ là trống). Trong các ban nhạc tuồng, chèo và ban nhạc tang lễ ngày xưa có loại trống này. Nhiều ban nhạc ngày nay cũng sử dụng trống cơm.

Trống đế

Trống đế là nhạc cụ gõ, xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời. Trong nhạc chèo người ta gọi nó là trống đế, còn trong hát ca trù nó là trống chầu. Nhìn chung nó chỉ xuất hiện trong chèo và ca trù.

Đàn T’rưng

Đàn T’Rưng là loại nhạc cụ dân tộc thuộc họ nhạc cụ tự thân vang ở Tây Nguyên. Đây là loại đàn có từ 5 – 7 ống lô ô và được cắt dài ngắn khác nhau. Đối với đàn T’Rưng chuyên nghiệp thì có từ 12 – 16 ống xếp thành hàng trên giá đàn. Các ống này được kết vào 2 sợi dây song song tạo thành câu đàn. Để chơi đàn người ta sẽ dùng 2 dùi bọc vải gõ lên trên các ống.

Đàn T’Rưng có âm vực rộng gần 3 quãng 8. Có thể thể đánh được chồng âm hoặc đồng âm nhưng 2 nốt nhạc phải cách nhau một quãng 8. Những ống nhỏ ngắn sẽ phát ra âm cao, còn các ống to, dài sẽ phát ra âm trầm.

Âm sắc của đàn T’Rưng khá độc đáo, tiếng không to, không vang xa nhưng lại khác biệt.

Đàn đoản

Còn được gọi là đàn nhật, đàn mặt trời. Đây là nhạc khí dây gảy loại có dọc, là nhạc cụ truyền thống của dân tộc Việt Nam và một vài dân tộc thiểu số ở miền Bắc. Gần giống với đàn đoản, người Lô Lô có Gièn Xìn, người H’Mông có Thà Chìn. Hộp đàn mỏng hơn và có vẽ hoa, khoét lỗ thoát âm.

Đoàn đoản được du nhập vào Việt Nam và trở thành đàn Việt Nam. Đây là loại đàn có 4 dây bằng tơ. Được xếp phím theo hệ thống 7 âm chia đều, khi đánh theo điệu thức 12 bình quân phải nhấn mới đạt được độ cao mong muốn.

Âm thanh của đàn đoản vang, khỏe và giòn, thường phù hợp với những giai điệu vui tươi, dí dỏm, hoạt bát. Đàn đoản thường được sử dụng trong những dàn nhạc bát âm, cải lương, tuồng. Hiện nay, đàn đoản còn được đưa vào dàn nhạc dân tộc tổng hợp hòa tấu.

Khèn

Khèn là nhạc cụ thuộc bộ hơi, cấu trúc phức tạp. Nó bao gồm nhiều ống trúc xếp cạnh nhau. Mỗi đầu cắm được xuyên qua bầu đàn hình bắp chuối để làm hộp cộng hưởng. Khèn là nhạc cụ quen thuộc của đồng bào dân tộc Mường, Thái, H’mông…. Đới với người Mường, khèn được sử dụng để đệm cho hát. Người H’Mông khèn lại được dùng để giao duyên trai gái.

Khèn của người Thái có 12 ống, còn của người H’Mông có 6 ống, được bó thành hai hàng và gọi là khèn bè. Âm sắc của khèn bè giòn, mảnh, mỗi ống sẽ phát ra âm sắc nhất định. Bên trong ống có lưỡi gà được làm bằng bạc hoặc đồng dát mỏng.

Khèn bè là nhạc cụ âm nhạc đa thanh, âm vực rộng khoảng 1, 5 quãng 8, âm kéo dài.

Cồng chiêng

Cồng chiêng là nhạc cụ dân tộc Việt Nam, xuất hiện từ thời văn hóa đồng thau Đông Sơn. Đây là loại nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, được đúc bằng hợp kim đồng pha chì và thiếc. Cồng là loại có núm, chiêng là loại không có núm. Cồng chiêng càng nhỏ thì tiếng càng cao, càng to thì tiếng sẽ càng trầm.

Trong âm nhạc của hầu hết các dân tộc Việt Nam, cồng chiêng là loại nhạc cụ không thể thiếu. Cồng chiêng nổi tiếng và gắn liền với Tây Nguyên. Ngày nay, âm nhạc cồng chiêng Tây nguyên mang giá trị nghệ thuật được khẳng định trong đời sống văn hóa xã hội.

Cập nhật thông tin chi tiết về Vovinam – Môn Võ Truyền Thống Đáng Tự Hào Của Người Việt trên website Rqif.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!